Báo cáo nghiên cứu khoa học " HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH QUẢNG NAM " potx - Pdf 14



23

HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH QUẢNG NAM
Phùng Thị Hồng Hà, Hồ Công Lưỡng
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

TÓM TẮT
Sau quá trình chuyển đổi, các HTX nông nghiệp ở tỉnh Quảng Nam đã có
nhiều chuyển biến tích cực trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Tuy nhiên, do hạn chế về vốn, năng lực quản lý nên vẫn có một số HTX hoạt động
chưa thực sự hiệu quả, chỉ bó hẹp trong một số khâu dịch vụ. Chất lượng và giá
cả dịch vụ còn có nhiều vấn đề cần cải tiến. Trên cơ đó đề tài đã đưa ra một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX.

Ngày nay, các HTX nông nghiệp có một vị trí hết sức quan trọng. Thông qua
các hoạt động dịch vụ, vai trò điều tiết sản xuất của HTX nông nghiệp được thực
hiện theo hướng tập trung, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất chuyên
canh, chuyên môn hoá cao. Mặt khác, hoạt động của các HTX chính là cầu nối
giữa Nhà nước với nông dân. Chính vì vậy mà HTX không thể thiếu trong nông
nghiệp, nông thôn nước ta. 24

Hoạt động của các HTX nông nghiệp ở Quảng Nam trong những năm qua đã
đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt
được thì hoạt động của các HTX ở Quảng Nam vẫn còn một số tồn tại. Đó là,
nhận thức về HTX kiểu mới và Luật HTX chưa được thấu đáo và quán triệt một
cách đầy đủ; Vốn và cơ sở vật chất của các HTX vẫn còn nhỏ lẻ và yếu kém;

hình trong số này là Điện An, Duy Sơn I, Bình Nguyên, Quế Châu Số HTX có
từ 5 khâu dịch vụ trở lên chiếm tỷ lệ 14,4%. Các HTX có 5 khâu như Điện Quang,
Duy Sơn II, Đại Hiệp.
Nhìn chung, hoạt động dịch vụ của các HTX vẫn còn chưa đa dạng. Giữa
các vùng vẫn không có sự khác nhau nhiều về các khâu dịch vụ. Việc thiếu đa
dạng hoá các hoạt động dịch vụ sẽ gây khó khăn cho các HTX trong việc tăng
nguồn thu, giảm rủi ro kinh doanh và thu hút xã viên tham gia.
1.3. Tình hình vốn của các Hợp tác xã
Vốn bình quân trên 1 HTX trong tỉnh là 1,173 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn
chủ sở hữu chiếm 75%, nợ phải trả chiếm 25%. Trong nguồn vốn chủ sở hữu,
nguồn từ HTX cũ chuyển qua chiếm đến 65%, cổ phần do xã viên đóng góp chỉ
chiếm có 35%. Giá trị mỗi cổ phần tuỳ theo các HTX, dao động từ 100 nghìn
đồng đến 400 nghìn đồng/1 cổ phần và số lượng cổ phần tùy thuộc vào năng lực
và yêu cầu vốn góp của các HTX.
Nếu phân chia theo tính chất chu chuyển, cơ cấu vốn của các HTX gồm
43,98% vốn lưu động và 56,02% vốn cố định. Trong cơ cấu vốn lưu động khoản
phải thu chiếm 49,78%, đặc biệt là phải thu của xã viên. Việc tồn tại các khoản
phải thu lớn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất kinh doanh của các
HTX. 26

Vốn cố định chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu vốn của các HTX là do đa số các
HTX đều sở hữu các công trình được chuyển giao từ trước. Các công trình này có
giá trị rất lớn như thủy lợi, điện, nhà làm việc, kho chứa, cửa hàng, sân phơi,
chuồng trại, chiếm 58,55% vốn cố định. Tuy nhiên, các công trình này đang
xuống cấp trầm trọng. Do vậy, mặc dù chiếm tỷ lệ lớn trong vốn nhưng khả năng
sinh lời của chúng đang bị giảm sút.
1.4. Xã viên của các Hợp tác xã

nhiệm, Kế toán trưởng và Trưởng ban kiểm soát. Chủ nhiệm là người có mức
lương cao nhất với lương bình quân 573,73 nghìn đồng/tháng, Phó chủ nhiệm
513,7 nghìn đồng/tháng và thấp nhất là Trưởng ban kiểm soát, chỉ có 402,69
nghìn đồng/ tháng. Hiện nay, mức lương tối thiểu được Nhà nước qui định là 450
nghìn đồng/tháng. Như vậy, Chủ nhiệm có mức lương cao nhất cũng chỉ vượt
lương cơ bản chưa tới 200 ngìn đồng/tháng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến đời
sống cũng như khả năng phát triển cán bộ của các HTX.
1.7. Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các Hợp tác xã
Số liệu của bảng cho thấy, tổng doanh thu của các HTX trong tỉnh tăng qua
các năm. Cụ thể, năm 2004 so với năm 2003 tăng lên 29,97%, năm 2005 so với
năm 2004 tăng 13,75%. Các HTX đạt doanh thu cao trong năm 2005 như Điện
Ngọc 1: 11,749 tỷ đồng, Duy Sơn 2: 6,775 tỷ đồng, Duy Phước: 4,653 tỷ đồng,
Điện Hồng 2: 4,63 tỷ đồng, Đại Hiệp: 3,41 tỷ đồng.
Bảng 1: Kết quả và hiệu quả hoạt động của các HTX năm 2005
Đơn vị tính : Triệu đồng 28

