ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY KIỀU
CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH NĂM 2000 QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS HÀ THỊ MAI HIÊN
HÀ NỘI - 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
1.1.2. Nội dung căn cứ ly hôn........................................................................ 10
1.2.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ
CĂN CỨ LY HÔN .............................................................................. 13
1.2.1. Khái niệm............................................................................................. 13
1.2.2. Đặc điểm áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn..................................... 17
1.3.
CĂN CỨ LY HÔN QUA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM ................................................................... 19
1.3.1. Căn cứ ly hôn trong pháp luật thời phong kiến ................................... 19
1.3.2. Căn cứ ly hôn trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc .............................. 23
1.3.3. Căn cứ ly hôn quy định trong pháp luật Nhà nƣớc Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam....................................................................... 25
Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LUẬT, CÁC ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG
VÀ VIỆC ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN QUA THỰC TIỄN
XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG............... 30
2.1.
CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000........................................... 30
2.1.1. Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt đƣợc............................................................. 31
2.1.2. Vợ hoặc chồng bị tòa án tuyên bố mất tích ......................................... 36
DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT ÁN LY HÔN CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG..... 94
3.2.1. Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án
nhân dân thành phố Đà Nẵng nói chung và việc áp dụng pháp luật
trong giải quyết án ly hôn nói riêng..................................................... 94
3.2.2. Kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ
Thẩm phán, thƣ ký trong giải quyết án ly hôn tại thành phố Đà Nẵng... 96
3.2.3. Tăng cƣờng hoạt động giám đốc đối với các Tòa án quận, huyện
trong việc giải quyết án ly hôn ............................................................ 97
3.2.4. Nâng cao năng lực trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân............ 99
3.2.5. Tăng cƣờng phƣơng tiện và điều kiện cơ sở vật chất cho các Tòa
án nhân dân trên địa bàn thành phố và hoàn thiện chế độ chính
sách đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án ............................................ 101
KẾT LUẬN .................................................................................................. 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
HN & GĐ: Hôn nhân và gia đình
TAND:
Tòa án nhân dân
QTHL:
UBND:
ban nhân dân
HTND:
Hội thẩm nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là cái nôi sản sinh ra con ngƣời, nuôi dƣỡng, giáo dục và hình
thành nhân cách con ngƣời. Vì vậy Đảng và Nhà nƣớc ta trong những năm
qua luôn quan tâm tới vấn đề gia đình. Luật hôn nhân và gia đình ra đời có vai
trò góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN và GĐ tiến bộ, nhằm xây
dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc, bền vững. Quan điểm của
Đảng và Nhà nƣớc ta về gia đình đƣợc ghi nhận tại Điều 64 Hiến pháp năm
1992: "Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ HN và GĐ theo nguyên
tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Cha mẹ có trách
nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt, con cháu có bổn phận
chăm sóc ông bà, cha mẹ. Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt
đối xử giữa các con".
T u y n h i ên t ro n g t ì n h h ì n h h i ện n a y c ác v ụ án v ề l y h ô n đ an g n g à y c
à n g c ó c h i ề u h ƣ ớ n g g i a t ă n g , đ ò i h ỏ i T ò a á n p h ả i c ó đ ƣờ n g l ố i đ ể g i ả i q u
yế t c á c l o ạ i á n n à y. N g h i ê n c ứ u v ề c ă n c ứ g i ả i q u yế t c á c v ụ á n l y h ô n n h ằ
m b ả o v ệ q u yề n l ợ i h ợ p p h á p c ủ a c á c t h à n h v i ê n t r o n g g i a đ ì n h . Th ự c hiện
nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, tránh tình trạng phân biệt đối xử, tình t rạn g b
ạo l ự c t ro n g g i a đ ì n h .
