Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân qua thực tiễn huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ XUÂN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TAND
QUA THỰC TIỄN HUYỆN ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGUYỄN THỊ XUÂN

MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Bảng viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài 4
6. Những điểm mới và ý nghĩa của luận văn 4
7. Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 6
1.1. CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP
TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 6
1.1.1. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng 6
1.1.2. Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng 12
1.1.3. Xác định các nghĩa vụ tài sản chung, nghĩa vụ tài sản riêng của
vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân 15
1.2. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỊNH HƢỚNG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI
LY HÔN 19
1.2.1. Tôn trọng sự thoả thuận hợp lý của vợ chồng 20

TRANH CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 68 3.1.1. Vƣớng mắc về nhận thức và áp dụng pháp luật 68
3.1.2. Vấn đề định giá tài sản tranh chấp 73
3.1.3. Xác định tài sản của vợ chồng trong thực tế 77
3.1.4. Xác định những ngƣời có quyền lợi liên quan đến tài sản đang
tranh chấp 82
3.1.5. Xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ, chồng trong
thời kỳ hôn nhân 86
3.1.6. Vấn đề thủ tục tố tụng 88
3.2. NHỮNG ĐIỂM HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH
TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT 93
3.3. MỘT SỐ ĐIỂM HẠN CHẾ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TOÀ ÁN 102
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC TRANH CHẤP TÀI SẢN
GIỮA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 105
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

BẢNG VIẾT TẮT

BLDS
: Bộ luật dân sự

:
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Để xây
dựng gia đình tốt thì nền tảng hôn nhân phải bền vững, ngoài việc đƣợc hình
thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một
trong những điều kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là điều kiện vật chất, cơ
sở kinh tế cho hôn nhân tồn tại bền vững. Vì vậy, các nhà làm luật đã quan
tâm xây dựng các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những
chế định quan trọng, cơ bản nhất của pháp luật Hôn nhân và gia đình. Các quy
định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản của vợ chồng khẳng định rõ về
quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và trên cơ sở
đó xác định nguyên tắc cơ bản giải quyết các tranh chấp về tài sản phát sinh
giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, pháp luật đã bộc lộ
những điểm chƣa phù hợp dẫn đến có nhiều cách hiểu không thống nhất, gây
khó khăn cho những ngƣời thực thi pháp luật cũng nhƣ không đảm bảo quyền
lợi chính đáng của các đƣơng sự.
Thông thƣờng, một vụ án hôn nhân gia đình cần giải quyết ba mối quan
hệ đó là quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung và quan hệ về tài sản. Thực tế
đã cho thấy các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong các vụ án ly hôn
rất phức tạp, thƣờng kéo dài, mất nhiều thời gian, tiền của, công sức của các
đƣơng sự cũng nhƣ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là việc giải quyết tranh chấp về tài sản của
vợ chồng khi ly hôn chƣa đúng pháp luật, chƣa xác đáng, chƣa phù hợp với
thực tế khách quan của quan hệ sở hữu… do đó chƣa bảo vệ đƣợc quyền, lợi

Với đề tài: “Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại
Tòa án nhân dân qua thực tiễn huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam”, tác giả 3
muốn giải quyết phần nào những vƣớng mắc trên nhằm hoàn thiện pháp luật
về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế độ tài sản của vợ chồng và việc giải quyết tranh chấp về tài sản
trong các vụ án hôn nhân gia đình đã đƣợc một số nhà khoa học nghiên cứu,
đề cập đến nhƣ sách chuyên khảo “Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp
luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của TS. Nguyễn Văn Cừ; sách chuyên
khảo “Luận bàn về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng” của TS Phùng Trung Tập Đồng thời, cũng có một số luận văn cao
học đã và đang nghiên cứu về vấn đề tài sản của vợ chồng nhƣ: Nguyễn Thị
Thanh Xuân “Pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất
khi ly hôn”, Nguyễn Thị Hạnh “Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp
luật Việt Nam – Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”. Vấn đề giải quyết
tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn đã đƣợc đề cập, nghiên cứu khá
nhiều ở những mức độ khác nhau, song việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng
pháp luật giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn tại Tòa
án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thì chƣa có công trình nào và
đây là công trình đầu tiên, do đó không trùng lặp với các công trình nghiên
cứu trƣớc đây.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu các quy định của pháp luật về căn cứ
xác định tài sản của vợ chồng, nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
và cơ sở áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi
ly hôn; tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết vấn đề tài sản của
vợ chồng khi ly hôn tại địa phƣơng thông qua hoạt động xét xử của TAND

chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ 2000 qua thực tiễn xét xử tại Toà án
nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 5
- Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, đề tài còn tìm hiểu thực tiễn áp
dụng pháp luật thông qua hoạt động xét xử tại địa phƣơng, đồng thời đề xuất
một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật để giải quyết những vƣớng mắc
trong thực tiễn áp dụng pháp luật, nâng cao hiệu quả xét xử của TAND huyện
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp tài sản của
vợ chồng khi ly hôn
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp tài sản
của vợ chồng khi ly hôn tại TAND huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Những vấn đề phát sinh từ thực tiễn xét xử và một số giải
pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về tài sản
của vợ chồng khi ly hôn. 6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

