ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
Đề tài:
QUYỀN XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM. NHỮNG VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Hồ Thị Vân Anh
Đinh Thị Cẩm Tú
Lớp: K36B Dân sự
Huế, 11/2015
Em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ
tận tình và chu đáo của quý thầy cô giáo
trong suốt quá trình học tại Trường Đại Học
Luật Huế. Những kiến thức bổ ích mà em
tiếp thu được từ thầy cô chính là nền tảng
vững chắc, hành trang quý giá để em
vững bước trên con đường tương lai.
Em xin trân trọng bày tỏ lời biết ơn sâu
Bộ luật dân sự.
UBND
:
Ủy ban nhân dân.
NST
:
Nhiễm sắc thể.
MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU............................................................................................................................................... 5
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
5
2.ĐÔI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
7
3.PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
7
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
11
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH
LẠI GIỚI TÍNH........................................................................................................................................ 13
1.5THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH
13
1.6NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH
20
1.7GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH.
24
2.3.1. Hoàn thiện về pháp luật..............................................................................................................24
2.3.2 Hoàn thiện về mặt thực tiễn.........................................................................................................25
C. KẾT LUẬN........................................................................................................................................... 27
PHỤ LỤC................................................................................................................................................ 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................... 30
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Xã hội ngày càng phát triển, đã tạo điều kiện cho chúng ta sống trong một
môi trường đầy đủ những tiện nghi về vật chất. Tuy nhiên, bên cạnh những
niềm vui về mặt vật chất đó thì trong cuộc sống hiện tại cũng còn tồn tại rất
nhiều những con người muốn khát khao được sống thật với giới tính của mình
hưởng trực tiếp đến quyền lợi của mỗi cá nhân nói riêng và của toàn xã hội
nói chung. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của mỗi cá nhân cũng như đáp ứng
nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, phát triển xã hội thì mỗi người cần được
sống đúng, sống thật với giới tính của mình.
Trước đây, pháp luật Việt Nam chưa cho phép những người lệch lạc về
giới tính có khuyết tật về giới tính được xác định lại giới tính của mình. Vì
vậy, đã có nhiều trường hợp tự ra nước ngoài phẫu thuật để tìm lại giới tính
thật của mình, nhưng khi trở về nước họ không được quyền sống đúng với
giới tính của mình về mặt pháp lý. Hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội
và sự hòa nhập của thế giới thì cách nhìn của chúng ta về những người khuyết
tật về giới tính có phần cởi mở hơn. Đặc biệt là sự thừa nhận của pháp luật
Việt Nam cho phép một số trường hợp được xác định lại gi-ới tính của mình.
Lần đầu tiên trong bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam có quy định riêng
một điều luật (điều 36) về quyền xác định lại giới tính. Bên cạnh luật còn có
các văn bản pháp luật khác như nghị định số 88/2008 NĐ-CP ngày 05 tháng 8
năm 2008 của Chính Phủ về vấn đề xác định lại giới tính, và thông tư 29/2010
TT-BYT ngày 24 tháng 05 năm 2010 hướng dẫn nghị định 88/2008 ngày 05
tháng 8 năm 2008 NĐ-CP về xác định lại giới tính do bộ y tế ban hành, đã
phần nào tạo được hành lang pháp lý cho việc xác định lại giới tính, và bảo vệ
quyền lợi cho những người sau khi xác định lại giới tính. Tuy nhiên, Thực
tiễn áp dụng pháp luật trong vấn đề xác định lại giới tính vẫn đang còn nhiều
hạn chế và vướng mắc nên cần có những hướng đi đúng để những người không
may mắn được sống đúng với giới tính của mình và để thể hiện tính nhân văn
và tôn trọng quyền con người trong pháp luật của nước ta.
2. Đôi tượng nghiên cứu.
- Quyền xác định lại giới tính của cá nhân theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu.
XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH
1.1 Khái niệm chuyển đổi giới tính và xác định lại giới tính.
Giới tính là một khái niệm xuất phát từ môn sinh vât học chỉ các đặc
điểm về cơ thể, liên quan đến chức năng sinh sản của phủ nữ và nam giới. Đây
là những đặc điểm khác biệt chỉ có ở phụ nữ hoặc nam giới. Củ thể là phụ nữ
mang thai, sinh con, cho con bú, còn nam giới có tinh trùng và làm cho phụ nữ
thụ thai. Sự khác biệt sinh học giữa phụ nữ và nam giới đươc gọi là giới
tính(sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến tái sản xuất con người và duy trì
nòi giống).
