Báo cáo nghiên cứu khoa học: " LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC TỈNH CỦA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(35).2009

133
LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC TỈNH CỦA VÙNG KINH TẾ
TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG
ECONOMIC LINKAGES AMONG THE PROVINCES
IN THE KEY ECONOMIC REGION OF CENTRAL VIETNAM

Ông Nguyên Chương
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Thực tiễn của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung cho thấy các đặc điểm: cơ cấu kinh
tế của các tỉnh khá tương đồng và mức độ liên kết kinh tế của vùng khá thấp; vì vậy chưa thể
nhận diện được những lợi ích rõ ràng từ liên kết kinh tế mang lại cho vùng. Trong những năm
tới, tăng cường và mở rộng liên kết kinh tế không chỉ là xu hướng khách quan của quá trình
phát triển kinh tế mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược trong hoạch định chính sách phát triển
của vùng. Vì vậy, đẩy mạnh liên kết kinh tế vùng là chiến lược phù hợp để nâng cao hiệu quả
và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của cả vùng nói chung.
ABSTRACT
In reality the key economic region in Central Vietnam reveals some economic
characteristics in which there are similarities between provincial economic structures and low
levels of economic linkages among the provinces. As a result, the benefits from regional
economic linkages are relatively limited. In the coming years, the enhancement and expansion
of economic links will be not only an objective trend for economic development but also a
strategic vision in making regional development policies. Accordingly, the improvement of
regional economic linkages is a suitable strategy in promoting the efficiency and
competitiveness of enterprises in particular and the whole region in general.
1. Liên kết kinh tế
Lê Xuân Bá (2003) đã khái
Liên kết giữa các doanh nghiệp là hình thức liên kết kinh tế chính và chi phối sự

Trong thời kỳ 2000 -2006, tăng trưởng kinh tế của VKTTĐMT đạt được mức
khá cao và ổn định (bình quân khoảng 10.5%/năm-bằng 1,4 lần so với tỷ lệ bình quân cả
nước); kết quả phân tích cho thấy không có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ tăng trưởng giữa
các tỉnh (hệ số biến thiên của tỷ lệ tăng trưởng thấp và giảm dần), trong đó Đà Nẵng đạt
mức cao nhất (bình quân khoảng 12.2%/năm) (Bảng 1).
Bảng 1. Tăng trưởng kinh tế VKTTĐMT Đơn vị tính: %
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Trung bình
2001-2006
Thừa Thiên - Huế 9.13 9.21 9.20 9.09 11.30 13.38 10.37
Đà Nẵng 12.23 12.56 12.62 13.26 13.76 11.17 12.21
Quảng Nam 8.50 9.03 10.36 11.55 12.48 13.45 10.67
Quảng Ngãi 6.04 10.60 10.46 10.61 11.66 12.45 10.04
Bình Định 5.81 7.73 9.39 10.56 11.14 11.97 9.37
Trung bình 8.34 9.83 10.41 11.01 12.07 12.48 10.53
Giá trị nhỏ nhất 5.81 7.73 9.20 9.09 11.14 11.17 9.37
Giá trị lớn nhất 12.23 12.56 12.62 13.26 13.76 13.45 12.21
Độ lệch chuẩn 2.35 1.64 1.22 1.37 0.96 0.86 0.94
Hệ số biến thiên
1
0.28 0.17 0.12 0.12 0.08 0.07 0.09
So với cả nước (lần) 1.21 1.39 1.42 1.41 1.43 1.40 1.39
Nguồn: Tác giả tính toán từ các số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố

1
Hệ số biến thiên=Độ lệch chuẩn/Trung bình
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(35).2009

135
Trong khi đó, GDP bình quân đầu người có sự cải thiện đáng kể song vẫn còn

tỷ trọng đóng góp của Công nghiệp chế biến trong tổng giá trị GDP của ngành Công
nghiệp-Xây dựng của vùng duy trì ở mức khoảng 65%; các sản phẩm công nghiệp chủ
yếu là sản phẩm chế biến thủy sản và nông lâm, và dệt may sử dụng nhiều lao động với
giá trị gia tăng rất thấp; các sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao như điện tử,
hóa chất, cơ khí còn chiếm tỷ trọng nhỏ bé (chẳng hạn, Đà Nẵng là thành phố có cơ cấu
công nghiệp tiến bộ nhất vùng-thì tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của các ngành
điện tử, hóa chất và cơ khí chỉ chiếm 5,0% năm 2001 lên 9,2% năm 2006); mức độ tập
trung các doanh nghiệp công nghiệp còn thấp. Điều này cho thấy khả năng đa dạng hóa
cơ cấu ngành công nghiệp của vùng còn thấp và hạn chế mức độ liên kết trong lĩnh vực
công nghiệp giữa các tỉnh.
Trong lĩnh vực dịch vụ cũng có những đặc điểm tương tự, tỷ trọng đóng góp của
dịch vụ du lịch, khách sạn và nhà hàng; dịch vụ tài chính-ngân hàng vẫn còn chiếm tỷ
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(35).2009

136
trọng nhỏ và tăng trưởng chậm (chẳng hạn, Đà Nẵng có tỷ trọng đóng góp của dịch vụ
du lịch, khách sạn và nhà hàng cao nhất chỉ khoảng 27% năm 2006, và của dịch vụ tài
chính-ngân hàng chỉ chiếm 7% năm).
2.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động theo ngành chuyển dịch khá chậm, tỷ trọng lao động trong
Nông-Lâm-Thủy sản vẫn ở mức cao (từ 64% năm 2000 xuống 57% năm 2005), trong
Công nghiệp-Xây dựng và Dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ (Bảng 4), cho thấy tốc độ
chuyển dịch cơ cấu lao động không theo kịp chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Bảng 4. Chuyển dịch cơ cấu lao động Đơn vị tính: % Năm 2000 Năm 2005
Nông-Lâm-
Thủy sản CN-XD Dịch vụ
Nông-Lâm-

nghiệp
trung
học
phổ
thông
Chưa
biết
chữ
Chưa
tốt
nghiệp
tiểu
học
Tốt
nghiệp
tiểu
học
Tốt
nghiệp
trung
học cơ
sở
Tốt
nghiệp
trung
học
phổ
thông
Trung
bình 2.73 17.22 37.22 24.34 18.49 2.80 14.59 33.38 26.48 22.74

Năm
Đơn vị tính: %
2002 2005
Không có
trình độ
chuyên
môn kỹ
thuật
Sơ cấp/học
nghề trở
lên
Công
nhân kỹ
thuật có
bằng trở
lên
Không có
trình độ
chuyên
môn kỹ
thuật
Sơ cấp/học
nghề trở lên
Công
nhân kỹ
thuật có
bằng trở
lên
Trung bình
68.82 19.40 11.78 67.10 16.20 16.70

ngành giữa các tỉnh có sự tương đồng khá lớn và tập trung vào các lĩnh vực thâm dụng
lao động (Bảng 7).
Nguồn vốn FDI của toàn vùng chủ yếu chảy vào các thành phố, tỉnh có điều kiện
kinh tế-xã hội, vị trí địa lý thuận lợi như Đà Nẵng, Quảng Ngãi
3
Bảng 7. Hệ số ICOR
; mặt khác, quy mô còn
khá nhỏ và tăng trưởng chưa ổn định. Đặc điểm này cho thấy khả năng liên kết giữa các
tỉnh trong đầu tư nhằm nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng liên tỉnh còn hạn chế, sự cạnh
tranh trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng các chính sách về giá thuê đất, thuế, tiêu
chuẩn môi trường…giữa các tỉnh chưa được tính toán một cách thận trọng.
4
Năm