1.1. CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP TÀI
SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
Chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ năm

sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ đƣợc tính từ ngày đăng ký kết hôn đến
ngày phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đƣợc tạo thành từ
các nguồn gốc sau:
- Những tài sản do vợ chồng tạo ra:
Hành vi tạo ra tài sản là một trong những chức năng chính để nuôi sống
gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sức trong việc tạo lập tài sản
để duy trì cuộc sống và đảm bảo cho gia đình tồn tại. Hành vi tạo ra tài sản là
việc vợ chồng tạo ra tài sản bằng chính sức lao động của mình dựa trên công
việc, chuyên môn của mình. Vợ chồng có thể trực tiếp tạo ra tài sản nhƣ gieo
mạ lấy thóc, nuôi cá, đóng giƣờng, tủ … hoặc thông qua các hợp đồng cụ thể
với ngƣời khác nhƣ mua nhà, xe… nhằm đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt, tiêu
dùng của gia đình.
Những tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản
chung của vợ chồng. Pháp luật nƣớc ta dƣới chế độ cũ cũng quy định những
tài sản do vợ chồng “tạo mãi” trong thời gian hôn thú sẽ thuộc tài sản chung
của vợ chồng.
- Các thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:
Thu nhập là việc nhận đƣợc tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động
nào đó. Thu nhập hợp pháp của vợ chồng là việc hƣởng thành quả lao động 8
do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh theo tính chất nghề
nghiệp, công việc, chuyên môn mà vợ chồng thực hiện. Tài sản chung từ thu
nhập hợp pháp của vợ chồng thƣờng là tiền lƣơng, tiền công lao động, tài sản
thu đƣợc qua hoạt động sản xuất nhƣ trồng trọt, chăn nuôi…, lợi nhuận thu
đƣợc thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các khoản thu nhập
hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Những thu nhập hợp

của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ chồng tự nguyện nhập vào tài sản
chung hoặc có thỏa thuận là tài sản chung của vợ chồng” [10, tr.157].
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn
Đất đai là một loại tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc
thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản đƣợc pháp
luật công nhận và bảo vệ. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đƣợc sau khi
kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Nghị định 70/CP quy định:
+ Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên
vợ hoặc chồng đƣợc Nhà nƣớc giao, kể cả giao khoán là tài sản chung của
vợ chồng. Quyền sử dụng đất này có thể là đất nông nghiệp để trồng cây
hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; đất nông nghiệp để trồng
cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở đƣợc Nhà nƣớc giao, đất
chuyên dùng.
+ Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc chỉ một
bên vợ hoặc chồng đƣợc Nhà nƣớc cho thuê là tài sản chung của vợ chồng.
+ Đối với quyền sử dụng đất do vợ chồng đƣợc chuyển đổi, chuyển nhƣợng,
thừa kế chung thì đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ.
+ Trƣờng hợp vợ chồng nhận thế chấp quyền sử dụng đất của ngƣời thứ
ba thì quyền nhận thế chấp đất cũng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
Nhƣ vậy, quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đƣợc sau khi kết hôn do 10
đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất, đƣợc chuyển đổi, chuyển nhƣợng hoặc
thừa kế chung từ ngƣời khác thì đó là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có đƣợc trƣớc khi kết hôn, đƣợc
thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
- Những tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; những tài
sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng.
Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững thì việc phát triển kinh

