Quyền khai sinh, khai tử theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quyền khai sinh khai tử trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU TRANG

QUYỀN KHAI SINH, KHAI TỬ
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUYỀN KHAI SINH KHAI TỬ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Tuấn

HÀ NỘI - 2013 3
MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ VỊ
TRÍ QUYỀN KHAI SINH, KHAI TỬ TRONG HỆ THỐNG
QUYỀN NHÂN THÂN

6
1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân 6
1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân 6

Chương 2:
QUYỀN KHAI SINH, KHAI TỬ THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT DÂN SỰ

35
2.1. Sự cấn thiết của qui định về việc khai sinh, khai tử 35
2.2. Quy định của pháp luật hiện hành về khai sinh 36
2.2.1. Xác định thẩm quyền đăng ký khai sinh 39
2.2.2. Trình tự, thủ tục thực hiện 40
2.2.2.1.

Đăng ký khai sinh cho con trong giá thú 40
2.2.2.2.

Đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú 40
2.2.2.3.

Đăng ký khai sinh quá hạn 43
2.2.2.4.

Khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi 46
2.2.2.5.

Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại
Ủy ban nhân dân xã
47
2.3. Quy định của pháp luật hiện hành về khai tử 49
2.3.1 Thẩm quyền đăng ký khai tử 51
2.3.2. Thủ tục đăng ký khai tử 52
Chương 3:

3.5. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và kiến nghị trong việc
thực thi pháp luật về khai sinh, khai tử
71
3.5.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật 71
3.5.2. Kiến nghị 73

KẾT LUẬN
76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
78 6
DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
3.1 Bảng tổng hợp kết quả giải quyết các sự kiện hộ tịch của
Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội từ năm 2005
đến năm 2012
63 7
MỞ ĐẦU

tình trạng đăng ký khai sinh, khai tử cho đúng các quy định của pháp luật
trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tôi chọn đề tài "Quyền khai
sinh, khai tử theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam và thực tiễn áp
dụng quyền khai sinh, khai tử trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố
Hà Nội" để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, đã có một số công trình khoa
học nghiên cứu về quyền nhân thân dưới góc độ là một quyền của con người
trong lĩnh vực dân sự như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Bộ Tư
pháp: "Một số vấn đề về quyền dân sự và bảo vệ quyền dân sự trong Bộ luật
Dân sự Việt Nam"; Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân
dân tối cao với đề tài: "Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền
nhân thân của công dân theo quy định của Bộ luật Dân sự", công trình này
cũng chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò của Tòa án nhân dân trong việc
bảo vệ quyền nhân thân nói chung chứ chưa đưa ra được phương hướng giải
quyết tranh chấp, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân ở những trường hợp cụ
thể - trong khi đó mỗi quyền nhân thân lại có những đặc thù riêng.
Quyền khai sinh, khai tử là một trong số các quyền nhân thân đã được
quy định tại luật dân sự Việt Nam năm 1995, năm 2005. Do tính chất là quyền
quan trọng nên đã có nhiều học viên cao học, nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp
cận và nghiên cứu về quyền nhân thân trong đó có quyền khai sinh, khai tử ở
các khía cạnh khác nhau nhưng vẫn có một số vấn đề chưa khai thác hoặc
chưa khai thác hết hầu như chỉ dừng lại ở việc xem xét, đánh giá các quy định
của pháp luật mà chưa có sự đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp
luật trong việc thực hiện quyền khai sinh, khai tử.

9
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn:
Nghiên cứu đề tài "Quyền khai sinh, khai tử theo quy định của pháp luật

mới, đề tài tập trung sử dụng một số phương pháp chủ yếu: Phân tích, tổng
hợp, so sánh… Đề tài cũng kết hợp chặt chẽ giữu lý luận và thực tiễn trong
việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa và điểm mới của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về việc thực hiện quyền
khai sinh, khai tử theo quy định của luật dân sự trên địa bàn huyện Thanh trì.
Ngoài ra luận văn còn góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng
pháp luật trong việc thực hiện quyền khai sinh, khai tử, làm phong phú thêm
những vấn đề lý luận trong lĩnh vực này.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận
và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác đăng ký khai sinh,
khai tử và công dân thực hiện quyền của mình.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người trực
tiếp làm công tác đăng ký khai sinh, khai tử.
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng pháp
luật trong việc thực hiện quyền khai sinh, khai tử theo yêu cầu của công dân.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động
áp dụng pháp luật trong việc thực hiện quyền của công dân trên địa bàn huyện
Thanh trì và đề ra những giải pháp nhăm đảm bảo áp dụng pháp luật trong
lĩnh vực này đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

11
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền nhân thân và vị trí của quyền
khai sinh, khai tử trong hệ thống các quyền nhân thân.
Chương 2: Quyền khai sinh, khai tử theo quy định của pháp luật.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về khai sinh, khai tử trên địa
bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.


