5
ĐÁNH GIÁ DỊCH TỄ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
DỊ VẬT ĐƯỜNG ĂN VÀO KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI
KHOA TAI MŨI HỌNG BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Nguyễn Tư Thế
Trường Đại học Y khoa, Đại học Huế
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị vật đường ăn (DVĐĂ) là một tai nạn rất thường gặp, hàng ngày vào
khám và điều trị tại khoa Tai Mũi Họng (TMH) với một số lượng đáng kể.
Ở Việt Nam hầu như 100% người trưởng thành đều có hóc xương một lần
trở lên. Dị vật đường ăn gặp nhiều hơn dị vật đường thở, người lớn hóc nhiều
hơn trẻ em. Bản chất dị vật muôn hình muôn vẻ, thường là xương và các dị vật
lẫn trong thức ăn, nhưng đôi khi là hàm răng giả, hạt trái cây hay tôm cá còn
sống [2][3] 6
Dị vật đường ăn tuy phổ biến nhưng do trình độ hiểu biết ít, bệnh nhân
(BN) đến bệnh viện thường quá trễ, đôi khi đã có biến chứng nặng nề phải điều
trị lâu dài, tốn kém, ảnh hưởng sức khoẻ, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng.
Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào bản chất dị vật, tuổi BN, đến khám sớm
hay muộn, trang thiết bị và khả năng cán bộ cơ sở điều trị. Vì vậy, chúng tôi
nghiên cứu “Đánh giá dịch tễ và đặc điểm lâm sàng bệnh nhân bị dị vật đường
ăn vào khám và điều trị tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Trung ương Huế”
nhằm mục đích:
- Tìm hiểu dịch tễ và đặc điểm lâm sàng dị vật đường ăn
- Sử dụng toán thống kê để so sánh.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1: Tổng hợp chung dị vật đường ăn ở trẻ em và người lớn theo giới
Bệnh nhân Trẻ em Người lớn Tổng cộng P
Nam 20 (19,2%) 84 (80,8%) 104 (47,7%) > 0,05
Nữ 19 (16,7%) 95 (83,3%) 114 (52,3%) > 0,05
Tổng số 39 (17,9%) 179 (82,1%) 218 (100%) Tổng số
P < 0,01
Qua bảng 1 chúng tôi có nhận xét: Trong 218 trường hợp hóc chỉ 39 trẻ
em (≤ 15 t) chiếm 17,9%, người lớn 179 (82,1%). Như vậy, tỷ lệ người lớn
hóc nhiều hơn trẻ em, khác nhau có ý nghĩa thống kê P< 0,01. Trong khi đó, tỷ lệ
hóc giữa nam và nữ tương đương nhau P>0,05
Bảng 2: Phân loại dị vật đường ăn theo giới và lứa tuổi 9
Lứa tuổi Nam Nữ Tổng
n % n % n %
<1 – 15 19 8,7 20 9,2 39 17,9
16 - 40 45 20,6 58 26,7 103 47,2
41- 60 21 9,6 23 10,6 44 20,2
61
17 7,8 15 6,9 32 14,7
Tổng số 102 46,8 116 53,2 218 100
P >0,05 <0,01
Qua bảng 2 chúng tôi có nhận xét:
- Tất cả mọi lứa tuổi đều bị hóc DVĐĂ: Điều này không có gì lạ vì mọi
n % n % N %
Ngày thứ 1 41 40,2 45 38,8 86 39,4
Ngày thứ 2 25 24,5 30 25,9 55 25,2
Ngày thứ 3 18 17,6 21 18,1 39 17,9
Ngày thứ 4 10 9,8 13 11,2 23 10,5
Ngày thứ 5 8 7,8 7 6,0 15 6,9
Tổng số 102 47,7 116 52,3 218 100
Đánh giá thời gian đến khám và điều trị (bảng 4) chúng tôi có nhận xét:
- Bệnh nhân đến khám vào ngày thứ nhất chiếm tỷ lệ cao nhất (39,4%)
và sau đó có xu hướng giảm dần. Tuy vậy đến vào ngày thứ 3 trở lên có tới 35,3
% . Đây là thời gian thường đã có biến chứng. 12
So với trước đây bệnh nhân đến khám vì hóc sớm hơn chứng tỏ nhận thức
hóc dị vật và bệnh nhân quan tâm sức khỏe hơn [2][3][5]
Bảng 5: Phân loại nguyên nhân gây hóc
Nguyên nhân n Tỷ lệ % P
Cười đùa trong khi ăn 120 55,0 < 0,01
Ăn nhanh, vội 77 35,3
Hóc trong khi say rượu 15 6,9
Vô tình nuốt dị vật 6 2,8
Tổng số 218 100
Qua bảng 5 chúng tôi có nhận xét: Cười đùa trong khi ăn chiếm tỷ lệ cao
nhất 55% (P < 0,01), sau đó là ăn nhanh, ăn vội vàng (35,3%). Ngoài ra, hóc khi
say rượu hoặc ngậm vô tình nuốt chiếm gần 10% tổng số hóc.
Như vậy để tránh hóc xương chỉ cần giáo dục cộng đồng ăn chậm nhai kỹ
và nghiêm túc trong khi ăn là tránh được hóc.