Trong hoạt động tƣ pháp thì hoạt động của Tòa án là trung tâm và có
chung", Nhà xuất bản Phụ nữ; Trƣơng Kim Oanh (1996), "Hòa giải trong tố
tụng dân sự", Luận văn thạc sỹ Luật học; Th.s Nguyễn Phƣơng Lan (2005)
"Một số ý kiến về vợ chồng nhận nuôi con nuôi", Tạp chí Luật học số 2; Th.s
Nguyễn Hồng Hải (2003), "Bàn về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam hiện nay"; Khoa Nhà nƣớc và Pháp
luật- Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2004), "Lý luận
chung về nhà nước và pháp luật", Hà Nội…
Qua nghiên cứu những công trình nêu trên cho thấy, các tác giả chỉ đề
3
cập mặt này hay mặt khác trong quá trình giải quyết các vụ án ly hôn, mà
chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ về thực tiễn áp
dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án ly hôn tại TAND trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Là thực tiễn áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn trong hoạt động xét xử
của TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình giải
quyết các vụ án ly hôn của TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng, trong khoảng
thời gian từ năm 2006 đến năm 2011.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích luận văn:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về khái niệm, nội dung căn cứ ly hôn. +
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật.
+ Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án ly
hôn của TAND trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
+ Đề ra những giải pháp nhằm tăng cƣờng hiệu quả áp dụng pháp luật
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động áp
dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án ly hôn, làm rõ những đặc thù của
loại án này ở TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong áp dụng
pháp luật về giải quyết các vụ án ly hôn tại TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng
và đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ án ly
hôn tại TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng có hiệu quả.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về áp dụng pháp luật trong
5
giải quyết án ly hôn tại TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng. Góp phần nghiên
cứu những vấn đề lý luận về căn cứ giải quyết các vụ việc ly hôn nói chung,
làm phong phú thêm những vấn đề lý luận trong lĩnh vực này.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và
cơ sở thực tiễn cho những ngƣời trực tiếp làm công tác giải quyết án ly hôn,
nhằm thực hiện nghiêm chỉnh luật HN và GĐ.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những ngƣời
đang trực tiếp làm công tác giải quyết án ly hôn tại TAND nói chung và
TAND trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn và việc áp dụng
pháp luật về căn cứ ly hôn trong thực tiễn xét xử.
Chƣơng 2. Cơ sở pháp luật, các điều kiện tác động và việc áp dụng căn
cứ ly hôn qua thực tiễn xét xử của Tòa án tại thành phố Đà Nẵng.
xây dựng gia đình hạnh phúc. Vợ chồng cùng chung tay nuôi dạy con cái,
nhƣng khi hôn nhân có sự rạn nứt, trong nội bộ đời sống vợ chồng không thể
đạt đƣợc những mục đích là ý nghĩa của hôn nhân thì dù cố gắng duy trì mối
quan hệ đó cũng không thể mang lại hạnh phúc đƣợc.
7
Vấn đề ly hôn đƣợc quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc
gia cũng có những điểm khác nhau. Tùy theo thể chế chính trị, truyền thống
văn hóa và quan điểm lập pháp của từng nƣớc. Trên thế giới hiện nay có
những quốc gia quy định cấm ly hôn (nhƣ một số nƣớc theo đạo thiên chúa),
một số quốc gia khác thì hạn chế ly hôn bằng cách đặt ra những điều kiện hết
sức nghiêm ngặt đối với vợ chồng muốn ly hôn. Cấm ly hôn hay hạn chế ly
hôn đều là đi trái với quyền tự do dân chủ của mỗi cá nhân. Theo quan điểm của
Chủ nghĩa Mác - Lênin thừa nhận quyền tự do ly hôn của vợ chồng cũng là
thừa nhận quyền dân chủ xã hội. Lênin khẳng định: "Người ta không thể là một
người dân chủ và xã hội chủ nghĩa nếu ngay từ bây giờ, không đòi quyền hoàn
toàn tự do ly hôn, vì thiếu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với giới bị
áp bức, đối với phụ nữ được tự do bỏ chồng, thì không phải là ta khuyên tất
cả họ bỏ chồng".
Trên quan điểm tự do hôn nhân, bao gồm cả tự do kết hôn và tự do ly
hôn, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ không yêu nhau thì
cũng không bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu giữa họ
không còn nữa. Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng thoát khỏi cuộc
sống chung đầy đau khổ và không có hạnh phúc, với những mâu thuẫn sâu sắc
mà trong một thời gian dài họ đã không giải quyết đƣợc. Thừa nhận quyền tự do
ly hôn của vợ, chồng còn nhằm bảo vệ quyền lợi của những thành viên còn lại
trong gia đình. Vì vậy: "Tự do ly hôn tuyệt đối không có nghĩa là làm "tan rã"
những mối liên hệ gia đình, mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó
hội.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, căn cứ ly hôn qua các thời
kỳ cũng có những sửa đổi, bổ sung và thay thế cho phù hợp, góp phần không
nhỏ trong việc giải quyết các vụ án về ly hôn.