Xét về giới tính xã hội cơ bản chia làm hai giới tính là nam và nữ, theo lẽ
thông thường, sau khi một đứa trẻ ra đời tùy thuộc vào giới tính của trẻ mà
chúng sẽ được giáo dục, định hướng sẽ có những mô hình hành vi,cách thức
ứng xử,phương pháp giao tiếp khác nhau. Tuy nhiên trong thực tế một đứa trẻ
sinh ra không phải ai cũng đã có một giới tính nhất định mà còn có những
trường hợp giới tính không rõ ràng chưa xác định được là nam hay nữ nên từ
đó vấn đề xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính trở nên cần thiết và
ngày càng phổ biến hơn trên thực tế.
Xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính là hai thuật ngữ khác nhau.
Bản chất con người lúc nào cũng mang trong người hai loại giới tính nam và
nữ trong điều kiện và hoàn cảnh nhất định giới tính nào biểu hiện tính trạng
trội thì người đó được xem là mang giới tính ấy.
Chuyển đổi giới tính: nhằm chỉ các thủ tục y khoa dùng để thay đổi giới
tính của một người trong đó có thể bao gồm phẩu thuật thẩm mỹ hay không,
người chuyển đổi giới tính là người được chuyển đổi giới tính.
SVTH: Đinh Thị Cẩm Tú
1
định lại giới tính. Hay nói cách khác pháp luật nghiêm cấm việc xác định lại
SVTH: Đinh Thị Cẩm Tú
2
Niên luận
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
giới tính đối với người đã hoàn thiện về giới tính việc nghiêm cấm này nhằm
ngăn chặn các hành vi chuyển đổi giới tính phục vụ cho các quan điểm tâm
sinh lý lệch lạc, băng hoại đạo đức hoặc vì các mục đích khác như trốn tránh
trách nhiệm pháp luật, gian lận trong thể thao….
Từ khi pháp luật cho phép cá nhân xác định lại giới tính khi đã đáp ứng
đủ điều kiện của pháp luật đã có nhiều ý nghĩa to lớn về mặt xã hội nói chung
và bản thân mỗi cá nhân bất hạnh khi bị lệch lạc về giới tính nói riêng. Họ một
phần nào đã được pháp luật bảo vệ quyền con người của mình, được sống với
giới tính thật, được hoàn thiện về mặt pháp lý và đặc biệt là được pháp luật
bảo vệ trong khuôn khổ.
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền xác định
lại giới tính.
Bảo vệ quyền nhân thân là một trong những nguyên tắc được ghi nhận
trong BLDS năm 2005. Cùng với sự phát triển của xã hội quyền nhân thân
được nhà nước bảo hộ ngày càng mở rộng. Một trong số đó là “quyền xác
định lại giới tính” được quy định tại điều 36 BLDS năm 2005.
“Xác định lại giới tính là một quyền nhân thân được quy định tại điều 36
BLDS năm 2005 như sau “cá nhân có quyền xác định lại giới tính,việc xác
định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính
với những người đã hoàn thiện về giới tính(khoản 1-Điều4- nghị định
88/2008/ NĐ-CP về xác định lại giới tính) việc nghiêm cấm này nhằm ngăn
chặn những hành vi chuyển đổi giới tính phục vụ cho những quan niệm tâm
sinh lý lệch lạc, băng hoại đạo đức hoặc vì các mục đích khác như trốn tránh
trách nhiệm pháp luât, gian lận trong thể thao……
Thứ nhất, về tiêu chuẩn y tế về biểu hiện của bệnh lý. Những người
được xem xét để xác định lại giới tính là những người có biểu hiện sau:
Một là, có khuyết tật bẩm sinh về giới tính. khuyết tật bẩm sinh về giới
tính được hiểu là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ
khi sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam
lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật.
Nữ lưỡng giới giả nam: là một người có NST đồ kiểu nữ (46,XX) có hai
buồng trứng nhưng cơ quan sinh dục ngoài lại giống nam, thường do thời kì
phôi thai ,thai nhi nữ bị phôi nhiễm quá nhiều với hormone nam ngay từ khi
chưa sinh ra. Môi lớn và môi nhỏ của cơ quan sinh dục nữ dính vào nhau nên
SVTH: Đinh Thị Cẩm Tú
4
Niên luận
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
trông giống như bìu và âm vật phát triển to giống như âm vật. Thường vẫn có
tử cung và hai vòi trứng bình thường.