Tổng số 218 100
Nhận xét: Nếu phân loại theo nguồn gốc bản chất dị vật thì chủ yếu
DVĐĂ có nguồn gốc chất hữu cơ (là xương trong thức ăn) chiếm >71,1%. Ngoài
ra, các loại dị vật khác không phải là xương nhưng không kém phần nguy hiểm
như hàm răng giả, các loại hạt trái cây, các mảnh nhựa, gỗ hay thủy tinh lẫn trong
thức ăn. Kim loại chỉ có 2 trường hợp, trong đó một trường hợp là ăn cháo gà
nhưng lại hóc kim tiêm và một bệnh nhân tâm thần hóc mảnh đồ hộp nhiều góc
cạnh.
Bảng 8: Kết quả soi gắp dị vật
Soi gắp dị vật N:218 Tỷ lệ % 15
Soi lấy được dị vật 161 73,8
Soi không tìm thấy dị
vật
57 26,2
Tổng số 218 100
Nhận xét: 73,8% soi có dị vật, 26,2% không có dị vật. Thật ra, số không
gắp được dị vật không phải là không hóc dị vật mà có thể dị vật bé lẫn khuất
trong niêm mạc có khi bị tiêu hủy ngay trong ổ áp xe. Bằng chứng các phẫu thuật
mở cạnh cổ dẫn lưu áp xe không mấy khi thấy xương khi soi thực quản và ở ổ áp
xe [4][8][9].
Bảng 9: Phân loại theo biến chứng
Biến chứng N:218 Tỷ lệ %
Áp xe quanh thực quản 13 24,1
Áp xe dưới niêm mạc 18 33,3
Viêm tấy, xây xước
(phải đặt sonde dạ dày)
điều trị theo dõi tiếp. Điều này phù hợp với bệnh nhân chúng ta ngại khám chỉ
khi đau quá hay không còn cách nào khác mới chịu vào điều trị.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu trên 218 BN bị hóc đường ăn vào khám và điều trị tại bệnh
viện TW Huế từ 1/2002 đến 12/2003. Chúng tôi có một số kết luận:
Tỉ lệ hóc tương đương nhau giữa nam (47,7%) và nữ (52,3%), và ở tất cả
mọi lứa tuổi (p>0,05), nhưng người lớn (82,1%) trẻ em (17,9%) p<0,01.
Lứa tuổi 16-40 hóc (47,2%), >60t hóc (14,7%), nhóm lao động chân tay
(công nhân, nông dân, buôn bán ) hóc cao nhất (54,1%).
Gần 40% hóc xong đến khám ngay, tuy vậy có 35,3% đến khám trễ
Nguyên nhân hóc do cười đùa, nói chuyện trong khi ăn và ăn vội 90,3%. 18
Trên lâm sàng, triệu chứng nuốt đau chiếm 97,2%, ấn đau gặp 68,2%.
Nguồn gốc bản chất dị vật là chất hữu cơ (xương) 71,1%.
Điều trị: soi gắp được dị vật 73,8%, không thấy dị vật 26,2%.
Biến chứng chung 24,8%, biến chứng nhẹ 72% (viêm tấy, áp xe dưới niêm
mạc), nặng 27,8% (áp xe quanh thực quản, khó thở), không có tử vong.
Phương pháp điều trị được áp dụng: Soi gắp xương - Điều trị nội khoa
(41,3%). Điều trị nội khoa-Soi gắp xương 32,1%. Soi gắp được xương cho về
26,6%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Huỳnh Anh, Phạm Sĩ Hoãn. Tình hình dị vật thực quản tại bệnh viện
Đà Nẵng. Nội san ĐH lần thứ X Hội TMH Việt Nam (1999) 266 -
269.
2. Lương Sỹ Cần và CS. Nhận xét những trường hợp hóc xương gây áp
xe và viêm tấy Nội san số 3 (1960) 67 - 71
3. Nguyễn Văn Đức. Những bệnh thông thường về họng NXB Y học Hà
mọi lứa tuổi (p>0,05), nhưng người lớn (82,1%) nhiều hơn trẻ em (17,9%)
p<0,01.
- Lứa tuổi từ 16-40 bị hóc nhiều nhất (47,2%), >61tuổi hóc ít nhất (14,7%),
cao nhất là công nhân, nông dân, buôn bán ( 54,1%)
- Gần 40% đến khám ngày đầu, tuy vậy, có 35,3% đến khám trễ ≥ ngày thứ
3
- Nguyên nhân hóc do cười đùa, nói chuyện trong khi ăn và ăn vội (90%).
- Lâm sàng: Nuốt đau 97,2%, ấn máng cảnh đau gặp 68,2%.
- Bản chất dị vật là chất hữu cơ (xương) 71,1%.
- Soi gắp được dị vật 73,8%, không thấy dị vật 26,2%.
- Biến chứng chung 24,8%, biến chứng nhẹ 72% (viêm tấy, áp xe dưới
niêm mạc), nặng 27,8% (áp xe quanh thực quản, khó thở), không có tử vong.
- Phương pháp điều trị được áp dụng nhiều nhất là: Soi-điều trị nội khoa
(41,3%). Điều trị nội khoa - Soi (32,1%), soi xong cho về (26,6%).
21
EPIDEMIOLOGICAL ASSESSMENT AND CLINICAL FEATURES
OF THE FOREIGN BODIES IN THE ESOPHAGUS OF THE PATIENTS
EXAMINED AND TREATED AT HUE CENTRAL
HOSPITAL’S DEPARTMENT OF E.N.T
Nguyen TuThe
College of Medicine, Hue University
SUMMARY
Our studyof 218 patients with foreign bodies in the esophagus treated at
ENT Department of Hue Central Hospital from 1.2002-12.2003, gave the
following results: