BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LAN ANH
HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN – THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 8380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Tuyết
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CAM ĐOAN
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn theo đúng quy định.
Tổ chức tín dụng
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
1
2
2
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
3
3
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
7. Kết cấu của luận văn
3
4
5
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VAY
22
25
27
2.4 Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản
2.4.1 Cơ sở xác định lãi suất
2.4.2 Các loại lãi suất
2.5 Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ trong hợp đồng vay tài
2.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản
2.6.1 Quyền của các bên trong hợp đồng vay tài sản
2.6.2 Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản
29
29
32
37
39
39
40
2.7. Các dạng hợp đồng vay đặc thù
42
47
CHƢƠNG 3: TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA
VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
3.1. Sơ lƣợc về tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Ba
69
chồng đối với hợp đồng vay tài sản
3.2.2.6 Sự biến tướng của hợp đồng vay tài sản
71
sản
sản
3.2.3. Nguyên nhân
3.2.3.1. Nguyên nhân từ phía bên cho vay
3.2.3.2. Nguyên nhân từ phí bên vay
3.2.3.3. Nguyên nhân từ các quy định của pháp luật
3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về hợp đồng vay tài sản và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấp về hợp đồng vay tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội.
3.3.1 Về Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2015
3.3.2 Về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản
3.3.3 Các quy định khác có liên quan đến hợp đồng vay tài sản
3.3.4 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật về
hợp đồng vay tài sản
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
71
71
72
đồng dân sự thông dụng nhất, điều chỉnh quan hệ vay tài sản diễn ra hàng ngày
trong đời sống nhân dân.
Các vấn đề pháp lý về hợp đồng vay tài sản đã được hình thành khá lâu trong
lịch sử lập pháp Việt Nam, trải qua thời gian vấn đề này càng được củng cố và hoàn
thiện, qua các quy định trong BLDS 1995 và BLDS năm 2005. Sự ra đời của BLDS
2015 đã tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia quan hệ vay tài sản.
Tuy nhiên, qua tiễn giải quyết tranh chấp tại các Tòa án nói chung và TAND huyện
Ba Vì nói riêng, các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng vay tài sản cho
thấy còn nhiều kẽ hở, nhiều quy định còn chung chung chưa rõ ràng. Điều này đã bị
một số đối tượng lợi dụng các quy định còn thiếu chặt chẽ của pháp luật để thu lợi
riêng, làm mất đi mục đích thiết thực của hợp đồng vay tài sản.
Với mong muốn được nghiên cứu các vẫn đề lý luận cũng như thực tiễn áp
dụng các quy định về HĐVTS trong thực tiễn xét xử, giải quyết các vụ án tranh
chấp về HĐVTS tại TAND huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra những
kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về HĐVTS, tác giả đã lựa chọn
đề tài: “Hợp đồng vay tài sản – Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân
dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của
mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên cứu về hợp đồng vay tài sản
dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên các đề tài nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ
kinh tế.
Dưới góc độ pháp lý, có thể kể đến các công trình sau: “Hợp đồng vay tài
sản trong Luật dân sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Bùi Kim Hiếu,
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2007; “Hợp đồng vay tài sản – Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”, luận văn Thạc sĩ Luật học của Cẩm Thùy Linh, trường Đại học
Quan hệ vay tài sản được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật
thuộc nhiều ngành luật khác nhau như: Dân sự, thương mại, ngân hàng, hình sự…
Ở luận văn này, tác giả xin trình bày những vấn đề về HĐVTS dưới khía
cạnh luật dân sự. Trong một số nội dung, hợp đồng tín dụng vẫn được đề cập so
sánh. Mặt khác, có một số quy định cụ thể về HĐVTS trong một số trường hợp cụ
thể như họ, hụi, biêu, phường và các biện pháp bảo đảm trong HĐVTS sẽ không
được Luận văn đề cập đến.
