Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án nhân dân thực trạng và kiến nghị - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
---------------

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LAO ĐỘNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

NGUYỄN VĂN ĐÍNH

Hà Nội, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
---------------

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LAO ĐỘNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

NGUYỄN VĂN ĐÍNH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 60380107


đề tài nghiên cứu của mình.


MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN .................................................. 6
1.1. Khái niệm và đặc điểm của giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án ... 6
1.1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động tại Toà án
1.1.2. Đặc điểm giải quyết tranh chấp lao động tại Toà án
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án..................... 12
1.3. Vai trò của việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án .................... 16
1.4. Giải quyết tranh chấp lao động tại Toà án ở một số quốc gia.
20
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN ................................. 26
2.1. Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp lao động ...... 26
2.1.1. Thẩm quyền theo vụ việc..................................................................... 26
2.1.2. Thẩm quyền của Tòa án theo các cấp................................................... 29
2.1.3. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ ................................................. 31
2.2. Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án cấp sơ thẩm ......................... 34
2.2.1. Khởi kiện, thụ lý vụ án lao động .......................................................... 35
2.2.2. Chuẩn bị xét xử ................................................................................... 35
2.2.3. Phiên tòa sơ thẩm ............................................................................... 42
2.3. Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án cấp phúc thẩm .................... 47
2.4. Giải quyết vụ án lao động theo thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm.......... 53
Chương 3: THỰC TIỄN, THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI



MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ chế thị trường sức lao động là hàng hóa đặc biệt quan trọng, đặc
biệt vị thế yếu thường thuộc về phía người lao động, để ngăn ngừa tình trạng lạm
dụng quá đáng từ phía người sử dụng lao động, Luật lao động đã có những quy định
để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích
của người sử dụng lao động. Một trong các quy định đó là các chế định về việc giải
quyết các tranh chấp lao động tại Tòa án.
Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án là nội dung cơ bản của pháp luật
lao động, vì vậy Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với
tình hình thực tiễn. Năm 2012 Bộ luật lao động được sửa đổi, bổ sung và thay thế
cho Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi bổ sung qua các năm 2002, 2006) và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2013. Năm 2004 Bộ luật tố tụng dân sự
được Quốc hội thông qua đã thay thế cho Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao
động đã đưa ra một diện mạo mới đối với thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động. Năm 2010 Bộ luật tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung. Như vậy với sự phát
triển, hoàn thiện của hệ thống pháp luật lao động việc giải quyết tranh chấp lao
động tại Tòa án đã có nhiều thay đổi.
Bên cạnh đó tình hình thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
trong thời gian gần đây cho thấy Tòa án là một trong những cơ quan có thẩm quyền
trong việc giải quyết tranh chấp lao động tuy các tranh chấp lao động xảy ra trong
thực tế là nhiều, nhưng số vụ việc đưa đến Tòa án thì rất hạn chế. Tình trạng này
phát sinh do nhiều nguyên nhân như: thủ tục hòa giải tại cơ sở còn nhiều vướng
mắc, sự hiểu biết pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động của người lao
động còn hạn chế, các tổ chức tư vấn cho người lao động chưa phát huy hiệu quả…
hiệu quả giải quyết tranh chấp lao động còn một số mặt hạn chế, chưa đáp ứng được
yêu cầu của thực tế. Tỷ lệ các vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm phải cải sửa tương đối


bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2010 và Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm

2


2006, 2012. Bên cạnh đó các bài viết và công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên
cứu việc giải quyết tranh chấp lao động nói chung hoặc nghiên cứu một trường hợp
tranh chấp lao động cụ thể chứ chưa có công trình nào đề cập đến việc nghiên cứu
sâu sắc, có hệ thống và toàn diện vấn đề giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án.
Do đó, pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân thực trạng và
kiến nghị vẫn là vấn đề cần nghiên cứu về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về giải
quyết tranh chấp lao động tại Tòa án, cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa
án theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng, từ đó chỉ ra những
bất cập để đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án trên thực tế.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc giải quyết tranh chấp lao động
tại Tòa án, cụ thể là:
- Nghiên cứu khái quát chung về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án.
- Nghiên cứu thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
- Nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án ở Việt
Nam hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiến giải
quyết tranh chấp lao động tại Tòa án.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh
chấp lao động tại Tòa án dưới góc độ của luật lao động đồng thời đề cập đến một số
quy phạm của luật tố tụng dân sự nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết mục đích và

nhỏ bé vào việc hoàn thiện hệ thống và tổ chức vận hành có hiệu quả các loại hình

4


giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của các bên
trong mối quan hệ pháp luật lao động, đảm bảo lợi ích Nhà nước và xã hội, thực
hiện tốt mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp lao động tại
Tòa án nhân dân.
Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
nhân dân.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp
lao đông tại Toà án nhân dân.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm tranh chấp lao động.
1.1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án.
- Khái niệm tranh chấp lao động: Tranh chấp lao động là những tranh chấp về
quyền lợi và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện
lao động khác về thực hiện hợp đồng lao động, Thoả ước tập thể và trong quá trình
họcnghề.