Luật HN và GĐ năm 1959 (Điều 6), Luật HN và GĐ năm 1986 (Điều
40) và Luật HN và GĐ năm 2000 (Điều 89) quy định dù hai bên vợ chồng
thuận tình ly hôn hoặc một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn khi mâu thuẫn
vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn
11
nhân không đạt đƣợc thì Tòa án quyết định cho ly hôn. Quy định về nội dung
căn cứ ly hôn nhằm đảm bảo quyền tự do cá nhân của vợ chồng trong quan hệ gia
đình. Đồng thời nhằm đảm bảo sự dung hòa giữa các lợi ích trái ngƣợc nhau
giữa vợ và chồng, trong đó có lợi ích của con cái, thể hiện ý chí của giai cấp
trong hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và trong khuôn khổ quy định
của pháp luật. Khi quy định về nội dung căn cứ ly hôn phải đảm bảo tính pháp
chế, có nghĩa là những nội dung, những điều kiện cần và đủ để giải quyết cho
vợ chồng phải đƣợc các bên chủ thể tôn trọng và triệt để thực hiện. Nếu việc quy
định nội dung căn cứ ly hôn không đảm bảo tính pháp chế, không đảm bảo
quyền lợi của vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình sẽ dẫn đến việc
tuân thủ pháp luật không nghiêm túc và có thể dẫn tới những vi phạm hoặc sự
tuân thủ pháp luật không mang tính tự nguyện.
Bên cạnh tính pháp chế, khi quy định về nội dung căn cứ ly hôn còn
phải đảm bảo tính khác quan, tính khả thi. Có nghĩa là, những quy định của
pháp luật về căn cứ ly hôn đƣợc quy định và áp dụng chung cho tất cả các
trƣờng hợp xin ly hôn. Tuy nhiên, khi áp dụng vào các trƣờng hợp ly hôn cụ
thể chúng ta không thể áp dụng mang tính rập khuôn máy móc. Việc quy định nội
dung căn cứ ly hôn nhằm đảm bảo sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của tất
phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự thì nhà nƣớc đã trao quyền cho Tòa án và
Tòa án căn cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật hình sự để xét xử ra một
bản án (văn bản ADPL hình sự) buộc kẻ phạm tội phải chịu một hình phạt nhất
định. Hoặc để bảo vệ an toàn giao thông, Nhà nƣớc bằng pháp luật đã quy
định cho các chiến sỹ cảnh sát giao thông có quyền áp dụng các quy phạm
pháp luật giao thông ra các quyết định xử phạt hành chính đối với các chủ thể
có hành vi vi phạm pháp luật giao thông nhƣ vƣợt đèn đỏ, đi vào đƣờng
ngƣợc chiều…Ngoài ra, trong một số trƣờng hợp, Nhà nƣớc cũng cho phép một số
tổ chức xã hội đƣợc ADPL, nhƣ pháp luật về Hội cho phép một số tổ chức xã
hội đƣợc ADPL ra quyết định tuyển nhân viên vào làm việc trong tổ chức của
mình.
14
Trong các hình thức thực hiện pháp luật, thì ADPL mà một hình thức
t h ực h i ệ n p h á p l u ậ t đ ặ c b i ệ t ,v ì p h á p l u ậ t ở đ â y đ ƣ ợ c t h ực h i ệ n b ở i c á c c h ủ t h
ể n ắ m q u yề n l ự c Nh à n ƣ ớ c . Nế u t u â n t h ủ p h á p l u ậ t , t h i h à n h p h á p l u ậ t v à s ử d
ụ n g p h á p l u ậ t l à n h ữn g h ì n h t h ứ c m ọ i c h ủ t h ể p h á p l u ậ t đ ề u c ó t h ể t ự t h ự c h
i ệ n t h ì A D P L l à h ì n h t h ứ c l u ô n c ó s ự t h a m g i a c ủ a Nh à n ƣ ớ c . A DP L l à h ì n h t
h ứ c r ấ t q u a n t r ọ n g c ủ a v i ệ c t h ực h i ệ n p h á p l u ậ t . T r o n g đ ó p h á p l u ậ t t ác đ ộ n g
v ào c u ộ c s ố n g , v à o c ác q u an h ệ x ã h ộ i đ ể đ ạt h i ệu q u ả c ao n h ất , c á c q u y đ ị n
h c ủ a n ó đ ề u đ ƣ ợ c t h ự c h i ệ n t r i ệ t đ ể , b ở i v ì A DP L l u ô n c ó s ự c a n t h i ệ p c ủ a n
h à n ƣớ c .