Việc nhập chiếc xe máy là tài sản riêng của anh K vào tài sản chung đƣợc coi
là sự mặc nhiên vì số tiền bán đƣợc chiếc xe đã dùng vào mục đích chung của
gia đình. Tuy nhiên, nếu anh K muốn nhập tài sản riêng là mảnh đất do cha
mẹ anh cho riêng hoặc mua trƣớc khi kết hôn vào tài sản chung của vợ chồng
thì phải lập văn bản và làm các thủ tục pháp lý có liên quan. Việc anh dùng
mảnh đất này để xây ngôi nhà chung cho vợ chồng không mặc nhiên đƣợc coi
là nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Anh K muốn chứng minh tài sản
nào là tài sản riêng của mình thì phải xuất trình chứng cứ, nếu không chứng
minh đƣợc thì tùy từng trƣờng hợp, Tòa án có thể suy đoán đó là tài sản
chung của vợ chồng hoặc là tài sản riêng của anh K.
Nhƣ vậy, so với các văn bản pháp luật trƣớc đây, Luật HN&GĐ năm
2000 đã có một điểm mới là nguyên tắc suy đoán tài sản chung của vợ chồng,
một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ khối tài sản chung. Quy định tại
khoản 3 điều 27 Luật HN&GĐ chỉ thiết lập một suy đoán, không khẳng định
chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.
Nguyên tắc này đã phần nào đảm bảo đƣợc sự công bằng trên cơ sở vì lợi ích
chung của gia đình và của vợ chồng.
“Trong trƣờng hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp
luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở
hữu phải ghi tên của cả vợ chồng” (khoản 2 điều 27 Luật HN&GĐ). Ngoài ra, 12
Luật HN&GĐ còn quy định tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung
hợp nhất, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản chung
đƣợc quy định tại Điều 28 Luật HN&GĐ, Điều 217 và Điều 219 BLDS.
Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định tƣơng đối cụ thể về căn cứ xác
định tài sản chung của vợ chồng dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài
sản. Những tài sản mà vợ, chồng không chứng minh đƣợc là tài sản riêng của
mỗi bên vợ, chồng thì đƣợc xác định là tài sản chung của vợ chồng.

tài sản này không phải do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, không chịu
sự tác động bởi tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân và lợi ích chung
của gia đình. Vì vậy, vợ chồng có thể xác lập quyền sở hữu của mình đối với
những tài sản phát sinh trƣớc khi kết hôn dựa trên các căn cứ đƣợc quy định
từ Điều 233 đến Điều 247 BLDS 2005 về xác lập quyền sở hữu đối với thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp…
Quy định tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trƣớc khi kết hôn là tài sản
riêng của vợ chồng đã bảo vệ đƣợc quyền sở hữu cá nhân của vợ, chồng, là
căn cứ pháp lý bảo đảm tài sản riêng của vợ chồng khi giải quyết tranh chấp
trên thực tế; đồng thời phù hợp với quy định quyền sở hữu riêng của công dân
đƣợc Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ.
- Tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong
thời kỳ hôn nhân.
Những tài sản này không do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mà
đƣợc định đoạt bởi ý chí của chủ sở hữu. Việc pháp luật quy định những tài
sản này thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo đảm quyền tự định
đoạt của các chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về việc chuyển
dịch tài sản của mình cho mỗi bên vợ, chồng đƣợc hƣởng. Những tài sản mà
vợ, chồng đƣợc thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thƣờng
do những ngƣời thân thuộc, bạn bè của mỗi bên cho vợ, chồng đƣợc hƣởng
giá trị tài sản đó. Đó có thể là những tài sản do cha, mẹ cho riêng con trong 14
ngày cƣới, cha mẹ một bên khi chết để lại di chúc cho con mình là ngƣời vợ,
chồng đƣợc hƣởng … Những tài sản mà vợ, chồng đƣợc thừa kế riêng, tặng
cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng.
- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm đồ dùng, tư trang cá nhân
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1997 thì “đồ
dùng là vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, hoạt động hằng

của vợ chồng”. Nhƣ vậy, phần tài sản chung đã đƣợc chia riêng cho mỗi bên
vợ, chồng là tài sản riêng của ngƣời đó. Những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
phần tài sản riêng đƣợc chia là tài sản riêng của vợ, chồng. “Thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trƣờng
hợp vợ chồng có thỏa thuận khác” [29].
Nhƣ vậy, pháp luật đã quy định rõ tài sản riêng của vợ, chồng còn có
những tài sản mà vợ, chồng có đƣợc khi chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân.
1.1.3. Xác định các nghĩa vụ tài sản chung, nghĩa vụ tài sản riêng
của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
Xuất phát từ nhu cầu cuộc sống chung, bên cạnh việc tạo lập tài sản
nhằm đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt của gia đình; vợ, chồng còn phát sinh
các nghĩa vụ tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Việc xác định các nghĩa vụ tài
sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm đảm bảo quyền lợi, nghĩa
vụ của mỗi bên vợ, chồng và quyền lợi của ngƣời thứ ba tham gia giao dịch
với vợ chồng.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “nghĩa vụ là việc mà pháp luật hay đạo
đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác”. Tại Điều 280
BLDS quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ
thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, 16
thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì
lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác”.
Nghĩa vụ về tài sản là một trong những nghĩa vụ dân sự mà đối tƣợng
thực hiện nghĩa vụ là tài sản và bên có nghĩa vụ phải trả tiền hoặc giấy tờ có
giá cho bên có quyền. Xem xét về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong vụ án
ly hôn là việc xem xét về các giao dịch dân sự mà vợ chồng đã ký kết với

