5
HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI TÔM Ở VÙNG ĐẦM PHÁ
HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THỪA THIÊN HUẾ
Mai Văn Xuân
Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Huế
1. Đặt vấn đề
Tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và huyện Quảng Điền nói riêng có tiềm
năng lớn trong phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS). Nhờ những lợi thế của hệ
đầm phá nước lợ (lagoon), nghề NTTS mà đặc biệt là nuôi tôm đang phát triển
nhanh chóng trong những năm gần đây ở vùng đầm phá huyện Quảng Điền, góp
phần tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, phát
triển NTTS, nhất là nuôi tôm trên địa bàn còn mang tính tự phát, chưa tương
xứng với tiềm năng của nó. Vì vậy, nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế nghề nuôi
tôm ở huyện Quảng Điền là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng tình hình nuôi tôm vùng đầm phá
huyện Quảng Điền; đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi
tôm của địa phương trong những năm đến.
Phương pháp nghiên cứu: ba xã có tình hình nuôi tôm phát triển nhất ở
huyện, bao gồm Quảng Công, Quảng Thành, Quảng Phước được lựa chọn để
nghiên cứu. Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp theo
khoảng cách tổ xác định với kích thước mẫu là 45 hộ nuôi tôm theo phương thức 6
quảng canh cải tiến (QCCT) chiếm 10% trong tổng số hộ nuôi theo hình thức
Điền
a) Năng lực sản xuất của hộ
Diện tích nuôi tôm bình quân hộ theo các hình thức nuôi QCCT và BTC là
0,75ha và 0,62ha; vốn đầu tư bình quân hộ là 69 và 76 triệu đồng; đầu tư bình
quân trên 1ha là 92 và 121 triệu đồng; độ tuổi của chủ hộ không có sự chênh lệch
đáng kể, 39 và 38 tuổi; trình độ văn hóa trung bình là lớp 8 và 9; năm kinh
nghiệm nuôi tôm là 5,5 và 6,2 năm; số lần tham gia các đợt tập huấn kỹ thuật
nuôi tôm là 2,8 và 3,3 lần; cả hai hình thức nuôi chủ yếu là sử dụng lao động gia
đình.
b) Chi phí sản xuất theo hình thức nuôi
Chi phí trung gian (IE) theo hai hình thức nuôi có sự chênh lệch nhau đáng
kể, nuôi BTC chi phí bình quân gần 37 triệu đồng/ha cao hơn 44% so với nuôi
QCCT. Điều này là do nuôi BTC chi phí về con giống cao hơn nhiều (gần 15
triệu đồng/ha) so với nuôi QCCT (trên 6,5 triệu đồng/ha). Ở cả hai hình thức
nuôi, chi phí về thức ăn và con giống là đáng kể hơn cả. Nuôi QCCT, tỷ lệ này
lần lượt là 45,2% và 26,1%; nuôi BTC là 34,8% và 40,8%. Điều cần lưu ý là các
hộ nuôi BTC chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp trong khi các hộ QCCT chủ
yếu sử dụng thức ăn tươi. Việc sử dụng thức ăn công nghiệp không những đảm
bảo chất lượng, góp phần tăng năng suất tôm mà còn đảm bảo vệ sinh ao hồ. Chi
phí về phòng trừ dịch bệnh và xử lý ao hồ chiếm khoảng 24-29% trong tổng chi
phí trung gian (tùy theo phương thức nuôi) và thông thường tỷ trọng này ở nuôi
QCCT cao hơn nuôi BTC. Điều này là do tác dụng phụ của việc sử dụng thức ăn
tươi của QCCT gây ra. 8
c) Hiệu quả kinh tế theo hình thức nuôi
Số liệu bảng 1 chỉ ra rằng nhờ đầu tư cao hơn mà năng suất tôm của hình
thức nuôi BTC cao hơn nuôi QCCT đáng kể (25%). Vì vậy, mà giá trị gia tăng
5. VA/GO % 45,3 40,9 90,4
6. VA/IE % 82,7 69,2 83,7
Nguồn: Số liệu điều tra
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị gia tăng theo các mô hình nuôi tôm
Hàm sản xuất Cobb-Douglas được sử dụng để ước lượng các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh tế các hình thức nuôi tôm ở vùng nghiên cứu. Các biến
số được đưa vào phân tích bao gồm, biến phụ thuộc: Y - VA (1.000đ/ha); các
biến độc lập: D - năng lực của chủ hộ, X
1
- công lao động (ngày-người/ha), X
2
-
mật độ thả giống (số con/m
2
), X
3
- chi phí thức ăn công nghiệp (1.000đ/ha), X
4
-
chi phí thức ăn tươi (1.000đ/ha), và X
5
- chi phí phòng trừ dịch bệnh (1.000đ/ha). 10
Năng lực sản xuất của chủ hộ do ảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu tố. Rõ
ràng không thể dùng một nhân tố riêng biệt nào để đánh giá năng lực của chủ hộ
mà đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp một số các yếu tố nhất định. Để giải quyết vấn
đề này chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích riêng biệt (Disciriminant
Analysis) để tổng hợp nên biến định tính D - năng lực chủ hộ với các nhân tố ảnh
nghiên cứu 11
QCCT BTC
Hệ số
(β)
SS
chuẩn
t Sig.
Hệ số
(β)
SS
chuẩn
T Sig.
