MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
NỘI DUNG TÌM HIỂU................................................................................................2
1
A. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC VÀ QUYỀN HIẾN XÁC CỦA CÁ
NHÂN SAU KHI
CHẾT...............................................................................................2
I. Đặc điểm của quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết.............................................2
II. Quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết được ghi nhận trong các văn bản pháp
luật...........................................................................................................................
......4
III. Nguyên tắc ghi nhận, thực hiện và bảo vệ quyền hiến xác của cá nhân sau khi
chết..........................................................................................................................
.......7
IV. Chủ thể, đối tượng của quyền hiến xác sau khi chết.............................................11
V. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền hiến xác của cá nhân sau khi
chết..........................................................................................................................
.....13
B. THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN HIẾN XÁC CỦA CÁ NHÂN SAU
KHI CHẾT VIỆT NAM CŨNG NHƯ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ
GIỚI......16
I. Thực tiễn việc thực hiện quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết ở Việt Nam......16
1. Việc thực hiện quyền hiến xác còn khá hạn chế......................................................16
2. Một số kiến nghị nên cho tử tù được quyền hiến xác nhưng vẫn còn rất nhiều tranh
cãi và nhiều vấn đề đặt
ra............................................................................................18
II.Việc hiến xác của cá nhân sau khi chết ở một số quốc gia trên thế giới..................19
C. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỐ LƯỢNG CÁ NHÂN HIẾN XÁC SAU
KHI CHẾT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ TƯƠNG
LAI.......................................21
KẾT LUẬN..............................................................................................................21
quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết được chính thức ghi nhận
3
trong BLDS năm 2005 và Luật hiến, lấy, ghép mô bộ phận cơ thể người và hiến, lấy
xác. Việc hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết liên quan đến người
hiến nên không thể dịch chuyển cho người khác. Đây là một quyền nhân thân đặc
biệt và rất nhạy cảm nên ngoài những đặc điểm chung của quyền nhân thân nó còn
mang những đặc trưng riêng nhất định như sau:
1. Quyền hiến xác cá nhân sau khi chết mang đặc điểm chung của quyền nhân
thân.
- Thứ nhất, mang tính cá nhân tuyệt đối. Quyền nhân thân thuộc về cá nhân cụ
thể từ khi người đó sinh ra hoặc do những căn cứ khác do pháp luật quy định. Luật
dân sự ghi nhận những giá trị nhân thân là quyền nhân thân và quy định các biện
pháp bảo vệ. Những quyền nhân thân này ứng với mỗi cá nhân, sẽ cho phép cá nhân
khẳng định là họ mà không phải là ai khác, họ là một chủ thể độc lập trước xã hội,
cộng đồng. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp quyền nhân thân có thể dịch
chuyển được nhưng phải do pháp luật quy định (các đối tượng sở hữu công
nghiệp,....)
- Thứ hai, quyền hiến xác là quyền nhân thân không được xác định bằng tiền –
Giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không
thể trao đổi ngang giá. Về cơ bản, chủ thể của quyền nhân thân chỉ được hưởng lợi
ích tinh thần mà không được hưởng lợi ích vật chất. Nhưng không thể loại bỏ những
trường hợp đặc biệt quyền nhân thân lại mang lại lợi ích vật chất cho chủ thể quyền.
Những lợi ích vật chất mà chủ thể quyền được hưởng ở đây có được là do giá trị
tinh thần mang lại. Do vây, có thể chia quyền nhân thân làm hai loại: quyền nhân
thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản. Cho nên đối với
quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết thuộc nhóm quyền nhân thân không gắn
với tài sản.
- Thứ ba, quyền nhân thân được xác lập trực tiếp trên cơ sở của những quy định
pháp luật.
- Thứ tư, quyền nhân thân là một quyền tuyệt đối. Mỗi chủ thể có một giá trị
Việc hiến xác của cá nhân sau khi chết là vấn đề được bàn luận và tranh cãi rất
nhiều của các đại biểu quốc hội và rất nhiều ý kiến của dư luận và nó mới chính thức
quy định cụ thể hóa tại Điều 34 BLDS năm 2005 thuộc nhóm các quyền nhân thân.
5
Điều 34 BLDS năm 2005 quy định về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi
chết: “Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích
chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Việc hiến và sử dụng xác, bộ
phận cơ thể của người chết được thực hiện theo quy định của pháp luật.”
Có thể nói việc hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết là quyền của mỗi
cá nhân và trình tự thủ tục hiến xác, bộ phận cơ thể do pháp luật quy định.
2. Quy định trong một số văn bản pháp luật khác.
Việc quy định về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết của một cá nhân
trước khi BLDS 2005 quy định thì chưa có một văn bản nào quy định cụ thể về vấn
đề này, cũng có một số văn bản Luật quy định nhưng còn mang tính chất chung
chung không cụ thể như quy định tại Điều 30 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989: “
Lấy và ghép mô hoặc bộ phận của cơ thể con người. 1- Thầy thuốc chỉ tiến hành lấy
mô hoặc bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng vào mục đích y tế sau
khi đã được sự đồng ý của người cho, của nhân thân người chết hoặc người chết có
di chúc để lại. 2- Việc ghép mô hoặc một bộ phận cho cơ thể người bệnh phải được
sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa
thành niên. 3- Bộ y tế quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người cho mô hoặc một
bộ phận của cơ thể.”
Ngoài ra, việc hiến xác, bộ phận cơ thể cũng được cụ thể hóa tại Điều 10 của Nghị
định ban hành kèm theo Điều lệ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng số 23 –
HĐBT ngày 21/1/1991 như sau: “1- Việc lấy mô bộ phận cơ thể của người sống phải
được người đó tự nguyện và viết thành văn bản. 2- Việc lấy mô hoặc một bộ phận
của cơ thể người được tiến hành trong các trường hợp: Người chết có di chúc để lại
đồng ý cho mô hoặc một bộ phận cơ thể của họ. Người chết không có di chúc
nhưng được thân nhân người chết đồng ý cho bằng văn bản. Người chết vô thừa
nhận. 3- Cơ quan y tế được quyền tiếp nhận, bảo quản và sử dụng mô hoặc một bộ
của pháp luật qua đây có thể tạo niềm tin và khẳng định là quyền của mỗi cá nhân
7
nên góp phần nâng sự hiểu biết của mỗi cá nhân nên góp phần tăng số lượng người
hiến. Đó là một niềm khích lệ lớn lao cho những bệnh nhân chờ cơ hội sống, những
người bệnh sẽ có niềm tin hy vọng rằng một lúc nào đó cơ hội sống sẽ đến và họ nên
cố gắng để hy vọng.
- Đối với ban thân cá nhân sau khi hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết, qua việc
thực hiện quyền này sẽ thể hiện được ý nguyện của người đó vì mục đích nhân đạo.
- Việc ghi nhận quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết chính là sự đảm bảo cho
sự tự do ý chí, tự nguyện lựa chọn hành động của cá nhân trong việc hiến xác một
vấn đề hiện còn đang hết sức nhạy cảm.
Ngoài ra, những cá nhân hiến tặng xác hoặc bộ phận cơ thể sẽ được nhà nước truy
tặng huy chương cao quý cho đóng góp của họ đối với xã hội mặc dù họ hiến tặng
không vì mục đích này mà đơn giản chỉ là vì muốn góp một phần nào đó cứu giúp
những người đang nguy kịch một việc làm có ích cuối cùng của họ. Việc truy tặng
của nhà nước góp phần động viên về mặt tinh thần đối với người hiến và người thân
của họ
- Đối với nhà nước việc ghi nhận quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết chứng tỏ
sự quan tâm của nhà nước đối với quyền và lợi ích của mỗi công dân, đảm bảo tính
công bằng bình đẳng về sức khỏe của nhân dân. Góp phần hoàn thiện và nâng cao
dịch vụ y tế và cũng khẳng định trình độ và sự nhanh nhạy của các nhà làm luật.
III. Nguyên tắc ghi nhận, thực hiện và bảo vệ quyền hiến xác của cá nhân sau khi
chết.
Các nguyên tắc trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy
xác được quy định cụ thể tại Điều 4 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người
và hiến, lấy xác được quốc hội thông qua 21/11/2006 và có hiệu lực 1/7/2007: “ 1.
Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép. 2. Vì mục đích nhân đạo, chữa
bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa hoc. 3. Không nhằm mục đích thương mại.
4. Giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
9