13
các quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự. Quyền và nghĩa vụ dân sự này có
thể do các bên thỏa thuận, trong một số trường hợp, pháp luật quy định cụ thể
về quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự mà các bên buộc phải thực hiện. Đảm bảo
những lợi ích chính đáng của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật
chính là đã bảo đảm quyền con người. Hay nói một cách khác quyền dân sự
được coi là một khái niệm được bao hàm trong nội dung của quyền con
người. Quyền dân sự với tư cách là một quyền con người cũng đã được pháp
luật quốc tế thừa nhận và bảo vệ. Nhà nước Việt Nam, bằng pháp luật cũng đã
thể hiện quan điểm rõ ràng trong việc bảo vệ quyền dân sự. Qua các bản hiến
pháp, cụ thể là Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ những quyền con người
cơ bản nhất được thể hiện tại Chương V. Quyền dân sự được định nghĩa là
"khả năng xử sự được phép của chủ thể có quyền năng được nhà nước quy
định hoặc công nhận khi tham gia vào quan hệ dân sự và bảo đảm cho các
quyền đó được thực hiện" [22]. Quyền dân sự ở một khía cạnh nhất định
chính là những lợi ích mà các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự mong
muốn đạt được, đó có thể là những quyền lợi liên quan đến vật chất hoặc
những lợi ích về tinh thần. Dựa vào những tiêu chí nhất định mà quyền dân sự
được phân loại thành những loại quyền khác nhau. Có thể nói sự phân loại
phổ biến nhất trong các hệ thống pháp luật dân sự trên thế giới là sự đối lập
giữa quyền nhân thân và quyền tài sản.
Về khái niệm quyền nhân thân, trên thực tế có nhiều quan điểm khi đề
cập tới khái niệm quyền nhân thân và cũng chưa có một định nghĩa thống
nhất. Luận văn trên cơ sở phân tích những quan điểm nổi bật và đưa ra những
nhận định của cá nhân.
Theo công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ của Tòa án nhân dân tối
cao, trong đề tài: "Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân
thân của công dân theo quy định của Bộ luật Dân sự" khái niệm quyền nhân
thân được xây dựng trên hai góc độ. Dưới góc độ chủ thể, quyền nhân thân

yêu cầu hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm bồi thường thiệt

15
hại vật chất hoặc tinh thần. Không ai được lạm dụng quyền nhân
thân của mình xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác [37, tr. 653].
Có thể thấy từ điển luật học này đã đưa ra khái niệm khá súc tích,
quyền nhân thân được khẳng định là một loại quyền dân sự, gắn liền với mỗi
cá nhân, các cá nhân không thể chuyển giao quyền nhân thân của mình cho
người khác, trừ trường hợp pháp luật quy định. Nội dung khái niệm về quyền
nhân thân trong cuốn từ điển này hoàn toàn trùng hợp với tư tưởng của Bộ
luật Dân sự năm 2005. Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định:
"Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền
với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác" [27].
Bên cạnh những quan điểm trên còn một số quan điểm của các nhà
nghiên cứu luật học mà ngay sau đây xin được trích dẫn một số quan điểm
tiêu biểu. Trong bài viết "Khái niệm và phân loại quyền nhân thân", Tạp chí
Luật học, số 7/2009, TS Bùi Đăng Hiếu đã thể hiển quan điểm không đồng
thuận với quy định tại Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005 ở hai điểm: Thứ
nhất, Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa rằng quyền nhân thân là
quyền dân sự gắn với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao trừ khi pháp luật có
quy định là một khẳng định không thấu đáo, bởi lẽ trên thực tế có một số
quyền dân sự thỏa mãn các đặc điểm trên đây nhưng không được xác định là
quyền nhân thân. Tác giả bài viết đưa ra những dẫn chứng cụ thể như trong
lĩnh vực hôn nhân gia đình, Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định
rằng: "nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị
em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng theo
quy định của luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ
khác và không thể chuyển giao cho người khác" [24], tương ứng với nghĩa vụ

Theo nghĩa chủ quan, tác giả cho rằng "quyền nhân thân là quyền dân sự chủ
quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân
không thể chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có

17
quy định khác" [15]. Có thể thấy tác giả đồng tình với quan điểm của nhà làm
luật khi xây dựng khái niệm về quyền nhân thân.
Phân tích một vài quan điểm của các nhà nghiên cứu, có thể thấy rằng
chưa thể có một khái niệm thống nhất về quyền nhân thân. Quyền nhân thân
là một loại quyền dân sự đặc biệt, có thể nói là một loại quyền dân sự gắn với
mỗi chủ thể từ khi chủ thể đó hình thành cho đến khi chấm dứt, không còn tồn
tại. Xã hội phát triển làm cho các quan hệ xã hội trở nên phức tạp, đa dạng và
biến hóa hơn, đồng thời do nhu cầu sản xuất, sinh hoạt, duy trì cuộc sống xã
hội dần hình thành nhiều các chủ thể với các hình thức tổ chức khác nhau. Cá
nhân là chủ thể chủ yếu, trung tâm trong mọi quan hệ xã hội, tuy nhiên xã hội
cũng đã hình thành và pháp luật đã công nhận nhiều loại chủ thể khác. Pháp
luật dân sự quy định các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự gồm: cá nhân,
pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình, Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Quyền nhân thân là một loại quyền con người, tuy nhiên quyền
nhân thân không chỉ gắn với con người với tư cách là cá nhân trong các quan
hệ pháp luật dân sự. Đối với pháp nhân, luật dân sự đã có quy định liên quan
đến nhân thân của pháp nhân, ví dụ như quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự
năm 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng đã nhắc
đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân. Bằng cách gián tiếp, Bộ luật Dân sự
đã công nhận quyền nhân thân cho các pháp nhân. Như vậy có thể khẳng định
quyền nhân thân không chỉ gắn với cá nhân mà có thể gắn với chủ thể khác.
Như ở phần đầu luận văn chúng tôi đã đề cập tới sự phân loại quyền
dân sự thành quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền tài sản được hiểu là
những quyền có khả năng định giá được bằng tiền và có thể chuyển giao một
cách hoàn toàn bình thường với tư cách là một loại tài sản. Quyền nhân thân

dân sự không quy định tất cả mọi người đều có khả năng hưởng những quyền
như nhau. Nguyên tắc bình đẳng về mặt dân sự có nghĩa là mọi cá nhân đều
có những quyền như nhau, đó không phải là một khả năng trừu tượng mà là

19
một thực tế. Lợi ích của quyền nhân thân được quy định như một thực tế chứ
không phải là quy định mang tính hình thức.
Đặc điểm thứ ba: Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản.
Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn
với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi. Vì không phải là tài sản nên quyền
nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền. Về mặt pháp lý, chúng ta cần
phân định rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân, ví dụ: một người sáng tạo
ra một sáng chế hay giải pháp hữu ích. Sáng chế hay giải pháp hữu ích do con
người sáng tạo nên mang giá trị kinh tế, chứ bản thân "Quyền tự do sáng tạo"
(Điều 47 Bộ luật Dân sự) không phải là tài sản, không mang giá trị kinh tế.
Đặc điểm thứ tư: Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không
thể chuyển giao cho chủ thể khác.
Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền
với mỗi cá nhân mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác. Các quyền dân sự
nói chung, quyền nhân thân nói riêng là do Nhà nước quy định cho các chủ thể
dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Do vậy về mặt nguyên tắc, cá nhân
không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác thì
quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá
nhân. Ví dụ, người này không thể đổi họ tên cho người khác và ngược lại hoặc
một người không thể ủy quyền cho người khác thực hiện quyền tự do đi lại của
mình và mình nhận quyền tự do kết hôn của người khác. Điều này có nghĩa rằng
bản thân chủ thể hưởng quyền nhân thân chứ họ không thể ủy quyền cho ai đó
và thông thường, không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện quyền này trừ
những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (Theo quy định của pháp luật,
việc thay đổi họ tên của người chưa thành niên có thể do cha mẹ của người này

1.1.3. Vai trò của quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Quyền nhân thân là một loại quyền dân sự được Nhà nước ghi nhận
cho các cá nhân. Việc ghi nhận các quyền nhân thân chịu ảnh hưởng rất lớn

21
bởi các yếu tố: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội. Với việc ghi nhận các
quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan,
quyền nhân thân có vai trò rất lớn, điều này được thể hiện ở những khía cạnh
sau đây:
Thứ nhất, quyền con người nói chung, quyền nhân thân nói riêng là
đối tượng được giải quyết dưới nhiều góc độ: triết học, chính trị học, sử học,
văn học, luật học Bộ luật Dân sự quy định các quyền nhân thân là sự khẳng
định của Nhà nước trong việc tôn vinh và bảo vệ các giá trị tinh thần của con
người. Dưới góc độ khoa học pháp lý, việc ghi nhận các quyền nhân thân
đánh dấu sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống pháp luật ở mức độ cao. Con
người là mục tiêu của mọi cuộc cách mạng, sự ghi nhận các quyền của cá
nhân, trong đó có quyền nhân thân trong một văn bản pháp luật có hiệu lực
pháp lý cao của Nhà nước ta thể hiện tính ưu việt của Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền của con người. Xã hội
ngày càng phát triển, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều thay đổi theo hướng
tích cực thì các giá trị tinh thần của con người càng được chú trọng. Trong bối
cảnh quốc tế hiện nay, việc ghi nhận các quyền nhân thân một lần nữa khẳng
định bản chất của Nhà nước ta - đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Qua việc quy định các quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật, một lần nữa
chúng ta lại thấy rằng một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ
càng được mở rộng bao nhiêu, thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu,
và do đó các quyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng
hơn cùng với những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả.
Thứ hai, các quy định về quyền nhân thân của cá nhân trong hệ thống
pháp luật là cơ sở để cá nhân thực hiện các quyền của mình. Ghi nhận các

cải chính công khai;
3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại [27].