R 0,818 0,266 0,940 0,147R
2
0,670 0,884
R
2
điều
chỉnh
0,637 0,872
Số quan
X
3
- - - - 0,505 0,059
8,620 0,000
X
4
-0,714 0,139 -5,144 0,000
-0,516 0,065
-7,928
0,000
X
5
0,472 0,176 2,688 0,010
- - - - 12
Trong cả hai hình thức nuôi, biến số D có ảnh hưởng tích cực đến Y (β
d
=
0,452 và 0,260 cho QCCT và BTC), trong khi đó X
4
,
90% số hộ BTC bán tôm cho tư thương. Người nuôi tôm thường bị tư thương ép
cấp, ép giá trong khi các doanh nghiệp nhà nước thu mua và chế biến hàng thủy
sản trên địa bàn đang thua lỗ thậm chí bị phá sản khá nhiều. Đây là vấn đề cần
quan tâm hỗ trợ cho người nông dân có điều kiện phát triển con tôm. 13
Về giống và thức ăn, việc đảm bảo có giống khỏe, rõ nguồn gốc và sạch
bệnh là vấn đề khá bức xúc, hiện có trên 50% số hộ nông dân mua giống từ ngoài
tỉnh. Hầu hết các hộ mong muốn chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ
phát triển nguồn cung cấp giống tại chỗ, có sự kiểm soát dịch bệnh. Nguồn thức
ăn cung cấp khá dồi dào, mua bán thuận tiện song thường do các đại lý thực hiện,
việc khuyến cáo nên sử dụng loại thức ăn nào, vào thời điểm nào vẫn chưa
được hướng dẫn chặt chẽ.
Dịch bệnh và môi trường là những vấn đề nan giải với hộ nuôi tôm, trên
78% số hộ nuôi QCCT và trên 71% hộ nuôi BTC đều cho rằng dịch bệnh là khó
khiểm soát và đang gây nên những thiệt hại đáng kể cho họ. Trên 97% số hộ nuôi
QCCT và trên 86% số hộ nuôi BTC cho rằng môi trường đang bị ô nhiễm và tác
động không tốt đến kết quả nuôi tôm của họ.
5. Một số giải pháp phát triển kinh tế nuôi tôm vùng đầm phá huyện
Quảng Điền
Các giải pháp phát triển nuôi tôm vùng đầm phá huyện Quảng Điền phải
dựa trên quan điểm chung là: Phát triển bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với bảo
vệ nguồn tài nguyên và môi trường vùng đầm phá.
a) Qui hoạch tổng thể việc khai thác, sử dụng vùng đầm phá và phát triển
NTTS. Công tác này phải gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển
NTTS, tạo điều kiện khai thác lợi thế so sánh của các tiểu vùng để bố trí các công
thức nuôi tôm có hiệu quả. Thực hiện giao quyền sử dụng đất ngập nước cho các
hộ gia đình, phát triển các loại hình kinh tế trang trại nuôi tôm.
b) Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các dịch vụ NTTS nói chung và nuôi
15
6. Kết luận:
Nghề NTTS nói chung và nuôi tôm nói riêng đã và đang là ngành kinh tế
mũi nhọn của huyện Quảng Điền, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công gnhiệp hóa, hiện đại hóa, khai thác có hiệu quả nguồn lực và lợi
thế của địa phương góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người
lao động. Nuôi tôm theo hình thức BTC tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn nuôi QCCT:
tiết kiệm được diện tích nuôi trồng, dễ áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăn nuôi
tiên tiến; năng suất nuôi BTC đạt 755kg/ha cao hơn 25% so với QCCT; giá trị
gia tăng đạt trên 25 triệu đồng/ha, cao hơn 18% so với nuôi QCCT; ngoài ra, do
sử dụng thức ăn công nghiệp là chủ yếu nên nuôi BTC còn góp phần bảo vệ môi
trường, hạn chế được dịch bệnh hơn so với nuôi QCCT. Kết quả nghiên cứu cho
thấy rằng, hiệu quả kinh tế của nuôi tôm ở vùng đầm phá Quảng Điền chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố, trong đó chủ yếu là năng lực của chủ hộ, phương thức
nuôi (QCCT hay BTC), biện pháp kỹ thuật canh tác (đặc biệt là việc sử dụng
thức ăn và phòng trừ dịch bệnh). Vì vậy, thực hiện các giải pháp nêu ra không
những góp phần tích cực nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi tôm mà còn đảm bảo vệ
sinh môi trường, phát triển bền vững nghề NTTS nói chung và nuôi tôm nói
riêng của địa phương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tổng kết công tác NTTS các xã Quảng Công, Quảng Phước,
Quảng Thành huyện Quảng Điền, tỉnh TTH (2000 - 2003).
2. Báo cáo tình hình NTTS từ năm 2000 - 2003, phòng Nông nghiệp,
huyện Quảng Điền, tỉnh TTH.
3. Niên giám thống kê huyện Quảng Điền, tỉnh TTH (2000 - 2003). 16
Mai Van Xuan
College of Economics, Hue University
SUMMARY
Quang Đien District has a great potential in aquacultural development.
Endowed with 3,850 ha of water surface (accounting for 17.8% total area of Tam
Giang - Cau Hai lagoon of Thua Thien Hue Province), aquacultural
development in general and shrimp farming in particularly play an important
role in exploiting the comparative advantages of the locality and improving the
living condition of farming households. Currently, there are two types of shrimp
farming in the district: improved-extensive farming and semi-intensive farming.
The findings show that the income of the households from shrimp culture is
affected by several factors such as the capacity of the household head, the type of
farming, the foods consumed (industrial or fresh food) ect. The study also
illustrates that semi-intensive farming not only brings in higher profit but also
gives better protection to the ecosystem than the improved-extensive farming
does. However, the farmers have to deal with many difficulties such as finding
markets, foods and breeding, environment and diseases ect. In order to boost the
shrimp raising industry, the study suggests following solutions: a) general
planning of exploiting and using lagoon resources; b) upgrading infrastructure 18
and service system; c) credit policies; d) aqua-cultural extension services; and e)
market.