Quyền định đoạt của người lập di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ THỊ THƠ

QUYÒN §ÞNH §O¹T CñA NG¦êI LËP DI CHóC
THEO QUY §ÞNH CñA Bé LUËT D¢N Sù 2005 - MéT Sè VÊN
§Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN
Chuyên ngành

: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự

Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ ĐÌNH NGHỊ

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ trong Luận văn đảm bảo độ tin
cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của

29

2.1. Các quyền định đoạt của người lập di chúc

30

2.2. Những hạn chế quyền tự định đoạt của người lập di chúc

43

Chƣơng 3: THỰC TIỄN VẬN DỤNG VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN CÁC
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VỀ QUYỀN
ĐỊNH ĐOẠT CỦA NGƢỜI LẬP DI CHÚC

48

3.1. Thực tiễn vận dụng các quy định pháp luật về quyền định đoạt của
người lập di chúc

48

3.2. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005
về quyền định đoạt của người lập di chúc

65

KẾT LUẬN

70


thời kỳ phát triển lập pháp ở Việt Nam, nghiên cứu về thừa kế theo di chúc ở Việt
Nam hiện nay không ít, các công trình này được thực hiện dưới dạng khóa luận,
luận văn, luận án. Tuy nhiên thừa kế theo di chúc được thực hiện tại các thời điểm
khác nhau và cách xa nhau kể từ khi có pháp lệnh thừa kế ngày 30 tháng 8 năm
1990, là dựa theo Thông tư của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, như


2
thông tư số 81-TANDTC ngày 24 tháng 7 năm 1981, hướng dẫn giải quyết các
tranh chấp về quyền thừa kế. Sau đó là Pháp lệnh thừa kế, BLDS 1995, BLDS 2005.
Vì vậy các công trình nghiên cứu về thừa kế theo di chúc có các nôi dung tương ứng
với quy định của pháp luật tại các thời kỳ là khác nhau. Trước khi BLDS 2005 được
ban hành, có một số khóa luận của sinh viên và luận văn thạc sĩ viết về thừa kế theo di
chúc như tác giả Nguyễn Mạnh Hùng với đề tài: “Thừa kế theo di chúc ở Việt Nam
hiện nay”; tác giả Vũ Hải Yến với đề tài: “Một số vấn đề cơ bản về di chúc” và một số
công trình nghiên cứu về thừa kế nói chung như tác giả Nguyễn Minh Tuấn với luận
văn thạc sỹ với đề tài: “Những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt
Nam”, tác giả Phùng Trung Tập với luận án tiến sĩ “Thừa kế theo pháp luật của công
dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay”; tác giả Phạm Văn Tuyết với đề tài luận án tiến sĩ:
“Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam”.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại nghiên cứu một số
quy định về thừa kế theo di chúc trong luật dân sự Việt Nam mà chưa nghiên cứu
sâu về quyền định đoạt của người lập di chúc.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ quy định của BLDS về quyền
định đoạt của người lập di chúc, cơ sở lý luận thực tiễn của các quy định của pháp
luật về quyền định đoạt của người lập di chúc thông qua việc phân tích các quy định
của pháp luật dân sự hiện hành về quyền định đoạt của người lập di chúc, đánh giá
thực tiễn vận dụng những quy định đó trong đời sống liên quan đến thừa kế theo di

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền định đoạt của người lập di chúc
Chương 2: Nội dung quyền định đoạt của người lập di chúc quy định của
pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn vận dụng và hướng hoàn thiện các quy định của Bộ luật
Dân sự 2005 về quyền định đoạt của người lập di chúc.


4
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT CỦA NGƢỜI LẬP DI CHÚC
1.1. Di chúc và ngƣời lập di chúc
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của di chúc và các loại di chúc
1.1.1.1. Khái niệm di chúc
Di chúc đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hình thức
di chúc khác nhau, Trong thế giới cổ đại, di chúc đã xuất hiện với rất nhiều hình
thức đa dạng khác nhau, có thể bằng văn bản viết tay, cũng có thể bằng lời nói.
Di chúc là cơ sở quan trọng nhất để thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển
tài sản của mình cho người khác sau khi chết và cũng là cơ sở để xác lập quyền sở
hữu di sản của người hưởng di sản thừa kế của người hưởng di sản thừa kế.
Thuật ngữ di chúc đã được đề cập và sử dụng nhiều trong đời sống nên từ
lâu, đã trở thành một vấn đề hết sức quen thuộc đối. Tuy vậy, nó thường chỉ
được hiểu một cách đơn giản, dưới ngôn ngữ đời thường: “Di chúc là sự dặn lại
của một người trước lúc chết với những người khác về những việc cần làm, nên
làm” [17, tr.254].
Tìm hiểu về khái niệm di chúc và xem xét dưới góc độ pháp lý là một việc
làm hết sức cần thiết đối với việc nâng cao dân trí pháp luật. Người lập di chúc
muốn di chúc của mình được mọi người và cơ quan nhà nước thừa nhận, tránh được