Để đánh giá hiệu quả điều chỉnh pháp luật của chế định vay tài sản, Luận văn
nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐVTS tại TAND huyện Ba Vì trong
giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017 và một số vụ việc tranh chấp hợp đồng vay tài
sản tiêu biểu được giải quyết tại TAND huyện Ba Vì, từ đó chỉ ra những điểm còn
bất cập trong các quy định hiện hành về hợp đồng vay tài sản.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm rõ chế định HĐVTS theo quy
định của BLDS 2015, đánh giá những điểm mới của chế định HĐVTS trong BLDS
2015 so với BLDS 2005. Qua thực tiễn áp dụng các quy định về HĐVTS tại TAND
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội nêu lên những hạn chế, bất cập trong các quy định
từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐVTS và nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp về HĐVTS tại TAND huyện Ba Vì.
Với mục đích như trên đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận của HĐVTS;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về HĐVTS, phân tích, so
sánh, đánh giá mức độ hoàn thiện các quy định về HĐVTS trong BLDS 2015 so
sánh với BLDS 2005;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định HĐVTS để giải quyết
các tranh chấp tại TAND huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra những kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐVTS.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác –
Theo Từ điển tiếng việt thì “vay” được hiểu là: “nhận tiền hay vật gì của
người khác để chi dùng trước với điều kiện sẽ trả tương đương hoặc có thêm phần
lãi”(1). Như vậy, người đi vay sẽ phải thực hiện các hoạt động là “nhận tiền hay vật”
và sẽ phải “trả tương ứng hoặc có thêm phần lãi”. Để làm được việc đó phải có sự
thỏa thuận giữa hai bên chủ thể: bên vay và bên cho vay. Trên cơ sở thỏa thuận đó
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể từ đó tạo thành hợp đồng
vay tài sản.
Có thể nói HĐVTS có lịch sử hình thành lâu đời, tồn tại và phát triển song
song với sự tồn tại và phát triển của các quan hệ kinh tế, xã hội trong xã hội loài
người. Ngay từ thời La Mã cổ đại, HĐVTS đã rất thông dụng và được chú trọng, nó
được gọi là hợp đồng vay nợ, theo đó: “Hợp đồng vay nợ là sự thỏa thuận của hai
bên, theo đó bên cho vay chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên vay
(tiền, lương thực, thực phẩm…). Bên vay có nghĩa vụ trả vật cùng loại hoặc số tiền
đã vay khi hết hạn hợp đồng”(2). Khái niệm này đã đề cập đến yếu tố thỏa thuận của
các bên, đây là một yếu tố cốt lõi khi thiết lập hợp đồng nói chung và hợp đồng vay
tài sản nói riêng. Ngoài ra, khái niệm cũng nêu rõ, tài sản vay phải thuộc sở hữu của
bên cho vay, nếu là vật thì phải là vật cùng loại. Có thể thấy, ngay từ thời kỳ cổ đại,
HĐVTS đã được tiếp cận và ghi nhận theo đúng bản chất của hợp đồng nói chung.
Giá trị của nó vẫn còn được lưu giữ cho đến tận ngày nay, các nhà làm luật hiện đại
của các nước đã đưa ra khái niệm HĐVTS không mấy khác biệt so với khái niệm
gốc. Cụ thể:
Điều 1892 BLDS của Pháp quy định: “Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng
theo đó một bên giao cho bên kia một số lượng vật sẽ bị tiêu hao khi sử dụng với
điều kiện là bên kia phải trả vật cùng số lượng và chất lượng”. Định nghĩa này chỉ
rõ đối tượng của hợp đồng là vật bị tiêu hao khi sử dụng.
Điều 587 BLDS Nhật Bản quy định: “Hợp đồng vay tài sản có hiệu lực khi
một bên nhận từ bên kia một khoản tiền hoặc những vật với sự hiểu ngầm rằng
người đó sẽ trả lại tiền vay vật có thể loại, số lượng và chất lượng đúng như vậy”.
Như vậy, cách tiếp cận hợp đồng vay tài sản của BLDS Nhật Bản cũng giống
như cách tiếp cận trong BLDS Pháp, tuy nhiên các quy định này chỉ rõ đối tượng
bản chất của bất kỳ một hợp đồng dân sự nào, đó chính là “sự thỏa thuận”.
Đến BLDS 1995 và BLDS 2005, hợp đồng vay tài sản được tách riêng thành
một chế định, vì vậy khái niệm HĐVTS cũng được quy định khá cụ thể tại Điều 467
BLDS 1995 và Điều 471 BLDS 2005.
Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, khái niệm về HĐVTS được quy định
tại Điều 463 BLDS 2015:
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay
giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài
sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận
hoặc pháp luật có quy định.” Như vậy, khái niệm HĐVTS trong Luật dân sự Việt
Nam không có nhiều khác biệt so với khái niệm HĐVTS trong Luật La Mã cổ đại
cũng như trong pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới. Khái niệm này cũng
đã thể hiện được bản chất đặc trưng của hợp đồng đó là yếu tố thỏa thuận giữa bên
vay và bên cho vay, đây là yếu tố cốt lõi tạo nên nội dung của hợp đồng
7
Hợp đồng có được thiết lập hay không là do sự thỏa thuận của các bên, tức là
phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên trong việc làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
nhất định. Vì vậy, thỏa thuận vừa là tiền đề làm nên hợp đồng, vừa là yếu tố cơ bản
cho sự tồn tại của hợp đồng. Tuy nhiên, cần phải hiểu sự thỏa thuận không được vi
phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội.
Ngoài ra, thỏa thuận chỉ có thể làm phát sinh hiệu lực ràng buộc với các bên
nếu tuân thủ các yêu cầu pháp luật quy định: điều kiện về chủ thể, điều kiện về nội
dung và mục đích của hợp đồng và điều kiện về sự tự nguyện. Tự nguyện xác lập
hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định có hay không tham gia vào hợp đồng
theo nguyện vọng của cá nhân mình mà không chịu bất kỳ sự chi phối hay tác động
nào từ người khác. Hợp đồng sẽ vô hiệu nếu giao kết bị nhầm lẫn, lừa dối hay đe
dọa, hay nói cách khác là không đảm bảo nguyên tắc tự nguyện. Như vậy, các bên
không còn tiền cho vay thì phải buộc bán nhà bán đất để cho vay? Điều này bất
công với người cho vay, bởi vì bên vay chưa có thiệt hại gì về vật chất, mặt khác
bên cho vay không còn khả năng cho vay mà buộc phải chịu sự cưỡng chế hà khắc
như vậy liệu có hợp lý hay không.
Về nguyên tắc, HĐVTS là hợp đồng ưng thuận, bởi theo Khoản 1 Điều 401
BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm
giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác”.
Tuy nhiên, đây là một quy định mở, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận rằng
hợp đồng có hiệu lực từ khi bên cho vay đã giao tài sản cho bên vay, khi đó
HĐVTS là hợp đồng thực tế. Như vậy, không thể khẳng định hợp đồng vay tài sản
là hợp đồng ưng thuận hay hợp đồng thực tế. Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng
thuận hay thực tế? Điều này phụ thuộc vào việc hợp đồng phát sinh hiệu lực pháp
luật vào thời điểm nào: khi các bên đã thỏa thuận xong nội dung cơ bản của hợp
đồng hay khi bên cho vay đã chuyển giao tài sản cho bên vay. Vấn đề này hiện nay
vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm:
- Quan điểm thứ nhất: Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận
Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện cho rằng: “HĐVTS phát sinh hiệu lực kể từ
thời điểm mà ý chí của các bên giao kết được ghi nhận theo hình thức do pháp luật
quy định (bằng lời nói hoặc bằng văn bản), nếu không có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật không có quy định khác”; và “HĐVTS trong luật Việt Nam hiện hành là
hợp đồng ưng thuận, tuy nhiên để buộc bên cho vay phải chuyển giao số tiền như đã
cam kết là điều rất khó thi hành trên thực tế, kể cả bên vay có theo đuổi các thủ tục
tư pháp, hậu quả nhiều lắm là bên vay chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại”(3).
Với nhận xét như vậy, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện đã khẳng định hợp đồng vay tài
sản là hợp đồng ưng thuận và lý giải rằng quyền lợi và nghĩa vụ của các bên phát
sinh ngay sau khi thỏa thuận giao kết hợp đồng xong.
- Quan điểm thứ hai, HĐVTS là hợp đồng thực tế. Việc coi hợp đồng vay tài
sản là hợp đồng thực tế đã được thừa nhận từ lâu trong pháp luật La mã và pháp luật
dân sự của Pháp, Nhật Bản, Thái Lan. Cho đến khi chuyển giao tài sản, các thỏa
thuận giữa hai bên về việc cho vay chỉ mang tính chất một lời hứa cho vay. Trong
bằng văn bản thì bên vay mới có thể yêu cầu bên cho vay chịu trách nhiệm nếu vi
phạm nghĩa vụ giao tiền vì đó thuộc loại hợp đồng ưng thuận. Còn nếu hợp đồng
vay chỉ được giao kết bằng lời nói thì không có chứng cứ để buộc bên cho vay phải
chịu trách nhiệm và khi đó coi như hợp đồng vay tài sản chưa phát sinh hiệu lực.
Hợp đồng vay giao kết bằng lời nói chỉ phát sinh hiệu lực khi bên cho vay giao tiền
cho bên vay và giấy biên nhận vay sẽ là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng, lúc
này HĐVTS mang đặc điểm của hợp đồng thực tế. Tuy nhiên trong trường hợp giao
kết bằng lời nói nhưng có các chứng cứ khác chứng minh được sự tồn tại của hợp
đồng (như có người làm chứng, có băng ghi âm ghi hình, các bên thừa nhận…) thì
bên cho vay vẫn phải chịu trách nhiệm về lời cam kết của mình, bởi hợp đồng phát
sinh từ thời điểm giao kết hợp đồng và nó trở thành hợp đồng ưng thuận, tuy nhiên
khi buộc bên cho vay phải chịu trách nhiệm về việc chuyển giao tài sản vay thì còn
phải phụ thuộc vào các chứng cứ pháp lý để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng
vay đó.
Thứ hai, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ
10
Khi xác lập một giao dịch thì cần phải xem xét quyền và nghĩa vụ của các
bên trong giao dịch đó, từ đó xác định trách nhiệm của các bên khi không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong giao dịch.
Điều 402 BLDS 2015 quy định:
“1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.
2. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.”
Có thể thấy cơ sở để xác định một hợp đồng có tính chất song vụ hay đơn vụ
chính là mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ giữa các bên tại thời điểm hợp đồng
dân sự có hiệu lực. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có nghĩa
vụ, hay nói cách khác, mỗi bên chủ thể của hợp đồng song vụ là người vừa có
quyền lại vừa có nghĩa vụ dân sự. Trong hợp đồng này quyền dân sự của bên này
HĐVTS là hợp đồng có tính chất đền bù nếu nó là HĐVTS có lãi suất. Nói
cách khác, HĐVTS có tính chất đền bù khi mà một bên sau khi đã thực hiện cho
bên kia một lợi ích sẽ nhận lại một lợi ích tương ứng cùng với khoản lãi theo thỏa
thuận. HĐVTS có tính chất đền bù thông thường được áp dụng bắt buộc trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng; các tổ chức tín dụng cho vay tiền đều có quy định
mức lãi suất tương ứng tùy thuộc vào từng thời điểm, tính chất và đặc điểm của
HĐVTS.
HĐVTS không có tính chất đền bù nếu là hợp đồng vay không có lãi suất.
tức là khi hết hạn trả nợ, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ một lượng tài sản
cùng loại, cùng giá trị cho bên vay, mà không phải trả thêm bất cứ khoản lợi ích vật
chất nào khác, hay một giá trị tài sản nào khác. Loại hợp đồng này thường được
giao kết mang tính chất tương trợ, giúp đỡ nhằm khắc phục khó khăn hoặc giúp đỡ
phát triển sản xuất kinh doanh giữa những chủ thể có mối quan hệ thân thiết, quen
biết lẫn nhau như những người trong gia đình, bạn bè, làng xóm…
Thứ tư, HĐVTS là căn cứ chuyển quyền sở hữu tài sản
HĐVTS là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ bên cho vay
sang bên vay, khi bên vay nhận tài sản. Theo đó, bên vay trở thành chủ sở hữu tài
sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó (Điều 464 BLDS 2015). Bên vay có toàn
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản vay trừ trường hợp vay có điều kiện sử
dụng. Hết thời hạn vay, bên vay có thể trả tài sản khác cho bên cho vay tài sản
nhưng phải cùng loại với tài sản vay theo đúng số lượng, chất lượng trừ trường hợp
có thỏa thuận khác (Khoản 1 Điều 466 BLDS 2015). Chính vì việc chuyển giao
quyền sở hữu, mà sau khi nhận tài sản giao, bên vay sẽ phải gánh chịu mọi rủi ro
đối với tài sản vay nếu như rủi ro đó không có lỗi của bên cho vay.