đảm môi trường lao động và môi trường sống.
Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa người
lao động với người sử dụng lao động không phải lúc nào cũng diễn biến một cách
ổn định bình thường theo đúng những thỏa thuận. Giữa họ có thể sẽ xuất hiện
những bất đồng về quyền và lợi ích trong lao động. Có những bất đồng được các
bên thỏa thuận và giải quyết được song cũng có thể có những bất đồng mà sự
thương lượng của hai bên không thể giải quyết được. Những bất đồng, xung đột nếu
được giải quyết tốt thì sẽ không trở thành mâu thuẫn, ngược lại, nếu không được
giải quyết thì dễ trở thành những mâu thuẫn gay gắt. Quá trình giải quyết tranh chấp
lao động có thể trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó giải quyết tranh chấp
lao động tại Tòa án là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt. Tính đặc biệt đó thể hiện
ở một số khía cạnh sau đây:
Thứ nhất: Việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án được thực hiện
bởi Tòa án với tư cách là cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nước và được
tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ.
Tranh chấp lao động có thể được giải quyết bởi nhiều cơ quan, tổ chức,
khác nhau như: Hoà giải viên lao động, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Hội
đồng trọng tài lao động hay Tòa án nhân dân.

7


Tuy nhiên khác với Hoà giải viên lao động được thành lập bởi cơ quan quả
lý Nhà nước về lao động ở cấp huyện, hay Hội đồng trọng tài lao động...thì Tòa án
nhân dân là cơ quan tư pháp, nhân danh Nhà nước giải quyết các tranh chấp nói
chung và tranh chấp lao động nói riêng. Về tổ chức, trọng tài lao động được tổ chức
đơn giản và gọn nhẹ gồm: Chủ tịch, Thư ký và các trọng tài viên. Sự gọn nhẹ trong
tổ chức là điều kiện để thực hiện sự đơn giản, linh hoạt về thủ tục, sự giảm thiểu về
thời gian, kinh phí cho các bên. Còn Tòa án là cơ quan tư pháp, được tổ chức chặt
chẽ theo ngành dọc theo hệ thống Tòa án cấp huyện đến Tòa án cấp tỉnh, thành phố

nhau như: thương lượng, hòa giải, trọng tài và Tòa án. Mỗi biện pháp có những đặc
trưng, ưu điểm, hạn chế riêng. Về nguyên tắc, giải quyết tranh chấp lao động thông
qua thương lượng được coi là bước đầu tiên trước khi các bên lựa chọn hoặc phải
tham gia vào một phương thức mới để giải quyết tranh chấp lao động. Khi hai bên
không thương lượng được về việc giải quyết vụ án có thể lựa chọn người thứ ba
trung lập hòa giải tranh chấp. Theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam thì
người hòa giải có quyền đứng ra giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục hòa giải
độc lập gồm: Hòa giải viên lao động do cơ quan lao động cấp huyện cử ra. Tuy
nhiên, có trường hợp hòa giải không thành công và hòa giải chỉ là thủ tục cần thiết
để một trong các bên hoặc cả hai bên có thể sớm đưa vụ việc ra trước cơ quan tài
phán để giải quyết vụ tranh chấp lao động đó.
Việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án được tiến hành khi các biện
pháp có tính chất mềm dẻo, ôn hòa và linh hoạt hơn như thỏa thuận, thương lượng,
trọng tài ở các giai đoạn trước đó đã được sử dụng nhưng không đạt kết quả. Đối
với đa số các tranh chấp lao động thì trước khi khởi kiện ra Tòa án thủ tục thương
lượng, hòa giải hay trọng tài là điều kiện cần thiết để thụ lý vụ án lao động tại Tòa
án. Chỉ khi không đạt được kết quả ở các giai đoạn này, tranh chấp lao động mới
được đưa ra giải quyết ở Tòa án. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, để
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhanh chóng nhằm tiếp tục quan
hệ lao động, các bên chủ thể có thể khởi kiện thẳng ra Tòa án yêu cầu giải quyết
tranh chấp lao động dù chưa qua thủ tục thương lượng, hòa giải.

9


Về việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân cũng như tranh chấp lao
động tập thể giai đoạn từ 1945 đến trước khi có Bộ luật Lao động năm 1994 thì các
phương thức giải quyết tranh chấp lao động như thương lượng, hòa giải, trọng tài
rất hạn chế. Việc giải quyết tranh chấp lao động thông qua phương thức giải quyết
khiếu nại, tố cáo và cuối cùng là tòa án nhân dân vẫn là chủ yếu. Tuy nhiên, từ khi

Sở dĩ phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế bởi Tòa án nhân dân là cơ quan
nằm trong hệ thống tư pháp, nhân danh Nhà nước để giải quyết các tranh chấp nói
chung và tranh chấp lao động nói riêng, thông qua đó bảo vệ quyền lợi, tài sản của cá
nhân, công dân, tổ chức… theo quy định của pháp luật. Khi đương sự không tự giác thi
hành bản án, quyết định của Tòa án, Chi cục thi hành án dân sự có quyền tổ chức
cưỡng chế buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quyết định của Tòa
án. Với đặc điểm này, hiệu lực thi hành phán quyết của Tòa án sẽ cao hơn phán quyết
của Hoà giải viên lao động, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Hội đồng trọng
tài lao động.
Do đó các tranh chấp lao động khởi kiện tại Tòa án được giải quyết dứt
điểm và có khả năng bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Khi
các biện pháp hòa giải, trọng tài không đạt kết quả thì các chủ thể có quyền khởi
kiện ra Tòa án. Quyết định, bản án của Tòa án là quyết định giải quyết cuối cùng.
Mục đích của việc giải quyết tranh chấp lao động là dàn xếp những mâu thuẫn trong
quan hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể và trong một số
trường hợp còn nhằm mục đích để quan hệ lao động tiếp tục duy trì. Do đó việc giải
quyết tranh chấp lao động tại tòa án được tiến hành khi các biện pháp ôn hòa, mềm
dẻo ở các giai đoạn trước đã sử dụng nhưng không đạt kết quả.
Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án cũng có những
nhược điểm nhất định như:
- Việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án được thực hiện bởi cơ quan
tài phán mang tính quyền lực Nhà nước, được tiến hành theo quy trình, thủ tục chặt
chẽ không khỏi khiến cho người sử dụng lao động cũng như người lao động cảm
thấy bị gò bó và đôi khi quá cứng nhắc. Bên cạnh đó tâm lý của người Á châu thích
sự hòa giải ổn thỏa giữa các bên hơn là phải bắt buộc chấp nhận một bản án của Tòa
án. Thực tế đã chứng minh, ngay cả khi người lao động có được xử thắng kiện trong

11





dân để giải quyết các tranh chấp lao động đó. Ngoài những nguyên tắc được ghi
trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011; thì giải quyết tranh chấp lao động còn có
những nguyên tắc riêng dựa vào những đặc điểm riêng của từng loại tranh chấp lao
động.
Điều 194 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2012 ghi nhận 06 nguyên
tắc khi giải quyết tranh chấp lao động:
Nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm để các bên tự thương lượng quyết định trong
giải quyết tranh chấp lao động:
Đây là nguyên tắc được ghi nhận trong khoản 1 Điều 194 Bộ luật lao động
năm 2012. Tranh chấp lao động chủ yếu phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và các
quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động. Các bên trong quan hệ lao động tự do thoả
thuận hợp đồng lao động và các cam kết khác trong khuân khổ của pháp luật lao động.
Khi tranh chấp lao động xảy ra đồng nghĩa với việc những cam kết, thoả thuận ban đầu
bị phá vỡ. Do đó, để dàn xếp những bất đồng các bên có quyền và nghĩa vụ tự thương
lượng và dàn xếp để thoả thuận lại. Trực tiếp thương lượng và tự giải quyết bất đồng
cũng là cách thức đơn giản nhất thu hẹp khoảng cách giữa các bên.
Nguyên tắc bảo đảm thực hiện hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng
quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội,
không trái pháp luật.:
Việc giải quyết tranh chấp lao động phải chú trọng và đưa lên hàng đầu các
phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài. Trong trường hợp thông qua các
phương thức đó mà tranh chấp giữa các bên không thể giải quyết được hoặc các bên
không đồng ý với kết quả giải quyết thì có quyền sử dụng phương thức tiếp theo, đó
là kiện ra tòa án hoặc tiến hành đình công (đối với tập thể lao động).
Đặc điểm của quan hệ lao động là các bên có quyền tự do thỏa thuận hợp
đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể trong khuôn khổ của pháp luật lao động.
Vì vậy khi tranh chấp lao động xảy ra việc các bên thương lượng, dàn xếp để thỏa
thuận đảm bảo cho quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với điều kiện của từng

hoạt bình thường của xã hội, đặc biệt khi có tranh chấp lao động tập thể. Việc xét

