Pháp luật về quản lý và thanh lý tài sản phá sản qua thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THUỲ LINH
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN
QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Am Hiểu - 2010
MỤC LỤC Trang


72

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ
THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

3.1
Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về quản lý và
thanh lý tài sản phá sản
74
3.2.
Những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về quản lý và thanh lý
tài sản phá sản
3
76

90 91

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

LPS Luật phá sản
BLDS
TAND Toà án nhân dân
TSPS Tài sản phá sản
DN Doanh nghiệp, hợp tác xã
TQLTLTS Tổ quản lý, thanh lý tài sản
QLTLTS Quản lý, thanh lý tài sản

đổi, bổ sung pháp luật hiện hành phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế, nhất là các luật: Luật Thương mại, Luật Phá sản doanh nghiệp…”
Để cụ thể hoá các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây dựng,
hoàn thiện pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước cũng như những yêu cầu cụ thể của
thực tiễn, ngày 26/5/2004, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá 11 đã thông qua
Luật phá sản (LPS) và Luật này có hiệu lực từ ngày 15/10/2004 [2]. LPS
2004 đã tiến bộ hơn với nhiều quy định rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ
của các bên tham gia vào quá trình Toà án giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá
sản, đã làm cho việc giải quyết phá sản được thực hiện nhanh chóng hơn,
đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Tuy vậy, sau một thời gian áp dụng đã nảy sinh không ít những khó
khăn, vướng mắc cần phải hoàn thiện, nhất là vấn đề liên quan đến quản lý,
thanh lý tài sản.
2 đây
,
. Nghiên cứu các quy định của pháp luật về quản lý và thanh lý tài sản
phá sản qua thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà
Nội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế trong nước và môi trường kinh tế quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu luận văn
Trong những năm gần đây, đã có một số công trình khoa học nghiên
cứu về pháp luật phá sản, luật phá sản ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ví dụ:
Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004 của Toà án nhân dân tối cao: “Cơ sở lý
luận và thực tiễn của việc áp dụng các quy định của luật phá sản về thủ tục
phá sản” do Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng- Phó Viện trưởng Viện khoa học xét
xử Toà án nhân dân tối cao làm chủ nhiệm đề tài; Đề tài khoa học cấp Bộ

thanh lý tài sản phá sản, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ,
người lao động và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ lý luận về quản lý và thanh lý tài sản phá sản, sự cần thiết
của pháp luật về quản lý và thanh lý tài sản phá sản.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật hiện
hành về quản lý và thanh lý tài sản phá sản và thực tiễn áp dụng tại Toà án
nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý và
thanh lý tài sản phá sản ở Việt Nam, góp phần tăng tính khả thi của pháp luật
phá sản.
4. Phạm vi nghiên cứu luận văn
4 Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản
lý và thanh lý tài sản phá sản, làm rõ thực trạng của pháp luật Việt Nam về
quản lý và thanh lý tài sản phá sản, thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân
trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện
pháp luật về quản lý và thanh lý tài sản phá sản.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đồng thời vận dụng những
quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm
xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp
lịch sử cụ thể, phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, phương pháp
phân tích, tổng hợp và sử dụng số liệu thống kê, phương pháp so sánh luật
để giải quyết những vấn đề cơ bản của luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn

phá sản.
6 Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
VÀ THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN
1.1 Khái niệm tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản và mối quan hệ giữa quản lý và thanh lý tài sản phá sản
1.1.1 Khái niệm tài sản phá sản
a. Khái niệm tài sản
Tài sản theo Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam (sau đây gọi là
BLDS) bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
So với thuật ngữ “vật có thực” theo quy định của BLDS 1995 thì “vật” ở
đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm vật đang có và vật sẽ được hình
thành trong tương lai. Sự thay đổi trong quy định như vậy là phù hợp với nhu
cầu về giao dịch dân sự trong nền kinh tế thị trường. Không phải chỉ những vật
đang hiện hữu mà những vật đang được hình thành như: máy móc đang lắp ráp,
nhà đang xây, thuyền đang đóng…cũng được coi là tài sản và có thể là đối
tượng của giao dịch.
“Tài sản” ở đây còn bao gồm “tiền”; Tiền trong kinh tế học được hiểu là