23
Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, các quy định về quyền nhân
thân nói riêng luôn được Nhà nước ta quan tâm. Trong quá trình hoàn thiện hệ
thống pháp luật, một loạt các quy định về quyền nhân thân được sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với điều kiện xã hội mới.
Ở nước ta, trước đây các quyền nhân thân được pháp luật quy định
chưa nhiều. Trong cuộc sống hàng ngày, tên họ, hình ảnh, bí mật đời tư, danh
dự, nhân phẩm uy tín của cá nhân dễ bị xâm phạm với nhiều động cơ, mục
đích khác nhau, thậm chí người xâm phạm cũng không có động cơ và nhằm
mục đích nào. Nhiều trường hợp, người bị xâm phạm dù chịu rất nhiều khó
khăn khổ sở, nhục nhã mà không biết làm cách nào để tự vệ, buộc người vi
phạm chấm dứt hành vi xâm phạm đến bản thân mình, gia đình mình. Một số
vụ việc được giải quyết thì người bị xâm phạm chỉ được đền bù tượng trưng
bằng cách xin lỗi, chứ không có biện pháp nào để buộc họ phải bồi thường thỏa
đáng về những thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần cho người bị xâm phạm.
Những năm gần đây, cùng với những thành quả của công cuộc đổi
mới, sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005, nhiều
quyền nhân thân của công dân đã được Nhà nước ghi nhận và thực hiện nhiều
biện pháp bảo vệ. Chẳng hạn họ tên, hình ảnh (bao gồm ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh
do quay phim, tượng), bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân đã được pháp luật quy định ở nhiều văn bản pháp luật với các hình thức
bảo vệ cụ thể.
Nhiều vụ án đã được tòa án thụ lý xét xử, buộc người vi phạm dù là cá
nhân hay tổ chức đều phải có nghĩa vụ xin lỗi và bồi thường bằng tiền cho
người bị xâm phạm. Các cơ quan nhà nước tiến hành tố tụng (cơ quan điều
tra, truy tố, xét xử) gây oan; các cơ quan thông tấn, báo chí thông tin sai sự

sinh, quyền khai tử đã được quy định trong Bộ luật Dân sự của nhiều nước
trong đó có Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp năm 1919.

25
Điều 55 (Luật ngày 20/11/1919):
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày sinh trẻ, việc khai sinh
cho trẻ phải được thực hiện trước viên chức hộ tịch tại nơi trẻ sinh ra.
Trong trường hợp trẻ sinh ra không được khai sinh trong thời
hạn pháp luật quy định, thì viên chức hộ tịch chỉ có thể ghi việc sinh
vào sổ hộ tịch khi có bản án, quyết định của Tòa án quận nơi trẻ sinh
ra, nhưng phải ghi chú tóm tắt vào lề của trang tương ứng với ngày
sinh. Nếu không xác định được nơi sinh của trẻ thì Tòa án có thẩm
quyền sẽ là Tòa án nơi cư trú của người yêu cầu khai sinh [19].
Điều 78 (Luật ngày 07/2/1924): "Khi một người chết, giấy chứng tử
do viên chức hộ tịch của xã nơi người đó chết lập theo lời khai của thân nhân
người chết hoặc theo lời khai của người biết được những thông tin chính xác
và đầy đủ nhất về hộ tịch của người chết" [19].
Điều 79 (Pháp lệnh số 45-509 ngày 29/3/1945): "Việc một người chết
được ghi chú vào lề giấy khai sinh của người đó" [19].
Sau khi Liên hợp quốc ra đời, quyền khai sinh, khai tử trở thành mối
quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Quyền khai sinh, khai tử được ghi
nhận trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 và nhiều
công ước khác của Liên hợp quốc. Khoản 2 Điều 24 của Công ước quốc tế về
quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận: "Mọi trẻ em đều phải được
đăng ký khai sinh ngay sau khi ra đời và phải có tên gọi" [11].
Bên cạnh những quy định trong các công ước mang tính toàn cầu, áp
dụng cho mọi đối tượng không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân tộc… , một
số công ước quốc tế của Liên hợp quốc điều chỉnh những quan hệ trong từng
lĩnh vực, đối với từng đối tượng cụ thể cũng đề cập đến việc ghi nhận và bảo
vệ quyền khai sinh, quyền khai tử là một bộ phận không thể thiếu của quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status