Qua những phân tích ở phần khái niệm di chúc, chúng ta thấy rằng, di chúc
với tư cách là căn cứ để dựa vào đó thực hiện quá trình dịch chuyển di sản của
người chết cho người khác luôn hàm chứa các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: Di chúc là ý chí đơn phương của cá nhân.
Di chúc là “sự thể hiện ý chí của cá nhân” (Đ.646, BLDS 2005) nên nó được
hình thành bằng ý chí đơn phương của người để lại thừa kế (một bên chủ thể trong
giao dịch dân sự về thừa kế). Theo đó họ quyết định chuyển giao một phần hoặc
toàn bộ tài sản của mình cho người đã được họ xác định trong di chúc mà không
biết người đó có nhận di sản của mình hay không. Như vậy, nếu hợp đồng (giao
dịch hai bên) được hình thành bởi sự thoả thuận ý chí của nhiều bên chủ thể thì di
chúc chỉ là sự quyết định đơn phương của người lập ra nó.


6
Đối với những di chúc do vợ, chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện ý
chí của cả hai người nhưng di chúc vẫn mang tính chất quyết định đơn phương bởi
dù di chúc thể hiện ý chí của nhiều người nhưng những người đó vẫn chỉ là một bên
trong giao dịch dân sự.
Thứ hai: Di chúc nhằm chuyển dịch di sản của người chết cho người khác đã
được xác định trong di chúc.
Đây là nội dung quan trọng không thể thiếu được của một di chúc nếu muốn
được coi là một căn cứ để dịch chuyển tài sản của người chết cho những người
khác. Thông thường, một người chỉ lập di chúc trong trường hợp họ có một khối tài
sản trước khi chết và muốn bằng ý chí của mình để định đoạt cho ai. Mặt khác, cho
dù trước lúc chết, người đó có một khối tài sản và cũng để lại di chúc nhưng nếu di
chúc không chứa đựng nội dung này thì cũng không làm phát sinh việc thừa kế theo
di chúc. Nghĩa là di chúc đó chẳng có ý nghĩa gì đối với quá trình dịch chuyển di
sản. Nói cách khác, di chúc chỉ đem lại ý nghĩa về mặt vật chất cho những người
thừa kế theo di chúc đồng thời chỉ thật sự là một phương tiện để người để lại thừa
kế thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình chừng nào di chúc chứa đựng

thừa kế theo di chúc không có bất kỳ một quyền nào đối với tài sản của người lập di
chúc và họ cũng chưa chắc chắn có được hưởng di sản đó hay không. Pháp luật tôn
trọng quyền lập di chúc của cá nhân với hai mục đích. Một mặt, nhằm đảm bảo
quyền định đoạt của chủ sở hữu. Mặt khác, nhằm đảm bảo cho cá nhân thông qua
việc định đoạt tài sản của mình để thể hiện tình cảm, trách nhiệm của mình đối với
những người khác. Vì vậy, nếu sự định đoạt trong di chúc đã lập không còn phù hợp
với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại thì người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung,
hoặc huỷ bỏ di chúc.
1.1.1.3. Các loại di chúc
Điều 649, BLDS 2005 đã quy định: “Di chúc phải được lập thành văn bản;
nếu không thể lập được di chúc văn bản thì có thể di chúc miệng”. Như vậy, theo
quy định của pháp luật về thừa kế thì việc lập di chúc chỉ có thể tiến hành theo một
trong hai hình thức: Hoặc là bằng một văn bản, được gọi là di chúc viết (hay còn gọi
là chúc thư) hoặc là thông qua lời nói, được gọi là di chúc miệng (hay còn gọi là
chúc ngôn).