Đặc điểm này giúp ta phân biệt HĐVTS với các hợp đồng dân sự khác như:
Hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng thuê tài sản. Vì trong hai loại hợp đồng này,
người mượn và người thuê tài sản không trở thành chủ sỏ hữu tài sản mượn và thuê,
mà chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đã mượn, thuê trong một thời hạn nhất
định do hai bên thỏa thuận. Khi hết thời hạn, bên mượn, thuê phải trả đúng tài sản
đã mượn, thuê cho bên cho mượn, cho thuê tài sản.
Theo quy định tại Điều 19 BLDS 2015 thì: “Năng lực hành vi dân sự của cá
nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền,
nghĩa vụ dân sự”. Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền dân sự khách
quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để
tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Căn cứ vào khả năng của cá
nhân về nhận thức và điều khiển hành vi và hậu quả hành vi, pháp luật phân biệt
mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Tuy nhiên, khó có một tiêu chí để xác
định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân, do đó độ tuổi của cá
nhân được xem là tiêu chí chung nhất để phân biệt mức độ năng lực hành vi dân sự
của cá nhân. Cá nhân ở mỗi độ tuổi khác nhau có khả năng nhận biết hành vi khác
nhau thì có khả năng tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự khác nhau.
Theo pháp luật dân sự hiện hành thì người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên)
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp người đó bị mất năng lực hành vi
dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức
13
làm chủ hành vi (Điều 20, 22, 23, 24 BLDS 2015). Những người này có toàn quyền
xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, miễn sao không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội.
Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự
phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản
phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại
diện theo pháp luật đồng ý. (Điều 21 BLDS 2015).
Đối với người không có năng lực hành vi dân sự (chưa đủ 6 tuổi) hay những
người bị mất năng lực hành vi dân sự thì giao dịch dân sự phải do người đại diện
pháp nhân được chia thành hai loại: đại diện theo pháp luật (Điều 137 BLDS 2015)
và đại diện theo ủy quyền (Điều 138 BLDS 2015).
Theo quy định tại Điều 137 BLDS 2015, có thể hiểu rằng đối với pháp nhân
là doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp luật được xác định theo điều lệ của
doanh nghiệp đó, còn đối với pháp nhân là các tổ chức khác thì người đại diện theo
pháp luật là người đứng đầu pháp nhân. Người đại diện của pháp nhân có quyền
nhân danh pháp nhân thực hiện các hành vi nhằm duy trì hoạt động của pháp nhân
trong khuân khổ pháp luật và điều lệ quy định. Đại diện theo ủy quyền là đại diện
được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Hình
thức ủy quyền do các bên thỏa thuận trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy
quyền phải được lập thành văn bản. Đại diện theo ủy quyền của pháp nhân là người
được người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền xác lập, giao kết hợp
đồng. Khi tham gia giao kết hợp đồng các bên phải lưu ý đến địa vị pháp lý của
người đại diện theo ủy quyền, phạm vi ủy quyền, thời hạn ủy quyền nhằm tránh tình
trạng tranh chấp do việc ký kết hợp đồng không đúng thẩm quyền hoặc vượt quá
phạm vi ủy quyền.
Như vậy, pháp nhân là một chủ thể của hợp đồng vay tài sản, khi tham gia
giao kết hợp đồng hợp đồng vay tài sản, pháp nhân thông qua đại diện theo pháp
luật hoặc đại diện theo ủy quyền của mình là cá nhân. Hành vi của người đại diện
phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của pháp nhân được ghi
trong quyết định thành lập pháp nhân, điều lệ pháp nhân và phù hợp với quy định
của pháp luật.
1.3. Đối tƣợng của hợp đồng vay tài sản
Trong quan hệ pháp luật dân sự, đối tượng của giao dịch vay là tài sản.
Trong mỗi chế độ xã hội có quan niệm khác nhau về tài sản. Điều này phụ thuộc
vào quan điểm của giai cấp thống trị, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, trình
độ văn hóa của mỗi dân tộc. Trong quan hệ dân sự các chủ thể sở hữu, trao đổi,
chuyển dịch cho nhau các lợi ích vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu khác nhau của
các chủ thể. Các lợi ích này thể hiện qua việc chiếm hữu một vật, một quyền lợi nào
đó được gọi là tài sản. Trong Luật La mã cổ đại quy định vật là đối tượng của chiếm
chất”.
Tương tự như Liên Bang Nga, BLDS của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ)
cũng không đưa ra định nghĩa về khái niệm tài sản mà đã dựa vào phân loại tài sản
để xác định khái niệm tài sản như sau: “Điều 448. Phân loại tài sản
Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư; tài
sản hữu hình và tài sản vô hình; động sản và bất động sản”.
Có thể thấy có nhiều quan niệm khác nhau về tài sản: (1) sử dụng cách thức
liệt kê các phân loại tài sản mà không đưa ra một phạm vi cụ thể; (2) coi tài sản là
đối tượng của quyền sở hữu; (3) tài sản được phân chia thành bốn phân loại lớn là
bất động sản hữu hình, động sản hữu hình, bất động sản vô hình và động sản vô
hình.
Ở nước ta, Điều 105 BLDS 2015 quy định: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ
có giá và quyền tài sản.
16
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có
thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan và con người
có thể cảm giác được bằng giác quan của mình. Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành
đối tượng trong quan hệ pháp luật nên vật phải đáp ứng được lợi ích của các bên
chủ thể trong quan hệ. Do đó, để trở thành vật trong dân sự đòi hỏi phải thỏa mãn
các điều kiện: (i) Là một bộ phận của thế giới vật chất; (ii) Con người chiếm hữu
được, mang lại lợi ích cho chủ thể; (iii) Đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương
lai
Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm
thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Tiền có thể là nội tệ hoặc ngoại tệ. Tuy
nhiên, ngoại tệ là tài sản hạn chế lưu thông không được lưu hành rộng rãi như tiền
Việt Nam.
(hoặc hạn chế giao dịch). Đối với tài sản cấm lưu thông thì không thể là đối tượng
của giao dịch, đối với tài sản hạn chế lưu thông thì các bên cần phải tuân theo
phương thức lưu thông loại tài sản đó (vàng, ngoại tệ…); (iv) Tài sản phải chiếm
hữu được trên thực tế .Vì mục đích sử dụng tài sản vay vào công việc nhất định mà
bên vay dự định, cho nên tài sản là đối tượng của HĐVTS phải chiếm hữu được.
Như vậy, không phải mọi tài sản được quy định tại Điều 105 BLDS 2015
đều là đối tượng của hợp đồng vay mà chỉ những tài sản thỏa mãn những điều kiện
trên mới có thể là đối tượng của HĐVTS. Chẳng hạn như bất động sản theo quy
định tại Điều 107 BLDS 2015 là những vật đặc định vì thế không thể trả lại một
“bất động sản cùng loại” với bất động sản đã vay nên bất động sản không thể là đối
tượng của HĐVTS. Tương tự như vậy đối với tài sản hình thành trong tương lai quy
định tại Điều 108 BLDS 2015. Xuất phát từ đặc điểm pháp lý của HĐVTS là việc
chuyển quyền sở hữu từ bên cho vay sang bên vay nên tài sản vay phải thuộc quyền
sở hữu của bên cho vay. Do đó, tài sản hình thành trong tương lai với đặc điểm
quyền sở hữu chưa được xác lập cho bên cho vay tại thời điểm giao dịch nên không
thể là đối tượng của HĐVTS.
Có thể thấy, tài sản là vấn đề cốt lõi của quan hệ pháp luật nói chung và
quan hệ vay nói riêng. Việc nhận thức đúng đắn về tài sản và phân loại tài sản có
vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quy định pháp luật và giải quyết các
tranh chấp pháp lý. Đó là căn cứ, điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu quản lý, thực
hiện quyền của chủ sở hữu, tham gia các giao dịch dân sự đồng thời làm cơ sở pháp
lý cho việc giải quyết các tranh chấp. Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của
xã hội loài người, tài sản có một phạm vi khác nhau, nhưng đều là công cụ đáp ứng
các nhu cầu cuộc sống của con người. Xét một cách chung nhất, tài sản có thể được
hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể, một khái
niệm rộng và không có giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà
con người nhận thức ra.
