TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
1
LIÊN KẾT KINH TẾ MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN –
TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN
ECONOMIC TIES IN CENTRAL VIETNAM AND WESTERN HIGHLANDS –
FROM THEORY TO PRACTICE
Trương Bá Thanh
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Liên kết kinh tế (LKKT) là một xu thế tất yếu của xã hội phát triển. Ở Việt Nam, vấn đề
liên kết kinh tế đã được đặt ra từ rất lâu. Trong nền kinh tế hàng hóa, LKKT trong quá trình sản
xuất kinh doanh càng phải được đặt lên hàng đầu. Bài viết tập trung nghiên cứu về mặt lý luận
và thực tiễn nhằm chứng minh sự cần thiết phải liên kết kinh tế ở miền Trung – Tây Nguyên
(MT-TN), từ
đó chỉ ra một số việc cần phải làm để thực hiện tốt liên kết kinh tế ở Vùng kinh tế
Miền Trung – Tây Nguyên.
ABSTRACT
The economic tie is an inevitable trend in a developed society. In Vietnam, economic
ties have long been set forth. In a market economy, the economic ties in production and trade
must be a top priority. This paper focuses on some theoretical as well as practical aspects to
prove the necessity of economic ties in Central Vietnam and Western Highlands. Based on this
analysis, this research provides some suggestions for good economic ties in Central Vietnam
and Western Highlands.
Liên kết kinh tế (LKKT) là một xu thế tất yếu của xã hội phát triển. Ở Việt Nam,
vấn đề liên kết kinh tế đã được đặt ra từ rất lâu. Trong nền kinh tế hàng hóa, LKKT
trong quá trình sản xuất kinh doanh càng phải được đặt lên hàng đầu, được làm rõ và có
các bước đi cụ thể phù hợp với sự phát triển của xã hội. Vùng kinh tế Miền Trung – Tây
Nguyên bao gồm 19 tỉnh từ Thanh Hoá đến Bình Thuận. Trong thời gian qua kinh tế
trong việc nắm bắt các thời cơ để thay đổi vận mệnh của mình. Muốn vậy, bên cạnh việc
phải tăng cường nội lực bên trong để tăng hiệu quả của sự phối hợp, thì việc phải đẩy
mạnh liên kết giữa các chủ thể kinh tế trong xã hội là một tất yếu không thể phủ nhận.
Liên kết kinh tế trong thời đại ngày nay diễn ra trên một phạm vi rộng lớn, cả ở
tầm vĩ mô lẫn vi mô.
Trên bình diện quốc tế, sự phát triển của chủ nghĩa Khu vực đã trở thành một
trong những xu thế nổi trội trên thế giới. Khái niệm “Khu vực hoá” được hiểu là sự hợp
tác chặt chẽ giữa các quốc gia thành viên có vị trí địa lý cận kề, liên kết nhóm theo khu
vực, dựa vào các quá trình tương tác lẫn nhau trong khu vực và chủ nghĩa khu vực theo
hướng hình thành các thể chế hoặc các cơ cấu thấp nhất. Mấy thập kỷ vừa qua đã chứng
kiến sự mở rộng cả về số lượng và chất lượng, qui mô hợp tác của nhiều tổ chức khu
vực, trong đó nổi bật nhất là Liên minh Châu Âu (EU) được thế giới công nhận là một
tổ chức liên kết khu vực thành công nhất hiện nay với quá trình từ liên kết kinh tế
chuyển sang chính trị - xã hội, diễn ra cả ở qui mô và chất lượng, cả chiều rộng và chiều
sâu, từ liên kết kinh tế phát triển thành thể chế siêu quốc gia.
Ở giác độ quốc gia, sự hợp tác giữa chính quyền các địa phương khi xây dựng
các quy hoạch và ban hành các chính sách phát triển kinh tế dưới nhiều hình thức khác
nhau. Sự thành công của những vùng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ bằng các công
cụ điều tiết vĩ mô tại các quốc gia phát triển, đặc biệt là Bắc Mỹ (Hoa kỳ, Canada) và
EU là minh chứng sống động về hiệu quả của sự liên kết kinh tế.
Ở cấp độ ngành và doanh nghiệp, liên kết kinh tế đã phát triển vô cùng mạnh
mẽ ở nhiều cấp độ khác nhau với nhiều loại hình đa dạng, bao gồm:
Liên kết ngang, Liên kết dọc, Liên kết nghiêng, Liên kết hình sao, Doanh nghiệp
liên doanh, tập đoàn kinh doanh.