2001 2002 2003 2004 2005
Trung bình
2001-2005
Thừa Thiên - Huế 3.32 4.29 3.02 2.45 2.61 3.14
Đà Nẵng 2.66 2.54 2.11 3.10 3.36 2.75
Quảng Nam 3.73 2.66 2.19 1.72 2.25 2.51
Quảng Ngãi 3.42 5.20 3.30 2.90 4.58 3.88
Bình Định 2.44 3.60 1.57 1.57 2.20 2.28
Nguồn: Tác giả tính toán từ các số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh, thành phố
2.5. Liên kết vùng
Với vị trí địa lý thuận lợi là cửa ngõ hướng ra biến cùng với tốc độ đầu tư xây
dựng và phát triển các khu công nghiệp và hệ thống cảng biển nhanh: Khu kinh tế mở
Chu Lai (Quảng Nam), khu kinh tế Dung Quất ( Quảng Ngãi) khu kinh tế Chân Mây
(Thừa Thiên-Huế), khu kinh tế Nhơn Hội (Bình Định) cùng với hành lang kinh tế Đông-
Tây; Kết cấu hạ tầng được đầu tư mở rộng góp phần thúc đẩy khả năng kết nối giữa các
vùng, sân bay quốc tế Đà Nẵng và các sân bay Phú Bài, Chu Lai, Phù Cát được đầu tư

139
bình quân đầu người của Đà Nẵng (biến giải thích ), cho thấy có sự liên kết kinh tế ở
phạm vi tổng thể giữa các tỉnh, mặc dù mức độ liên kết còn thấp (Bảng 8).
Bảng 8. Kết quả hồi qui tốc độ tăng GDP bình quân đầu người của các tỉnh với tốc độ tăng GDP bình
quân đầu người của Đà Nẵng giai đoạn 1996-2006
Thừa Thiên-Huế Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định
Hệ số hồi qui 0.48 0.66 0.57 0.58
Thống kê t 1.15 2.04 1.81 1.78
3. Kết luận
Thứ nhất, do đặc điểm phát triển kinh tế của vùng, liên kết kinh tế giữa các tỉnh
của VKTTĐMT khá thấp và chưa tạo được động lực để thúc đẩy liên kết giữa các doanh
nghiệp của vùng, chưa góp phần vào việc khai thác các nguồn lực và lợi thế của vùng.
Vì vậy, đẩy mạnh liên kết kinh tế vùng là chiến lược phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh
tế của các doanh nghiệp nói riêng và của cả vùng nói chung.
Thứ hai, đa dạng hóa các hình thức liên kết là chiến lược phù hợp, song hình
thức liên kết theo chiều ngang là phù hợp trong giai đoạn 10 năm tới, các doanh nghiệp
ở các tỉnh khác nhau cần thực hiện quá trình chuyên môn hóa với tốc độ cao hơn trong
chuỗi giá trị của sản phẩm. Nâng cao mức độ liên kết trong công nghiệp xuất khẩu
(giữa vùng chuyên môn hóa nguyên liệu và vùng chuyên môn hóa chế biến sản phẩm).
Sau đó, chuyển sang liên kết dọc cùng với việc đẩy mạnh phát triển các ngành công
nghiệp phụ trợ, tăng mức độ tập trung của các doanh nghiệp công nghiệp.
Thứ ba, mức độ hội nhập của nền kinh tế Việt Nam ngày càng sâu với thị trường
thế giới, các doanh nghiệp quyết định dựa vào tín hiệu của thị trường đối với đầu vào và
đầu ra, tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào nguồn thông tin thị trường mà các doanh
nghiệp tiếp cận được. Do vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa các Chính quyền các tỉnh bằng
các thể chế liên kết kinh tế minh bạch (nghị định, hiệp định, hợp đồng, các kích thích
kinh tế…), giảm thiểu các rào cản thâm nhập thị trường tạo môi trường thuận lợi nhằm
đẩy mạnh khả năng liên kết hiệu quả và bền vững giữa các doanh nghiệp trong vùng.
Thứ tư, nâng cao mức độ liên kết giữa các tỉnh trong đầu tư nhằm cải thiện chất
lượng cơ sở hạ tầng liên tỉnh (đường bộ-đường thủy-hàng không, trong đó hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status