14


xử phải tuân thủ các quy định cả về luật nội dung và các quy định về thủ tục giải
quyết.
Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình
giải quyết tranh chấp
Đại diện của các bên thường là những người am hiểu pháp luật, hiểu điều
kiện của các bên vì vậy có thể giúp cơ quan có thẩm quyền đánh giá về tranh chấp
chính xác hơn, từ đó đưa ra được các phương án giải quyết phù hợp. Tuy nhiên,
hiện nay sự tham gia của đại diện người sử dụng lao động chưa thực sự rõ nét, khi
xảy ra tranh chấp người lao động thường phải tự mình tham gia quá trình giải quyết
tranh chấp lao động.
Những nguyên tắc trên là những nguyên tắc chung nhất có tính định hướng
cho việc giải quyết tranh chấp lao động mà việc giải quyết tranh chấp lao động ở
các phương thức hòa giải, trọng tài, xét xử đều phải tuân thủ những nguyên tắc đó.
Tuy nhiên việc giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án là một giai đoạn tố tụng
khác với các phương thức giải quyết tranh chấp lao động khác nên ngoài việc tuân
theo các nguyên tắc chung của việc giải quyết tranh chấp lao động thì còn phải tuân
theo các nguyên tắc chung của hoạt động tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng dân
sự. Trong tố tụng dân sự, việc thực hiện đúng các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự
tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án và thi hành án được thuận lợi, ngăn chặn được
những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tố tụng, bảo đảm cho các đương sự có thể bảo
vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án.
Nguyên tắc việc giải quyết tranhh chấp lao động trước hết phải được hai
bên trực tiếp thương lượng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của hai bên tranh
chấp, ổn định sản xuất kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội.
Việc các bên tranh chấp tự thương lượng để giải quyết mọi bất đồng xảy ra

sự an toàn pháp lý. Do đó, đòi hỏi mỗi quốc gia đều phải quan tâm xây dựng hệ
thống pháp luật: gồm cả luật nội dung và hình thức. Cụ thể là luật nội dung các
quan hệ lao động (Bộ luật lao động) và tố tụng dân sự, lao động (Bộ luật tố tụng dân
sự). Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án phải đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng
trong giải quyết tranh chấp giữa các đương sự. Cơ quan tài phán (tòa án) phải là nơi

16


mọi người có quyền tự do liên hệ trong trường hợp quyền và lợi ích của họ bị xâm
phạm, mọi người đều có thể nhận được sự bảo hộ cần thiết của pháp luật. Bên cạnh
đó, thông qua hoạt động xét xử của Tòa án cũng nhằm giáo dục ý thức pháp luật,
ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong quan hệ lao động.
Phán quyết của Tòa án được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế
Nhà nước nên quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được đảm bảo thực hiện triệt
để. Củng cố niềm tin của các chủ thể vào pháp luật và hoạt động của cơ quan nhà
nước, là chỗ dựa pháp lý vững chắc cho người lao động và người sử dụng lao động.
Bên cạnh đó việc giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án được thực hiện bởi thẩm
phán và hội thẩm nhân dân có năng lực, chuyên môn, kinh nghiệm nên hạn chế
được sự tùy tiện, trái pháp luật về nội dung và thủ tục trong việc giải quyết tranh
chấp. Các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ ra phán quyết trên
cơ sở pháp luật, đảm bảo tính khách quan trong phán quyết của Tòa án.
Mục đích của việc giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án không chỉ nhằm
bảo vệ người đưa ra yêu cầu hoặc người đi kiện. Nếu chỉ nhằm mục đích như vậy, tài
phán lao động nói riêng và tài phán nói chung sẽ rơi vào chỗ sai lầm. Bởi vì, người
đưa ra yêu cầu hoặc người đi kiện chưa chắc đã là người có hành vi đúng đắn, hợp
pháp trong thực tế. Tính chất trung lập của pháp luật đòi hỏi các chủ thể nắm quyền
tài phán cũng phải trung lập trong hoạt động phân định tính hợp pháp, đúng đắn
trong hành vi của các bên. Do quá trình giải quyết tranh chấp lao động có sự tham
gia và quan tâm của nhiều chủ thể, mỗi chủ thể có tư cách và mối quan tâm khác

xây dựng các quy định về tài phán, tạo ra cơ chế pháp lý phù hợp để việc giải quyết
tranh chấp có hiệu quả.
Khi giải quyết các tranh chấp lao động và phán quyết của Tòa án có vai trò
giải tỏa những xung đột giữa các chủ thể, "làm mát" tình trạng nóng bỏng trong quan
hệ giữa các bên đồng thời dàn xếp những vấn đề vốn đã bị các bên "xới tung" lên một
cách có ý thức. Trong khi đang giành giật những cái đã mất hoặc đòi hỏi những cái
chưa có, các bên đã làm cho không chỉ quan hệ của mình xấu đi mà còn tạo ra trong
xã hội một sự xáo động nhất định. Vì môi trường của mối quan hệ lao động là một
môi trường nhạy cảm và dễ có xung đột, hơn nữa sự vận động của lao động chính là
sự vận động của lực lượng sản xuất xã hội, do đó, sự mất ổn định của lực lượng sản

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status