phá sản của Mỹ coi TSPS hiện có của doanh nghiệp phản ánh trên sổ sách kế
toán tại thời điểm mở thủ tục phá sản, tài sản thu hồi được tự việc xiết nợ [63].
Luật Phá sản Nhật Bản chỉ coi TSPS của doanh nghiệp nằm trong lãnh thổ quốc
gia, không tính đến tài sản của doanh nghiệp ở nước ngoài [60];
Nga thì coi cả tài sản phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản nằm
trong khối TSPS [61].
Nhìn chung, toàn bộ sản nghiệp của doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây
8 gọi chung là DN) sau khi có quyết định thụ lý vụ phá sản của toà án hợp
thành một khối, gọi là TSPS. Pháp luật phá sản Việt Nam không đưa ra khái
niệm TSPS mà chỉ có quy định về tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản.
Điều 19 Luật phá sản doanh nghiệp 1993 quy định: “Tài sản của doanh
nghiệp bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc
thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp Nhà nước), trong
đó gồm :
1. Tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp đang có ở doanh
nghiệp;
2. Tiền hoặc tài sản góp vốn, liên doanh, liên kết với cá nhân, doanh nghiệp
hoặc tổ chức khác;
3. Tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức doanh nghiệp khác
đang nợ hoặc chiếm đoạt;
4. Tài sản mà doanh nghiệp đang cho thuê hoặc cho mượn;
5. Các quyền về tài sản.
Tài sản của doanh nghiệp tư nhân còn bao gồm cả tài sản của chủ doanh nghiệp
tư nhân không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh.”
LPS 2004, theo Điều 49: “1. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản bao gồm:
- Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm

Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng được coi là nằm trong khối
TSPS. Như vậy, dù là tài sản đó hình thành trong tương lai nhưng giao dịch để
tạo cho DN có được tài sản đó xác lập trước khi toà án thụ lý đơn nên cũng cần
10 đưa vào khối TSPS nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của DN.
Bên cạnh đó, có thể thấy luật đưa ra phạm vi TSPS rất rộng: trường hợp
thanh toán tài sản là vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của DN cho các chủ nợ có
đảm bảo mà vật bảo đảm có giá trị vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh
toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Ngoài ra,
quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã cũng nằm trong khối TSPS và
được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.
Nhìn một cách khái quát, nhà làm luật Việt Nam dường như đồng nhất
khái niệm tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản với khái niệm TSPS. Tuy
vậy, có thể nhận thấy phạm vi TSPS rộng hơn khái niệm tài sản của DN lâm vào
tình trạng phá sản. Nếu Luật phá sản doanh nghiệp 1993 chỉ đề cập đến tài sản
có trong khối TSPS thì theo LPS, TSPS bao gồm tài sản có và tài sản nợ của DN
lâm vào tình trạng phá sản. Trong tài sản có của doanh nghiệp, ngoài tài sản của
DN lâm vào tình trạng phá sản, còn có các tài sản khác, như: tài sản hình thành
trong giai đoạn thanh lý tài sản, tài sản thu hồi được từ những giao dịch vô hiệu
mà DN thực hiện trong khoảng thời gian nhất định, tài sản có được trong quá
trình DN phục hồi hoạt động kinh doanh. Bằng cách đưa ra các quy định để DN
có thể bằng nhiều cách thức làm tăng khối TSPS, LPS đã phần nào thực hiện
được mục tiêu của mình.
Có thể hiểu: TSPS là toàn bộ tài sản có và tài sản nợ của DN tính từ thời
điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho đến khi giải quyết
xong vụ việc phá sản.
Trong quá trình giải quyết phá sản, việc xác định đúng, đầy đủ các tài sản
của DN có ý nghĩa rất quan trọng. Theo quy định 1 49 LPS, tài

cảnh kinh tế đầy cạnh tranh khốc liệt. Bước vào con đường kinh doanh, không
12 một nhà kinh doanh nào muốn doanh nghiệp cũng như sản nghiệp của mình bị
gặp khó khăn, thua lỗ. Nhưng theo quy luật của cạnh tranh, có thành công thì
cũng có thể thất bại, bên cạnh hàng loạt doanh nghiệp mới thành lập thì
cũng sẽ có những doanh nghiệp rút lui khỏi nền kinh tế thị trường
.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh có thể vì lý do nào đó mà DN
không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu và lâm vào
tình trạng phá sản, nếu không phục hồi được hoạt động kinh doanh thì sẽ bị
tuyên bố phá sản. Khi đó sản nghiệp của họ sẽ bị thu hồi để thanh toán các nghĩa
vụ tài sản cho các chủ nợ, người lao động, nhà nước…Trong tình trạng như vậy,
DN có thể có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ
trả nợ. Nếu để DN tiếp tục quản lý khối tài sản của họ mà không có sự kiểm tra,
giám sát của một cơ quan, tổ chức hay một nhóm người nào đó thì khối tài sản
đó khó có thể được bảo toàn và hậu quả tất yếu sẽ làm các chủ nợ thiệt hại về tài
sản. Vì vậy, việc thành lập một thiết chế để đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ
và quy định cho nó một địa vị pháp lý là rất cần thiết [55]. Quản lý tài sản của
DN lâm vào tình trạng phá sản là một trong những vấn đề cơ bản mà Luật phá
sản các nước đều phải đề cập tới với mục đích cơ bản là làm cho khối tài sản của
con nợ được sử dụng một cách hợp lý, đúng pháp luật. Người quản lý tài sản,
trong một số trường hợp có thể thay thế cả người quản lý, điều hành hoạt động
kinh doanh của con nợ.
Luật phá sản Estonia trao hầu hết các quyết định quan trọng cho chủ nợ và
người quản lý tài sản độc lập, giảm thiểu vai trò của các cơ quan chức trách nhà
nước. Luật này quy định rằng hầu hết các vụ phá sản sẽ dẫn tới thanh lý, không
những vậy luật còn quy định một chương về vấn đề thoả hiệp đơn giản nhưng
công bằng làm giải pháp thay thế. Bộ luật cho phép một cách rõ ràng người quản
trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.
Khi có quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của Thẩm phán, việc
phân chia giá trị tài sản DN theo thứ tự nhất định: Phí phá sản; Các khoản nợ
lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội… cho người lao động; Các khoản
nợ không có đảm bảo phải trả cho các chủ nợ t
: nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ
đều được thanh toán đủ số nợ của mình, nếu giá trị tài sản không đủ để thanh
toán thì mỗi chủ nợ được thanh toán một phần theo tỷ lệ tương ứng, nếu sau
khi thanh toán đủ cho các chủ nợ mà vẫn còn thừa thì phần đó thuộc về xã
viên hợp tác xã, chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên của công ty, các cổ
đông của công ty cổ phần, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.
Khi Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì theo quy định của pháp
luật các chủ thể trên sẽ tham gia vào quá trình đòi nợ tập thể. Các chủ nợ sẽ
gửi giấy đòi nợ, TQLTLTS lập danh sách chủ nợ và việc thanh lý tài sản dựa
trên danh sách này. Khi Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với
DN thì các khoản nợ chưa đến hạn vào thời điểm mở thủ tục thanh lý được
coi là đã đến hạn và được xử lý như các khoản nợ đến hạn, nhưng không
được tính lãi thời gian chưa đến hạn; các khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản
thế chấp hoặc cầm cố được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó, nếu giá trị tài
sản đảm bảo ít hơn khoản nợ thì phần còn lại sẽ được thanh toán trong quá
trình thanh lý tài sản, nếu tài sản đảm bảo lớn hơn khoản nợ thì phần còn lại
sẽ được nhập vào tài sản của DN để thanh toán các nghĩa vụ khác.
Có thể thấy rằng Thẩm phán đóng vai trò rất lớn trong việc tiến hành
thủ tục phá sản nói chung và quản lý, thanh lý tài sản nói riêng, cùng với
Thẩm phán là nhiệm vụ quan trọng của TQLTLTS và cả sự tham gia của con
nợ. Do vậy, nếu thành phần của TQLTLTS là những người có kiến thức
15


. QLTLTS
.
, QLTLTS .
Bên cạnh việc đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ , pháp luật
về phá sản cũng bảo vệ cho lợi ích của chính . Kể từ khi Toà án thụ lý
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, mọi hoạt động kinh doanh của DN vẫn tiến
hành bình thường, có sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán. khi có quyết
17 định mở thủ tục phá sản, các chủ nợ không được tự mình đòi nợ DN, DN
không được tự mình thanh toán các khoản nợ mà việc
. Nếu sau khi thanh lý tài sản và trả cho
các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên mà tài sản của DN đã hết thì khoản chưa được
thanh toán hay chưa được thanh toán đầy đủ cũng xem như đã được thanh
toán hết và chủ nợ cũng không có quyền đòi nợ DN nữa (trừ trường hợp DN
đó là doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh).
Hơn nữa, ngay cả khi Toà án đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
thì DN cũng vẫn có thể có cơ hội khôi phục lại hoạt động kinh doanh của
mình, thoát khỏi tình trạng phá sản, thanh toán được các khoản nợ và tiếp tục
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo PGS-TS Dương Đăng Huệ: Pháp luật phá sản chưa quy định cơ chế
để các con nợ tự tiến hành phục hồi khi lâm vào tình trạng khó khăn về tài
chính. Theo quy định hiện nay thì chỉ khi nào con nợ lâm vào tình trạng mất khả
năng thanh toán và được Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì mới có
quyền được áp dụng cơ chế phục hồi. Như vậy, thủ tục phục hồi chỉ có thể được
tiến hành trong quá trình toà án tiến hành giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Quy định này buộc các con nợ phải tiến hành thủ tục phục hồi dưới sự kiểm soát
của toà án, do đó chưa thực sự khuyến khích các DN nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản. Để bảo đảm tính chủ động hơn cho các con nợ thì cần có một cơ

Ví dụ, theo kinh nghiệm của Nhật Bản, chỉ có một người quản lý do
19 Toà án chỉ định thực hiện nhiệm vụ , trong trường hợp người quản lý tài
sản này cần có thêm người khác giúp đỡ thì người đó có thể chỉ định người
đồng quản lý tài sản. Toà án có thể chỉ định nhiều người quản lý tài sản trong
một vụ phá sản lớn. Sở dĩ có quy định như vậy là do người Nhật tư duy rằng
trong những vụ phá sản, việc định đoạt tài sản một cách nhanh chóng là điều
rất quan trọng, sẽ là rất khó cho việc đưa ra quyết định nhanh chóng khi thành
lập một TQLTLTS gồm nhiều người [41]. LPS Nhật Bản quy định quyền hạn
và trách nhiệm của người quản lý tài sản được bắt đầu từ khi được chỉ định
cho đến khi hoàn thành việc thanh toán tài sản cho các chủ nợ. Người quản lý
tài sản là người chịu trách nhiệm chính thực hiện thủ tục phá sản doanh
nghiệp và phải chịu trách nhiệm uỷ thác đối với tài sản. Người quản lý tài sản
là những người không phải là quan chức nhà nước, chịu sự giám sát và có thể
bị thay đổi bởi Toà án, người quản lý tài sản còn phải chịu sự giám sát của
Hội nghị chủ nợ và Hội nghị chủ nợ được quyền ra quyết nghị yêu cầu chấm
dứt hoạt động của người quản lý tài sản [60].
Ở Việt Nam, trước đây Luật phá sản doanh nghiệp 1993 quy định có
hai Tổ là Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh lý tài sản, đây là những chủ thể quan
trọng tham gia vào quá trình giải quyết phá sản. LPS 2004 quy định thành
một Tổ vừa làm nhiệm vụ quản lý tài sản, vừa làm nhiệm vụ thanh lý tài sản.
Sự thay đổi các quy định pháp luật về tổ chức và cả thành phần của
TQLTLTS đã làm cho hoạt động của Tổ này đạt hiệu quả cao hơn, nhưng
thực tiễn vẫn còn những hạn chế nhất định.
Việc thành lập một thiết chế quản lý và thanh lý tài sản của DN lâm
vào tình trạng phá sản, bảo toàn tài sản của DN và giúp DN thực hiện nghĩa
vụ trả nợ cho các chủ nợ là rất cần thiết. Khi đã lâm vào tình trạng phá sản, vì
nhiều lý do khác nhau mà DN có thể tiêu dùng tài sản của mình một cách


Chương 2
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý và thanh lý tài sản phá sản
2.1.1 Về cơ cấu, thành phần của TQLTLTS
QLTLTS của DN lâm vào tình trạng phá sản là vấn đề quan trọng mà
LPS các nước đều quan tâm. Mục đích của quản lý và thanh lý TSPS là thu
hồi tài sản; bảo quản khối tài sản có và tài sản nợ của DN, tránh bị thất thoát,
tẩu tán; bán đấu giá tài sản và thanh toán nợ cho các chủ nợ.
Pháp luật các nước khác nhau có quy định khác nhau về cơ cấu tổ chức,
vai trò, vị trí, chức năng, thẩm quyền của chủ thể quản lý, thanh lý TSPS. Về
chủ thể QLTLTS, phần lớn các nước đều quy định họ là các Luật sư, chuyên
gia pháp lý hành nghề tự do, thương gia hay chuyên gia kiểm toán có kinh
nghiệm trong lĩnh vực phá sản. Một số nước như: Úc, Nga, Nhật Bản quy
định chỉ có một nhân viên thực hiện chức năng quản lý tài sản của DN, và
thực tế hoạt động này rất hiệu quả.
Nhật Bản, Toà án chỉ định một người thực hiện nhiệm vụ quản lý
tài sản (gọi là Quản trị viên), người này có quyền chủ động trong việc duy trì,
quản lý, định đoạt TSPS theo luật định. Trong trường hợp người này cần
thêm người khác giúp đỡ thì họ có thể chỉ định người đồng quản lý tài sản,
đối với vụ phá sản lớn, Toà án có thể chỉ định nhiều người quản lý tài sản
[60].
Ở Thuỵ Điển, pháp luật quy định: sau khi có quyết định mở thủ tục phá
sản, Toà án sẽ bổ nhiệm Quản tài viên để quản lý tài sản của DN lâm vào tình
22 trạng phá sản. Quản tài viên không có quyền can thiệp vào hoạt động sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status