Giao dịch hợp pháp là những giao dịch đáp ứng đầy đủ các điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 122 BLDS. Nghĩa là
ngƣời tham gia giao dịch phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện
tham gia giao dịch, đặc biệt mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm
các điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Nhu cầu thiết yếu của gia đình là những nhu cầu có tính chất thƣờng
xuyên nhƣ: ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia
đình, việc học hành của con trẻ Ngoài ra, những nhu cầu có tính chất cấp
thời, cấp bách nhƣ việc sửa chữa nhà do bão, lũ, hỏa hoạn, chữa bệnh cho
các thành viên trong gia đình … cũng đƣợc xem là những nhu cầu thiết yếu
của gia đình.
Tuy nhiên, lợi ích của gia đình phải luôn đƣợc đặt trong lợi ích của
cộng đồng và xã hội. Điều đó có nghĩa là giao dịch của vợ, chồng đƣợc xác
định vì lợi ích chung của gia đình, trƣớc hết giao dịch đó phải đƣợc thực hiện
phù hợp với pháp luật và phù hợp với cách ứng xử giữa ngƣời với ngƣời trong
quan hệ xã hội.
Thông thƣờng, đối với những giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng hàng ngày trong gia đình, pháp luật không bắt buộc cả vợ và
chồng cùng xác lập giao dịch hoặc khi giao dịch phải hỏi ý kiến ngƣời kia.
Tuy nhiên, do mục đích giao dịch là để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của
gia đình, nghĩa là cả gia đình đều thụ hƣởng từ giao dịch đó, nên cả vợ và 18
chồng đều phải liên đới trách nhiệm trong việc tiếp tục thực hiện giao dịch,
vì đó là trách nhiệm chung của vợ và chồng. Nghĩa vụ liên đới đƣợc hiểu là
vợ chồng phải cùng nhau thực hiện. Đối với các hợp đồng mà một bên ký
kết với ngƣời khác thì cả hai vợ chồng phải tạo điều kiện cho hợp đồng đƣợc
thực hiện. Ví dụ: ngƣời vợ viết giấy vay của ông A số tiền 1.000.000đ để
nộp tiền học cho con. Trƣờng hợp này, ngƣời vợ vay tiền nhằm mục đích

vì lợi ích, nhu cầu sinh hoặt thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ riêng của vợ
hoặc chồng;
- Nghĩa vụ riêng phát sinh do hành vi trái pháp luật, có lỗi làm phát
sinh thiệt hại cho ngƣời khác của một bên vợ hoặc chồng;
- Nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của mỗi bên vợ, chồng không thể
chuyển giao cho ngƣời khác nhƣ cấp dƣỡng cho con riêng, cấp dƣỡng cho vợ,
chồng cũ …;
Về nguyên tắc, nợ riêng của ai thì ngƣời đó chịu trách nhiệm trả. Theo
điều 33 của Luật HN&GĐ thì: “Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi ngƣời đƣợc
thanh toán từ tài sản riêng của ngƣời đó”. Trƣờng hợp tài sản riêng của ngƣời
đó không đủ thanh toán thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng và họ có
quyền sử dụng phần tài sản của mình đƣợc chia để trả nợ.
Trong vụ án hôn nhân, Tòa án phải giải quyết đồng thời ba mối quan
hệ: quan hệ hôn nhân, quan hệ về con chung và quan hệ về tài sản. Xác định
đúng các tài sản tranh chấp và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng khi giải quyết ly
hôn sẽ đảm bảo đƣợc quyền lợi hợp pháp của mỗi bên đƣơng sự và bảo đảm
đƣợc quyền lợi của ngƣời thứ ba có liên quan.
1.2. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỊNH HƢỚNG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
Giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn cần phải dựa
vào các nguyên tắc cụ thể, rõ ràng định hƣớng cho việc giải quyết đƣợc đúng

Trích đoạn Giá trị tài sản tranh chấp Tranh chấp giữa vợ chồng về các nghĩa vụ tài sản phát sinh trong Vận dụng các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn trong thực tiễn Giải quyết tranh chấp về các khoản nợ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status