1.4. Lãi suất và lãi trong hợp đồng vay tài sản
* Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản
Lãi suất là yếu tố quan trọng và là điều mà các bên quan tâm nhất khi tham
dược tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị nhà tư bản – chủ ngân hàng
chiếm đoạt” (Học thuyết giá trị thặng dư, Quyển I Bộ tư bản)(5).
Trong XHCN không còn phạm trù tư bản và chế độ người bóc lột người song
điều đó không có nghĩa là ta không thể xác định bản chất của lãi suất. Bản chất của
lãi suất trong xã hội chủ nghĩa là “giá cả của vốn cho vay mà nhà nước sử dụng với
tư cách là công cụ điều hòa hoạt động hạch toán kinh tế”(6).
Như vậy dù cho lãi suất xuất hiện trong quan hệ vay vốn giữa các chủ thể với
mục đích dùng cho đầu tư kinh doanh, tiêu dùng với tư cách là công cụ điều tiết vĩ
mô chính sách tiền tệ, thì khái niệm được thừa nhận có tính phổ biến phù hợp với
đặc trưng của nó là: Lãi suất là giá cả của vốn tiền tệ, được đo bằng tỷ lệ giữa số
(4)
(5)
Trần Bình Trọng (chủ biên)(2005), Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Thống Kê, 2005, tr. 176.
Trần Bình Trọng (chủ biên)(2005), Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Thống Kê, 2005, tr. 178.
(6)
Trần Bình Trọng (chủ biên)(2005), Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb. Thống Kê, 2005, tr. 188.
19
tiền lãi so với số tiền gốc mà người đi vay (người sử dụng vốn vay) phải trả cho
người cho vay (người ứng vốn) được sử dụng trong một thời gian nhất định, mà
thông thường được tính theo tỷ lệ %/năm, %/tháng, %/ngày.
Dưới góc độ luật học
Chính sách về lãi suất thay đổi theo thời gian và rất khác nhau từ xã hội này
sang xã hội khác. Vào triều đại nhà Lê, các khế ước vay nợ đã trở nên rất phổ biến,
tại Điều 588 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Cho vay nợ hay cầm đồ vật mỗi tháng
(9)
Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
1999, tr.253.
(10)
Trường đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình luật Ngân hàng, Nxb. Công an nhân dân, tr.63.
(8)
20
Như vậy, đặc trưng cơ bản của lãi suất thể hiện nó là một công cụ để tính lợi
nhuận, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của bên cho vay và bên vay.
Từ những phân tích trên có thể thấy: Lãi suất là giá cả vốn vay, khi sử dụng
bất kỳ một khoản vay nào, người sử dụng vốn không thuộc sở hữu của mình có
nghĩa vụ phải trả thêm vào số tiền đã vay một khoản tiền nhất định theo thỏa thuận
(nếu có) được tính theo tỷ lệ % số tiền tăng thêm được xác định theo khoảng thời
gian trên số vốn gốc đã vay. Trong HĐVTS các bên cần phải xác định rõ mức lãi
suất trong hạn và mức lãi suất nợ quá hạn.
* Lãi trong hợp đồng vay tài sản
Thông thường, khi tham gia vào HĐVTS, vấn đề mà các bên quan tâm nhiều
nhất là các lợi ích vật chất ngoài lượng giá trị tài sản vay ban đầu. Lượng giá trị
tăng thêm này được gọi là lãi. Tỷ lệ phần trăm của tiền lãi so với giá trị tài sản vay
ban đầu được gọi là lãi suất. Lãi nhiều hay ít phụ thuộc vào giá trị tài sản vay, lãi
suất và thời hạn vay. Khi lãi suất cao, thời hạn vay dài, giá trị tài sản lớn thì lãi càng
cao và ngược lại.
- Giá trị tài sản vay: đây là số vốn gốc mà các bên đã thỏa thuận cho nhau
vay, số lãi sẽ tỷ lệ thuận với số vốn gốc mà bên cho vay chuyển cho bên vay theo
hợp đồng. Lãi được chuyển từ người vay sang người cho vay khi hết hạn hợp đồng
hoặc thời hạn nhất định tùy theo thỏa thuận của các bên
- Lãi suất: Nếu các bên thỏa thuận với lãi suất cao thì lãi thu về sẽ cao nhưng