8
a. Di chúc bằng văn bản
Việc quy định một cách chặt chẽ về hình thức và thủ tục lập di chúc không
chỉ nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho các chủ thể mà còn hướng tới việc tạo
ra tính xác thực cho những di chúc đã lập qua đó nhằm tạo ra cơ sở pháp lý để bảo
vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế.
Theo quy định của pháp luật, tất cả các di chúc được thể hiện bằng hình thức
văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về nội dung đồng thời mỗi một thể thức cụ
thể của di chúc viết phải tuân theo một trình tự tương ứng. Để bản di chúc viết của
mình có hiệu lực pháp luật, người lập di chúc cần quan tâm tới các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất: các yêu cầu về nội dung đối với mọi di chúc viết
- Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc
Đây là một vấn đề thủ tục đơn thuần nhưng hết sức quan trọng về mặt nội

mình chết phải được xác định rõ trong di chúc. Nếu người lập di chúc chỉ cho
những người nói trên hưởng di sản khi họ đáp ứng được các điều kiện mà mình
mong muốn thì trong di chúc phải xác định cụ thể các điều kiện đó.
Với nội dung này, chúng ta cần xác định hai vấn đề sau đây:
Một là, về nguyên tắc chỉ người nào được người lập di chúc xác định trong di
chúc mới là người thừa kế theo di chúc của người đó. Vì thế, dù người lập di chúc
có ý định cho một người hưởng di sản của mình nhưng vì nhầm lẫn hoặc sai sót nên
người lập di chúc không xác định họ trong di chúc thì người đó vẫn không phải là
người thừa kế theo di chúc của người đã lập di chúc.
Hai là, đối với trường hợp trong di chúc không xác định rõ họ, tên của người
mà người lập di chúc muốn cho hưởng di sản nhưng thông qua các yếu tố khác có
thể xác định được người đó là ai thì họ vẫn là người được hưởng di sản theo di
chúc. Chẳng hạn: Người để lại di sản lập di chúc cho một đứa trẻ chưa sinh ra
hưởng di sản của mình.
- Di chúc phải ghi rõ di sản để lại và nơi có di sản
Người lập di chúc chỉ được định đoạt những tài sản thuộc sở hữu của mình
cho những người thừa kế. Hay nói cách khác, di sản thừa kế chỉ là những tài sản
thuộc quyền sở hữu của người chết (di sản là quyền sử dụng đất sẽ xem xét ở phần
sau). Vì vậy việc ghi rõ di sản trong di chúc nhằm qua đó để xác định người lập di


10
chúc có những tài sản gì, những tài sản đó được phân định như thế nào. Tuy nhiên,
sự quy định này của pháp luật với mục đích chủ yếu là nhằm hướng dẫn để các cá
nhân lập di chúc được rõ ràng cụ thể nên nếu di chúc không ghi rõ, liệt kê từng loại
tài sản thì cũng không vì thế mà coi di chúc đó là bất hợp pháp được. Trong những
trường hợp này, người có thẩm quyền sẽ căn cứ vào pháp luật về quyền sở hữu tài
sản mà xác định những gì thuộc về di sản của người đã chết để lại.
Ngoài việc ghi rõ di sản, người lập di chúc cần xác định rõ trong di chúc về
nơi có di sản để sau khi mình chết, những người thừa kế dựa vào đó dễ dàng xác

hay không ?
Như đã xác định, yêu cầu trên của pháp luật chỉ mang tính hướng dẫn nên
không thể căn cứ vào việc người lập di chúc đã viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu để
xác định di chúc của họ là vô hiệu. Theo chúng tôi, khi xem xét vấn đề này cần phải
chia thành hai trường hợp:
Một là, nếu chữ viết tắt, viết bằng ký hiệu trong di chúc đều được tất cả
những người thừa kế (cần lưu ý là cả người thừa kế theo di chúc, cả người thừa kế
theo luật) của người để lại di sản thừa nhận và cùng hiểu theo một nghĩa thì việc
viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu sẽ không ảnh hưởng gì đến hiệu lực của di chúc.
Hai là, nếu mỗi người thừa kế hiểu chữ viết tắt, viết bằng ký hiệu một cách
khác nhau và họ không thể thống nhất được với nhau về cách hiểu chữ viết tắt hoặc
viết bằng ký hiệu đó thì coi như không có di chúc (di chúc không có giá trị pháp lý).
Tuy nhiên, nếu chữ viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu đó chỉ liên quan đến một phần
của di chúc mà không ảnh hưởng đến phần khác của di chúc thì chỉ riêng phần đó
không có hiệu lực pháp luật. Phần còn lại của di chúc vẫn có hiệu lực pháp luật.
Bên cạnh việc không viết tắt, viết bằng ký hiệu trong di chúc, người lập di
chúc phải đánh số trang theo thứ tự (nếu di chúc bao gồm nhiều trang) và phải ký
hoặc điểm chỉ vào từng trang của di chúc để đề phòng người khác thêm, bớt số
trang, giả mạo hoặc thay thế từng trang của di chúc.
Chúng ta đều biết rằng, di chúc chỉ được thừa nhận nếu đúng là của chính
người để lại di sản lập ra. Mặt khác, di chúc (và từng trang của di chúc) chỉ được
coi là của chính người để lại di sản lập ra nếu trong đó có chữ ký hoặc điểm chỉ của
họ. Vì vậy, nếu trong di chúc thiếu yếu tố này thì di chúc đó sẽ không có hiệu lực


12
pháp luật. Tuy nhiên, dù nhà làm luật chưa dự liệu nhưng cần phải xác định thêm
rằng: trong những trường hợp vì lý do đặc biệt nên người lập di chúc không thể ký
cũng như điểm chỉ vào bản di chúc được (chẳng hạn họ bị cụt cả hai tay, hai chân)
nhưng đã có chữ ký của hai người làm chứng trở lên thì bản di chúc đó vẫn có hiệu

viết” (Điều 656, BLDS 2005). Tuy nhiên, khi lập loại di chúc này phải có ít nhất là
hai người làm chứng và người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc
trước mặt những người làm chứng đồng thời trong bản di chúc đó phải có chữ ký
của những người làm chứng và sự xác nhận của họ về chữ ký, điểm chỉ của người
lập di chúc. Thiếu một trong các yếu tố này di chúc sẽ không có hiệu lực pháp luật.
- Đối với di chúc có công chứng nhà nước hoặc chứng thực.
Nếu người lập di chúc tự tay viết bản di chúc và có yêu cầu Công chứng nhà
nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực thì người
lập di chúc phải ký vào bản di chúc trước mặt người có thẩm quyền chứng nhận
hoặc chứng thực.
Trong trường hợp người để lại di sản đến Công chứng nhà nước hay đến Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn để lập di chúc tại đó hoặc di chúc do công chứng
viên lập tại chỗ ở của người để lại di sản thì việc lập di chúc phải tuân thủ trình tự
và thủ tục sau đây: Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc (ý nguyện của
mình) trước Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban
nhân dân xa, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng
thực di chúc ghi chép lại đầy đủ nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Sau khi
xác nhận công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực đã ghi chép chính
xác và thể hiện đúng với ý chí của mình thì người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào
bản di chúc đó. Sau cùng, công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực
của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc đó.
Trong trường hợp vì một lý do nào đó mà người lập di chúc không đọc được
hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải
có người làm chứng. Người làm chứng phải đọc lại bản di chúc và nếu thấy việc
ghi chép của công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban
nhân dân xã, phường, thị trấn đúng với ý chí mà người lập di chúc đã thể hiện thì
ký xác nhận vào bản di chúc trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm


14


15
phương tiện giao thông đó chưa hạ cánh hoặc chưa cập bến. Vì vậy, cơ trưởng hoặc
thuyền trưởng chỉ có thẩm quyền xác nhận di chúc và phải xác nhận ngay sau khi di
chúc được lập trong lúc máy bay chưa hạ cánh hoặc tàu chưa cập bến.
- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh có xác nhận
của người phụ trách bệnh viện, cơ sở chữa bệnh đó.
Mặc dù bệnh viện, cơ sở chữa bệnh vẫn gần nơi công chứng hoặc Uỷ ban
nhưng cá nhân có nhu cầu lập di chúc vẫn không không thể yêu cầu chứng nhận
hoặc chứng thực được vì họ đang lâm vào hoàn cảnh ốm đau bệnh tật và tính mạng
đang bị cái chết đe doạ. Vì vậy, trong những trường hợp này di chúc của họ lập ra
chỉ cần có xác nhận của người phụ trách bệnh viện hoặc cơ sở chữa bệnh nơi họ
đang điều trị vẫn được coi là có giá trị như di chúc có chứng nhận hoặc chứng thực.
- Di chúc của người đang làm đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên
cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị đó.
Đây là những trường hợp cá nhân đang công tác ở vùng sâu, vùng xa (nơi
không có cơ quan Công chứng nhà nước cũng như xa Uỷ ban nhân dân) nhưng họ
muốn lập di chúc vì họ cho rằng với bệnh tật của mình sẽ không đủ điều kiện để chờ
đến hết đợt công tác mới lập di chúc. Vì thế, nếu họ lập di chúc trong thời gian này
thì di chúc của họ vẫn có giá trị như di chúc được chứng nhận hoặc chứng thực dù
di chúc chỉ có sự xác nhận của tổ trưởng tổ công tác hoặc trưởng nhóm nghiên cứu.
- Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ
quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.
Nếu công dân Việt Nam đang công tác, học tập, lao động ở nước ngoài mà
có nhu cầu lập di chúc thì di chúc đó có hiệu lực pháp luật như di chúc được lập trong
nước có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn nếu di chúc lập ra ở nước ngoài đã có chứng nhận của cơ
quan lãnh sự hoặc đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước mà người đó đã lập di chúc.
- Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người
đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có