Nam lưỡng giới giả nữ: là trường hợp có NST đồ kiểu nam (46.XY )
nhưng cơ quan sinh dục ngoài lại không thành hình hoàn chỉnh không rõ nam
hay nữ hoặc rõ là con gái, bên trong cơ thể thì hai tinh hoàn có thể bình
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
đủ được tự mình quyết định mọi vấn đề liên quan đến các giao dịch do mình
thực hiện. Còn các trường hợp khác phải có người giám hộ để đảm bảo quyền
lợi cho cá nhân đó. Việc xác định lại giới tính cho cá nhân cũng phải tuân theo
các quy định về độ tuổi của cá nhân, thông tư 29/2010 TT-BYT ngày 24 tháng
05 năm 2010 hướng dẫn nghị định 88/2008 ngày 05 tháng 8 năm 2008 NĐ-CP
về xác định lại giới tính do bộ y tế ban hành, quy định về ba mẫu đơn khác
nhau tương đương với 3 độ tuổi xin xác định lại giới tính. Ở các độ tuổi khác
nhau thì người muốn xác định lại giới tính phải làm các mẫu đơn khác nhau như
người dưới 16 tuổi sẽ do cha mẹ đứng tên làm đơn hộ, còn những người từ 18
tuổi trở lên có thể tự mình làm đơn nhưng phải có sự đồng ý của cha mẹ. Việc
quy định này hoàn toàn phù hợp với các quy định về năng lực hành vi dân sự
của cá nhân trong BLDS.
Thứ ba, về tính tự nguyện, trong mọi trường hợp người muốn xác định lại
giới tính phải làm đơn gửi cơ sở khám chữa bệnh xin xác định lại giới tính nếu
không có đơn thì cơ sở y tế không được phép tiến hành xác định lại giới tính
cho cá nhân . Đặc biệt nghị định số 88/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 về
vấn đề xác định lại giới tính đã nhìn nhận sự khuyết tật về giới tính cũng như
nhu cầu được xác định lại giới tính là vấn đề mang tính cá nhân , thể hiện quyền
nhân thân của mỗi người. Vì vậy, theo quy định của nghị định việc thực hiện
quyền này nhất thiết “phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khách
quan và trung thực” có nghĩa là không bất kì một cá nhân tổ chức nào có quyền
bắt người có khuyết tật về giới tính phải xác định lại giới tính các can thiệp y tế
nếu không phải tự bản thân người đó quyết địnhvà người được xác định lại giới
tính phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính
của mình.
Để xác định lại giới tính, quy trình can thiệp y tế có thể tiến hành càng
sớm càng tốt theo quan điểm của y học và cho phép tiến hành cả với những
chú hoặc cột ghi những thay đổi sau này của Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau
của bản chính Giấy khai sinh.
Sau khi việc xác định lại giới tính đã được ghi vào Sổ đăng ký khai sinh,
thì nội dung ghi về giới tính trong bản sao Giấy khai sinh từ Sổ đăng ký khai
sinh sẽ ghi theo giới tính đã được xác định lại.
SVTH: Đinh Thị Cẩm Tú
7
Niên luận
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
Cách thức thực hiện:
Người yêu cầu xác định lại giới tính tự mình hoặc ủy quyền cho người
khác nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính đến UBND huyện
mà trong địa hạt của huyện đó đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây.
Thành phần, số lượng hồ sơ:
* Thành phần hồ sơ:
- Tờ khai đăng ký việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại
dân tộc, xác định lại giới tính trong Giấy khai sinh (theo mẫu quy định);
- Bản chính Giấy khai sinh của người cần xác định lại giới tính;
- Giấy chứng nhận y tế do Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can
thiệp y tế để xác định lại giới tính theo quy định của Nghị định số
88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính;
- Trường hợp ủy quyền cho người khác làm thay phải có văn bản ủy
quyền được công chứng hoặc chứng thực hợp lệ. Nếu người được ủy quyền là
ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì
23 tháng 5 năm 2012 của Bộ Tư pháp).
Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
- Việc xác định lại giới tính cho những người chưa thành niên hoặc đã
thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo yêu cầu
của cha mẹ hoặc người giám hộ.