Cho dù ở cấp độ nào đi chăng nữa, liên kết kinh tế cũng sẽ mang lại những lợi
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
3
ích nhất định cho các bên tham gia trên nhiều mặt:
Tiết kiệm các nguồn lực nhờ giảm được chi phí cạnh tranh;
Tăng quy mô hoạt động nhằm đạt đến quy mô hiệu quả nhờ có phân công lao
vững, nhất là các ngành công nghiệp, du lịch - dịch vụ, liên vận - trung chuyển hàng hóa
quốc tế, thủy điện, đánh bắt thủy hải sản Vùng miền Trung và Tây nguyên được kết
nối bởi chuỗi đô thị như Đà Nẵng, Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và các khu
kinh tế Chu Lai, Dung Quất, Chân Mây - Lăng Cô, Nhơn Hội đang phát triển mạnh mẽ
với các công trình hạ tầng đường giao thông, cảng biển, sân bay, hệ thống cung cấp
điện, nước, bưu chính viễn thông đang từng bước được xây dựng, hoàn chỉnh tạo tiền
đề tăng trưởng cho toàn vùng.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
4
Tuy nhiên, theo các số liệu thống kê, năm 2006
[1]
GDP bình quân đầu người của
vùng kinh tế MT – TN chỉ bằng khoảng 69,9% mức bình quân cả nước, kim ngạch xuất
khẩu chiếm thấp và tốc độ tăng trưởng GDP đạt 12,6% thấp hơn tốc độ trung bình của
các vùng kinh tế trọng điểm cả nước là trên 13%. Nơi đây vẫn thuộc vùng nghèo, chỉ
khá hơn vùng núi phía Bắc.
Nguyên nhân dẫn đến kinh tế miền Trung và Tây Nguyên phát triển còn thấp và
chưa tương xứng với tiềm năng hiện có là “chính sách chưa đủ mạnh để tạo động lực
phát triển; chưa tạo được sự liên kết vùng, do vậy khai thác chưa tốt lợi thế”
[2]
. Tình
trạng các tỉnh, thành “mạnh ai nấy làm”, “dàn hàng ngang” để tiến diễn ra rất phổ biến.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khách quan, vấn đề liên kết kinh tế ở Việt
Nam nói chung và miền Trung và Tây Nguyên nói riêng dường như còn nhiều bất cập
cả về lý luận lẫn thực tiễn. Có thể kể ra ở đây một số điểm sau:
Về mặt lý luận, mặc dù đã khẳng định việc liên kết kinh tế là tất yếu, nhưng việc
liên kết kinh tế như thế nào cũng như chưa tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề lý luận
về liên kết kinh tế, hình thành các quan điểm, nguyên tắc rõ ràng tạo nền tảng cho việc
xây dựng, tổ chức và đánh giá quá trình liên kết.
Về mặt thực tiễn, việc triển khai đường lối phát triển kinh tế có thể trong chừng
5
triển các vùng liên kết kinh tế, kinh nghiệm về liên kết kinh tế của các nước trên thế giới
và khu vực.
Liên kết kinh tế Vùng - Nhìn từ góc độ chính sách vĩ mô: Liên kết này có phải
từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại hoặc chỉ là một mong muốn duy ý chí.
Các điều kiện để hình thành vùng có đầy đủ chưa. Những giải pháp cụ thể để thúc đẩy
liên kết kinh tế trên cả 03 giác độ: vùng lãnh thổ; ngành và doanh nghiệp như thế nào.
Có cần thiết phải hình thành một cơ quan điều phối nhằm phụ trách vùng như
Hội đồng liên minh châu Âu nhằm thực hiện quá trình tập trung và phân công trong
vùng? Cần thiết phải có 1 bộ máy lãnh đạo chứ không thể tự phát hình thành nên một
vùng kinh tế.
Rào cản của việc hợp tác và phân công trong vùng kinh tế là gì, các rào cản kinh
tế và phi kinh tế trong việc hình thành vùng kinh tế… Có nên hình thành các nguồn tài
chính hỗ trợ cho vùng kinh tế hay không. Vấn đề hạ tầng cơ sở chung của cả vùng có
nên đặt ra hay không. Có cần thiết phải hình thành một cơ chế hay chính sách riêng cho
vùng kinh tế, nhằm chia sẻ lợi ích giữa các vùng thay vì cạnh tranh để phát triển. v.v …
Các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trên đây chỉ mới là những gợi ý cần thiết
cần phải làm ngay để có thể đặt nền móng cho việc xây dựng và hình thành liên kết kinh
tế ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê Việt Nam (2000-2007).
[2] www. gso.gov.vn và www.ipc.danang.gov.vn.
[3] Lê Xuân Bá (2003), Về vấn đề liên kết kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí
Nghiên cứu Kinh tế, Số 14/2003, tr. 8,9.
[4] Dương Đình Giám (2007), Liên kết kinh tế một nhu cầu cấp bách đối với phát triển
kinh tế - xã hội hiện nay, Tạp chí Công nghệ, số tháng 1/2007, tr. 8.