trong sự quy định của pháp luật về hiệu lực của di chúc vì trước hết, các nhà làm
luật muốn thông qua việc quy định các thể thức cụ thể của di chúc viết và các trình
tự, thủ tục tương ứng để nâng cao ý thức pháp luật của các cá nhân trong việc lập di


17
chúc, muốn mọi người tuân thủ các thủ tục đó để nâng cao tính xác thực của di chúc
mà họ đã lập nhằm hạn chế những tranh chấp xẩy ra trong thực tế. Mặt khác, như
chúng ta đã biết, việc chứng thực hoặc chứng nhận vào bản di chúc bao giờ cũng
chỉ nhằm mục đích là tạo cơ sở pháp lý để ghi nhận một sự kiện thực tế: di chúc mà
người chết để lại là do chính người đó tự nguyện lập ra trong khi minh mẫn, sáng
suốt. Vì vậy, nếu có những di chúc dù không có chứng nhận, chứng thực nhưng có đủ
các yếu tố khác để khẳng định di chúc đó là do chính người để lại tài sản lập ra một
cách tự nguyện và trong khi minh mẫn thì vẫn phải thừa nhận giá trị pháp lý của di
chúc đó. Cũng cần phải nói thêm rằng, nếu pháp luật chỉ thừa nhận giá trị pháp lý của
những di chúc có chứng thực, chứng nhận, xác nhận mà bác bỏ những di chúc không
có chứng nhận, chứng thực dù di chúc đó vốn là ý nguyện thật sự của người để lại di
sản thì vô hình chung, pháp luật đã xâm phạm đến quyền tự do định đoạt của các cá
nhân. Hơn nữa, những di chúc không có chứng thực hoặc chứng nhận nhưng có đủ
các yếu tố để xác định việc chính tay người để lại di sản lập ra cũng như tính tự
nguyện, sự minh mẫn của người lập di chúc thì về bản chất, tính xác thực của di chúc
đó đã ngang bằng với những di chúc có chứng nhận, chứng thực.
b. Di chúc miệng
Di chúc miệng là sự thể hiện ý chí thông qua lời nói của cá nhân nằm dịch
chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Giả sử rằng nếu pháp luật quy định, muốn định đoạt tài sản sau khi mình
chết, người để lại di sản buộc phải lập di chúc viết trong mọi trường hợp thì sẽ
không đảm bảo được quyền dịch chuyển tài sản của họ vì trong thực tế có nhiều
trường hợp cá nhân rơi vào tình trạng không thể lập di chúc viết được trong khi họ
muốn dịch chuyển tài sản cho người thừa kế theo ý chí của mình. Vì vậy, nhằm đảm

ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng. Ngoài ra, vì di chúc
miệng chỉ được chấp nhận nếu lập ra trong trường hợp đặc biệt làm cho người để lại
di sản không thể lập di chúc theo hình thức viết, cho nên nếu người di chúc miệng
đã qua cơn hiểm nghèo và có điều kiện để lập di chúc viết thì sự định đoạt đó của
họ phải được thể hiện bằng một văn bản viết. Trong trường hợp người đã di chúc
miệng có đủ điều kiện để lập di chúc viết nhưng họ vẫn không lập thì coi như họ
không để lại di chúc và di sản của họ sẽ được dịch chuyển cho người thừa kế theo