- Việc xác định lại giới tính chỉ được thực hiện đối với người có khuyết
tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác (Nghị
định số 158/2005/NĐ–CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ )
1.3.3 Hậu quả pháp lý của việc xác định lại giới tính.
Để có thể sống thật với giới tính của mình, sống một cuộc sống bình
thường, những người có nguyện vọng xác định lại giới tính, không chỉ trải qua
một quy trình can thiệp y tế đơn thuần, mà nhất thiết phải có được sự cho phép
cũng như bảo vệ của pháp luật. Vì thế, sự xuất hiện của các hệ qủa pháp lý
liên quan là tất yếu. Những người đã được xác định lại giới tính sẽ được pháp
luật bảo vệ các quyền sau:
Thứ nhất, Được tôn trọng và bảo vệ đời tư.
Theo quy định của pháp luật, những người có khuyết tật bẩm sinh về giới
tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác, trước và sau khi được xác
định lại giới tính đều được hoàn toàn bình đẳng về quyền nhân thân với các
SVTH: Đinh Thị Cẩm Tú
9
Niên luận
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
công dân khác. Có nghĩa là họ có quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
Niên luận
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
hiện việc can thiệp y tế xác định lại giới tính cấp) để giải quyết việc đăng ký
hộ tịch cho người đã xác định lại giới tính theo sự dẫn chiếu của nghị định
88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 về việc xác định lại giới tính thẩm
quyền, thủ tục cho người đã được xác định lại giới tính sẽ được thực hiện theo
quy định tại điều 36, điều 37, điều 38 của nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27
tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch. Người đã xác định lại giới
tính sẽ được thay đổi và công nhận giới tính, được thay đổi họ tên phù hợp với
giới tính trên các giấy tờ hộ tịch. UBND cấp Quận, Huyện có thẩm quyền tiến
hành thủ tục cải chính này.
Thứ ba, được xây dựng gia đình và nhận con nuôi.
Sau khi đã được xác định lại giới tính để trở lại sống với giới tính thật và
đơn nhất (hoặc nữ,hoặc nam) của mình, người đã được xác định lại giới tính
sẽ được tự do kết hôn như công dân khác theo quy định của BLDS (điều 39)
và luật hôn nhân gia đình(điều 9) pháp luật cũng công nhận và bảo vệ quyền
được nuôi con nuôi của cá nhân hoặc vợ chồng của những người này.
1.4 Vấn đề xác định lại giới tính tại một số nước trên thế giới.
Ở Mỹ, Sáng ngày 26.06.2015, Tòa án Tối cao Mỹ đã chính thức hợp pháp
hóa hôn nhân bình đẳng tại 50 tiểu bang và Quận Columbia với 5 phiếu thuận
và 4 phiếu chống từ 9 vị thẩm phán. Một chiến thắng mang tính lịch sử cho
cộng đồng LGBT (tên viết tắt của Cộng đồng những người đồng tính luyến ái
nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và
Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender) Mỹ. Quyết định
này được xem là một chiến thắng mang tính lịch sử đối với các nhà hoạt động
quyền đồng tính đã chiến đấu trong nhiều năm tại những Tòa án thấp hơn.
Niên luận
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH
1.5 Thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về vấn đề xác định lại giới
tính
Theo quan niệm truyền thống, con người chỉ có hai giới tính, đó là nam
và nữ. Tuy nhiên, trong thời đại mới này khái niệm giới tính đã mở rộng hơn
và thừa nhận sự tồn tại của giới tính thứ ba thường gọi là ái nam ái nữ, thậm
chí là có cả khái niệm giới tính thứ tư được gọi là người không giới tính. Ngày
nay, không còn hiếm thấy các trường hợp nhiều đứa trẻ sinh ra không được
hoàn thiện về giới tính như đa số người, bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính,
giới tính được định hình không chính xác. Phải thừa nhận rằng giới tính là một
yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của con người bởi khi được sinh ra không đứa
trẻ nào có quyền được lụa chọn giới tính cho mình, bố mẹ, người thân của đứa
trẻ thì càng không có những quyền này. Vậy nên, khi có sự sai lầm về việc xác
định giới tính ban đầu thì việc xác định lại giới tính cho đúng là một việc cần
thiết và nên làm. Bên cạnh sự công nhận về mặt gia đình, xã hội, về mặt y học
thì cái quan trọng và cần thiết nhất của việc xác định lại giới tính là được pháp
luật cho phép và công nhận. Chính vì vậy mà pháp luật Việt Nam cũng đã có
những quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này.