Trong thực tế, nếu chỉ thông qua các hình thức thực hiện pháp luật nhƣ:
Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật, thì pháp luật có
lúc không đƣợc thực hiện triệt để vì các chủ thể không tự giác thực hiện, bởi các
hình thức này chỉ do các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện mà không có sự bắt
buộc hay cƣỡng chế thực hiện của Nhà nƣớc.
Qua phân tích cho thấy ADPL có những đặc điểm sau:
ngƣời vợ có đơn yêu cầu thi hành án, thì cơ quan Thi hành án buộc ngƣời
chồng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nhƣ nội dung trong bản án đã có hiệu
lực quy định.
Thứ hai, khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nƣớc.
Chẳng hạn, Điều 55 của Hiến pháp năm 1992 quy định: "Lao động là quyền và
nghĩa vụ của công dân", nhƣng quyền và nghĩa vụ đó chỉ phát sinh khi có
quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân đƣợc
nhà nƣớc trao quyền tuyển dụng công dân vào đó làm việc.
Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý
giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không tự giải quyết
đƣợc. Chẳng hạn, khi phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
trong hợp đồng dân sự mà hai bên không bàn bạc giải quyết đƣợc nên nhờ
16
đến Tòa án và Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật ra một bản án
xác định các quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Thứ tư, trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nƣớc thấy cần thiết
phải tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ
đó hoặc Nhà nƣớc xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc, sự
kiện thực tế. Ví dụ: Việc xác nhận di chúc, chứng thực thế chấp, chứng
nhận đăng ký kết hôn…
Từ những phân tích trên, có thể đƣa ra khái niệm: ADPL là một hoạt đ
ộ n g ma n g t í n h t ổ c h ứ c , t í n h q u y ề n l ự c n h à n ư ớ c , t r o n g đ ó n h à n ư ớ c t h ô n g q u
a c á c c ơ q u a n n h à n ư ớc c ó t h ẩ m q u y ề n , c á c t ổ c h ứ c x ã h ộ i , c á c c á n h â n đ ư ợ
c Nh à n ư ớ c t r a o q u y ền că n c ứ và o cá c q u y đ ị n h củ a p h á p l u ậ t đ ể đ ề r a m ộ t v ă
n b ả n A D PL l à m p h á t s i n h , t h a y đ ổ i h o ặ c c h ấ m d ứ t c á c q u a n h ệ pháp
luật .
Hoạt động áp dụng pháp luật về căn cứ cho ly hôn đòi hỏi phải tuân
theo những trình tự thủ tục chặt chẽ. Điều này đƣợc thể hiện rõ trong quy định
của pháp luật tố tụng dân sự. Từ khâu nhận đơn, xử lý đơn, thụ lý vụ án và
giải quyết đều phải tuân theo những quy định về thời hạn, thời hiệu và những
yêu cầu cụ thể khác nhƣ: cung cấp tài liệu, chứng cứ, bổ sung các giấy tờ cần
thiết theo yêu cầu của tòa án. Trong đó nếu các bên đƣơng sự không thực hiện
đúng theo quy định của pháp luật thì Tòa án có thể trả đơn (nếu chƣa thụ lý)
hoặc đình chỉ giải quyết vụ án. Ví dụ nhƣ trƣờng hợp hết thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận giấy báo nộp tiền tạm ứng án phí mà đƣơng sự không nộp biên lai
thu tiền cho Tòa án thì Tòa án sẽ trả lại đơn cho ngƣời khởi kiện. Hay nguyên
đơn đƣợc triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thì
Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Đặc biệt áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn đòi hỏi tính sáng tạo cao.
Bởi vì các quy định của pháp luật về căn cứ ly hôn mang tính chất chung
chung, khái quát, song các trƣờng hợp xin ly hôn trong thực tế lại rất đa dạng,
phong phú nên đòi hỏi mỗi Thẩm phán khi giải quyết cho ly hôn phải nhìn
18