19
hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Về vấn đề này,
Khoản 2, Điều 651, BLDS 2005 đã quy định như sau:
“Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống,
minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ”.
Theo việc phân tích trên thì dù là di chúc miệng vẫn phải ghi lại thành văn
bản. Vì vậy thủ tục của di chúc miệng gần giống như thủ tục lập di chúc bằng
văn bản có người làm chứng. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai thủ tục này là ở
chỗ, một văn bản thì bản thân nó là di chúc, một văn bản thì chỉ với tư cách là
ghi lại một di chúc miệng. Nếu so sánh hai loại di chúc này sẽ có một câu hỏi
được đặt ra là tại sao cũng do người khác ghi lại thành văn bản ý nguyện của
người lập di chúc mà một trường hợp được coi là di chúc bằng văn bản, trường
hợp kia lại coi là di chúc miệng ?
Di chúc có người làm chứng được coi là di chúc bằng văn bản vì trong
trường hợp này, người lập di chúc đọc cho người khác ghi nguyên văn sự định đoạt
của mình thành một văn bản, sau đó người lập di chúc tự tay ký hoặc điểm chỉ vào
văn bản đó sau khi đã xác định việc ghi chép đó là đúng với ý nguyện của mình
(trong trường hợp này việc ghi hộ của người khác hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát
của chính người lập di chúc).
Được coi là di chúc miệng trong trường hợp người để lại di sản lâm vào tình
trạng nguy kịch về tính mạng, họ di chúc miệng và người làm chứng ghi lại thành

Tuy vậy, Điều 650 BLDS quy định về người lập di chúc vẫn còn tồn tại
những bất cập, đã gây nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu và những người làm
công tác xét xử, do những quy định chưa rõ ràng và chưa thật toàn diện tại điều luật
nói trên.
Tại khoản 1 Điều 650 BLDS quy định: "Người thành niên có quyền lập di
chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không
thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình”
Nội dung khoản 1 Điều 650 BLDS còn chưa bao quát và chưa có được sự
thống nhất với những điều kiện của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự nói
chung và chủ thể trong quan hệ giao dich dân sự nói riêng.


21
Theo quy định của pháp luật thì người đã thành niên có quyền lập di chúc
(trừ những người không có năng lực hành vi nhân sự), nhưng pháp luật lại không
quy định rõ người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 25
BLDS, khi lập di chúc có phải hỏi ý kiến và phải được sự đồng ý của người đại diện
theo pháp luật của người đó hay không? Điều 25 BLDS quy định: “Người nghiện
ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình, thì
theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan hoặc tổ chức hữu quan,
Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế hành vi năng lực hành vi
dân sự”. Và tại khoản 2 điều luật này còn có quy định: “Mọi giao dịch dân sự liên
quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý
của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhỏ nhằm phục vụ nhu cầu sinh
hoạt hàng ngày”.
Như vậy nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 650 BLDS, thì những người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 25 BLDS, vẫn có quyền lập
di chúc với tư cách của người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
Ngược lại nếu xét theo quy định tại Điều 25 BLDS, thì tuy rằng một người
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng đã bị hạn chế theo một bản án có hiệu lực

khỏi có nhiều cách hiểu khác nhau về hình thức đồng ý đó được thể hiện bằng văn
bản riêng hay chỉ cần bút tích cua cha mẹ, hoặc người giám hộ vào bản di chúc?
Hoặc chỉ cần có chữ ký của cha, mẹ hoặc của người giám hộ vào cuối bản di chúc
hoặc vào từng trang của bản di chúc của người ở độ tuổi từ đủ 15 đến 18 tuổi được
lập ra? Ngoài ra sự đồng ý của cha, mẹ hoặc của người giám hộ cho phép cá nhân ở
độ tuổi này lập di chúc có vi phạm hay không vi phạm quy định tại Điều 657 BLDS
về người làm chứng việc lập di chúc? Nếu câu trả lời là có thì di chúc không có giá
trị pháp lý. Nếu câu trả lời là không thì địa vị pháp lý của cha, mẹ hoặc của giám hộ
có mâu thuẫn với quy định tại điều 657 BLDS về người làm chứng việc lập di chúc
quy định tại điều 657 BLDS, vì: “ Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di
chúc trừ những người sau đây:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người để lại di sản;
2. Người có quyền nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
3. Người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự”.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status