Trước khi có quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005, thì ở Việt Nam chưa
có bất kỳ văn bản nào quy định về vấn đề này. Trẻ bị khuyết tật giới tính
thường chỉ căn cứ vào bộ phận sinh dục rồi đăng ký khai sinh là nam hay nữ,
bởi vì nước ta vẫn là xã hội khép kín phương Đông, nên nhiều người không
quan tâm đến vấn đề này. Nhưng bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân
giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Như vậy, pháp luật Việt
Nam hiện nay chưa thừa nhận giới tính nào khác ngoài giới tính nam và nữ,
cũng chưa cho phép kết hôn đồng giới (Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình). Các
trường hợp không có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính đã được
định hình chính xác mà vẫn cố tình nhờ sự can thiệp của y học để chuyển đổi
giới nhằm thỏa mãn ý thích cá nhân hoặc nhằm mục đích trục lợi hoặc để trốn
tránh sự trừng phạt của pháp luật thì không được pháp luật cho phép. Vấn đề
nghỉ hưu của những người này vẫn chưa có quy định pháp luật cụ thể. Khoản 1,
SVTH: Đinh Thị Cẩm Tú
14
Niên luận
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
Điều 50 Luật Bảo hiểm quy định “Người lao động quy định tại các điểm a, b, c
và e khoản 1, Điều 2 của Luật này có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên
được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Nam đủ
60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi… Như vậy, việc giải quyết chế độ hưu trí đối với người
lao động trước kia là nữ giới, nay được pháp luật cho phép chuyển giới là nam
và ngược lại vẫn là vướng mắc cần giải quyết.
Theo một khảo sát thực tế của các chuyên gia pháp lý khi xây dựng nghị
định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 về xác định lại giới tính
thì ở Việt Nam trung bình cứ 10.000 người thì có một người có nhu cầu tìm lại
giới tính của mình. Tuy nhiên, trên thực tế tại các bệnh viện lớn, các cơ sở
khám chữa bệnh được phép can thiệp xác định lại giới tính cho biết có rất ít
trường hợp cá nhân đến xin xác định lại giới tính, con số này là rất nhỏ so với
Trâm sinh ra tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kinh tế gia đình khó khăn nên
từ nhỏ Trâm đã cùng cha mẹ di cư đến vùng kinh tế mới ở tỉnh Bình Phước
làm ăn sinh sống. Cô là người song tính với phần "con gái" lấn át hơn, nhưng
mang ngoại hình con trai nên từ lúc lọt lòng nên đã được gia đình "mặc định"
là con trai. Khi bước vào tuổi dậy thì, cô thấy cơ thể bắt đầu có những thay đổi
như một người phụ nữ, ngực cứ từ từ lớn dần. cô lo sợ và không dám nói
chuyện này với ai, chỉ biết giấu bằng cách ăn thật nhiều cho cơ thể mập lên để
không ai biết. Từ nhỏ Trâm học rất giỏi nên luôn được thầy cô và bạn bè yêu
mến. Mặc dù vậy, mang trong mình nỗi mặc cảm "nam không ra nam, nữ
không ra nữ" nên Trâm chỉ thui thủi đi học rồi lại về nhà đóng cửa một mình.
Năm 2006, với khao khát được sống với giới tính thật, Sau khi tiến hành
xét nghiệm y khoa cho thấy lượng hormone cũng như đặc điểm bộ phận sinh
dục của Trâm thiên về giới tính nữ nhiều hơn, các bác sĩ ở một bệnh viện tại
TP HCM đã tư vấn sang Thái Lan để làm phẫu thuật. Trâm đã quyết định nghỉ
học đi làm thêm đẻ dành dụm tiền qua Thái làm phẫu thuật chuyển giới
Trở về Việt Nam sau khi phẫu thuật xong, Trâm đã gửi đơn lên các cơ
quan chức năng để được chuyển đổi giới tính và thay đổi tên trong giấy tờ tùy
thân. Mặc dù gặp nhiều khó khăn vì từ trước đến giờ chưa có tiền lệ, song đến
Ngày 5/11/2009, UBND một thị trấn ở tỉnh Bình Phước đã ra văn bản số 5876
QĐ/UBND ghi rõ: cho phép Phạm Văn Hiệp được xác định lại giới tính từ
nam sang nữ và đổi tên thành Phạm Lê Quỳnh Trâm. Cuối cùng sau những nổ
SVTH: Đinh Thị Cẩm Tú
16
Niên luận
GVHD: TS. Hồ Thị Vân Anh
17