So sánh
%

Chỉ tiêu

Năm
2003

Năm
2004


Để đánh giá chất lượng các dịch vụ của các HTX, chúng tôi đã điều tra 100
xã viên thuộc 4 HTX: Tam Thành 1; Bình An 2; Đại Hiệp, Quế Xuân 2. Thống kê
kết quả đánh giá của xã viên về chất lượng dịch vụ của các HTX trong tỉnh cho
thấy:
Có 48% số ý kiến cho rằng chất lượng dịch vụ ở 3 khâu (thủy lợi, điện và
cung ứng vật tư) ở mức trung bình. Trong đó, dịch vụ cung ứng vật tư là dịch vụ
có số ý kiến đánh giá tốt nhiều nhất (32%). Điển hình là HTX Tam Thành 1 và
HTX Đại Hiệp đã linh động trong việc nhận vật tư của các công ty, tạm ứng cho
xã viên sản xuất kinh doanh. Sau vụ thu hoạch xã viên sẽ thanh toán cho HTX
cũng như các công ty với giá cả hợp lý, có tính đến yếu tố rủi ro của xã viên.
Kết quả kiểm định cho thấy, ở mức ý nghĩa 5%, có sự khác biệt trong đánh
giá của xã viên về chất lượng dịch vụ vật tư giữa các HTX với nhau. Điểm bình
quân của tất cả các HTX trong khâu dịch vụ này là 1,87 cho thấy chất lượng dịch
vụ của các HTX ở mức trung bình khá. Tuy nhiên HTX Quế Xuân có điểm trung
bình là 2,36 cho thấy chất lượng dịch vụ của khâu này ở mức kém so với các HTX
khác.
Kết quả kiểm định đối với dịch vụ thủy lợi và điện cho thấy không có sự
khác nhau nhiều về chất lượng dịch vụ giữa các HTX. Điểm bình quân của dịch
vụ điện là 2,05 và dịch vụ thủy lợi là 2,00 cho thấy chất lượng dịch vụ của 2 khâu
này ở các HTX đều ở mức trung bình.
2.2. Đánh giá của các xã viên về giá cả các dịch vụ
Hầu hết các xã viên đều cho rằng giá các dịch vụ mà HTX cung cấp là cao
(thủy lợi 52%, cung ứng vật tư 52% ý kiến). 30

Đối với dịch vụ điện, do có sự qui định về khung giá của Nhà nước nên giá
cả của khâu dịch vụ này được xã viên đánh giá là có thể chấp nhận được. Tuy
nhiên, ở hai HTX Quế Xuân 2 và Bình An 2, do sự xuống cấp của hệ thống đường

- Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế; thu
nhập của cán bộ thấp và không ổn định.
- Hầu hết vốn lưu động của các HTX là các khoản nợ phải thu, vốn cố định
là những vật kiến trúc đã xuống cấp, không phát huy hết năng lực hoặc không sử
dụng được.
- Xã viên vẫn chưa thực sự quan tâm tham gia HTX một cách hăng hái và tự
nguyện.
- Một số địa phương còn thiếu sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo địa
phương. Ngược lại, một số nơi lại can thiệp quá sâu vào hoạt động của các HTX.
- Hoạt động của nhiều HTX còn mang tính biệt lập, thiếu gắn kết, chưa đẩy
mạnh các hình thức liên doanh, liên kết tạo nên sức mạnh tổng hợp giữa các HTX
và giữa HTX với các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác.

4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ
4.1. Giải pháp về vốn 32

Cân đối lại cơ cấu vốn trên cơ sở tăng vốn lưu động và phát huy khả năng
sản xuất của vốn cố định. Đối với vốn lưu động, các HTX cần chú trọng giải
quyết các nợ khó đòi. Đối với vốn cố định, nên thanh lý những TSCĐ không sử
dụng được, đầu tư nâng cấp những công trình quan trọng nhằm tăng khả năng
cung cấp các dịch vụ cho người dân.
4.2. Giải pháp về cán bộ
Để tăng khả năng quản lý HTX cần phải trẻ hóa đội ngũ cán bộ, xem xét lại
mức lương cũng như các chính sách đãi ngộ khác, nâng cao năng lực quản lý của
các cán bộ thông qua công tác đào tạo.
4.3. Nâng cao chất lượng và mở rộng các loại hình dịch vụ

6. Tập san Kinh tế Hợp tác, Liên Minh HTX Quảng Nam (2007)
7. Báo cáo Kết quả phong trào Hợp tác xã và hoạt động của Liên minh Hợp
tác xã tỉnh năm 2006, nhiệm vụ năm 2007, Liên minh hợp tác xã Quảng
Nam, 2006
8. Báo cáo tổng kết công tác quản lý Hợp tác xã nông nghiệp năm 2005 và
phương hướng nhiệm vụ năm 2006, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn - Chi cục Phát triển nông thôn Quảng Nam (2006) 34

9. Báo cáo tình hình Hợp tác xã nông nghiệp và một số đề xuất, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi cục Phát triển nông thôn Quảng
Nam (2006)
10. Báo cáo tổng kết công tác quản lý Hợp tác xã nông nghiệp năm 2005 và
phương hướng nhiệm vụ năm 2006, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Quảng Nam (2006) 35

AGRICULTURAL COORPERATIVES IN QUANG NAM PROVINCE
Phung Thi Hong Ha, Ho Cong Luong
College of Economics, Hue University
SUMMARY
After transformation, agricultural cooperatives in Quang Nam province
have achieved many good results in expanding scale and improving service
quality. However, due to constraints on capital and management capacity, several
cooperatives are still not efficient. They are facing with limited provision of
services, poor services quality and less competitive price. Based on main findings,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status