Bộ Nông Nghiệp & PTNT
_____________________________________________________________________ BÁO CÁO TIẾN ĐỘ
036/04VIE
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA VIỆC ỨNG DỤNG BIỆN
PHÁP “FFS” TRONG QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP
TRÊN CÂY CÓ MÚI TAII VIỆT NAM MS2: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ NHẤT
1
1. Trích lược Dự án
Việt Nam đã phát triển rất tốt chương trình “IPM” Quốc gia, chương trình nầy đã
huấn luyện được hơn 500.000 nông dân về kỹ thuật thực hiện “IPM” trên lúa, rau,
bông vải, trà, đậu nành, đậu phộng và khoai lang. Từ trước đến nay, chưa có dự án
nào hướng dẫn nông dân về “IPM” trên cây có múi. Đây là một loại cây ăn trái rất
quan trọng ở Việt Nam. Trong Dự án về “Đánh giá hiệu lực của việc ứng dụng bi
ện
pháp “FFS” trong quản lý dịch hại tổng hợp trên cây có múi tại Việt Nam” nầy, trong
6 tháng đầu năm 2005 các hoạt động đã thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra và đã
huấn luyện được 98 Huấn luyện viên do 10 nhà khoa học nòng cốt huấn luyện. Các
Huấn luyện viên nầy sẽ đảm trách 24 lớp “FFS” bao gồm 12 tỉnh thuộc khu vực Đồng
bằng Sông Cửu Long và ven biển Miền Trung của Việt Nam. Các lớp “FFS” ti
ến
hành họp mặt và huấn luyện cho nông dân hàng tuần, tổng cộng là 21 tuần lễ. Chương
trình hoạt động và huấn luyện cho nông dân tại mỗi lớp “FFS” đã được đưa ra một
cách thống nhất và thực hiện giống nhau tại mỗi lớp “FFS”. Các thí nghiệm mô hình
trình diễn cũng đã được thiết kế theo sơ đồ cụ thể và cũng đã được hướng dẫn cho
Huấn luyện viên t
ại 16 lớp “FFS” trong đợt đi thăm kết hợp giữa các nhà khoa học Úc
và Việt Nam trong tháng 6/2005. Toàn bộ các vấn đề chính của khung Dự án cũng đã
được ghi nhận và thực hiện theo đúng kế hoạch. Đây là một nền tảng rất tốt nhằm để
thực hiện được mục tiêu của Dự án thông qua kế hoạch từng ngày cụ thể cho việc
hoàn thành dự án.
3. Giới thiệu & bối cảnh
Cây có múi là một trong những cây trồng chính tại Việt nam (Bộ NN & PTNT, 2004)
và sản lượng cây có múi là nguồn quan trọng làm tăng lợii tức cho nhiều nông dân
2
Việt Nam trồng cây có múi. Tuy nhiên, sức sản xuất và sản lượng cây có múi tại Việt
Nam luôn luôn thấp hơn so với nhiều nước phát triển khác. Đây là tình hình chung mà
theo đánh giá của Bộ NN & PTNT “một cách tổng quát, về sự canh tác cây có múi thì
Những phương pháp mấu chốt đã được chấp nhận trong Dự án nầy là nông dân tham
gia học và hành một cách cơ bả
n. Hai kỹ thuật mục tiêu là tham gia gắn kết một cách
đầy đủ và cho phép nông dân nghiên cứu học hỏi trực tiếp để có được nhu cầu hiểu
biết tốt nhất.
4. Tiến độ cho đến thời điểm báo cáo
4.1 Những điểm chính đáng lưu ý
Những điểm đáng lưu ý đã được đề cập trong kế hoạch họp mặt vào ngày 25 tháng
01/2005 mà các đối tác Dự án đã đưa ra phác hoạ chung. Những người đã được chỉ
định những nhiệm vụ và thời hạn khác nhau cần lưu ý đã được đặt ra. Rồi thì buổi họp
các đối tác của Dự án đã được tiế
n hành vào ngày 22/3/200. Tại buổi họp nầy, nơi tiến
hành “TOT” và các địa phương sẽ thực hiện các lớp “FFS” cũng đã được xác định
trong bản thảo của chương trình. Có 2 khoá huấn luyện cho Huấn luyện viên “TOT”
sẽ được tổ chức từ ngày 18-29/4/2005 và từ ngày 09-20/5/2005. Các lớp “FFS” đã
được đề cập sẽ tiến hành vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6/2005. Từ ngày 01-19/6 sẽ đi
kiểm tra các lớp “FFS” do các đối tác của Úc và Việt Nam trong Dự án, các d
ữ liệu cơ
bản đã được chọn lựa để thu thập và hướng dẫn các thí nghiệm mô hình bổ sung.
3
4.2 Xây dựng năng lực
Cục Bảo Vệ Thực vật có năng lực rất tốt về việc chọn nông dân tham gia huấn luyện.
Tuy nhiên, Dự án nầy đang nói về những khoảng cách về năng lực có liên quan đến
kiến thức về chuyên môn trong “IPM” trên cây có múi, sử dụng như là một tiếp cận
để tham gia. Dự án đang phân chia một mặt bằng để thông qua đó các khoảng trống
v
ề năng lực Cục Bảo Vệ Thực Vật sẽ bổ sung và sắp xếp các nguồn lực. Hầu hết về
chuyên môn và những kỹ năng cần thiết thì đã có sẳn ở Việt Nam trong các Trường
Đại học và Viện Nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề được đề cập trước tiên trong Dự án
cây có múi khác nhau Mục tiêu của Dự án trong năm thứ 1 là huấn luyện cho 90
Huấn luyện viên và những Huấn luyện viên nầy sẽ tiến hành 24 lớp “FFS”. Hai khoá
huấn luyện “TOT” đã được tổ chức từ ngày 18-29/4 và 9-20/5/2005. Trong 2 khoá
huấn luyện nầy tổng số Huấn luyện viên đã được đào tạo là 98 người. Các nhà khoa
học chịu trách nhiệm huấ
n luyện được thể hiện ở bảng 1. Đánh giá năng lực của Huấn
luyện viên đã được tham gia trong các khoá học đạt ở mức 75% trở lên (xem Phụ lục
1).
Bảng 1. Tựa đề bài giảng và tên của các giảng viên
Nội dung Người giảng dạy Cơ quan Thời gian
(ngày)
Biện pháp canh tác cây có múi Vo Huu Thoai SOFRI 2
Nhu cầu dinh dưỡng của cây có
múi
Nguyen Bao Toan CTU 1
IPM Nguyen Thi Thu CTU 1
4
Cuc
Dầu khoáng cho cây trồng như là
một loại thuốc trừ dịch hại
Oleg Nicetic /
Nguyen Ngoc Thuy
UWS/SPPC 1
Sâu hại và Thiên địch của chúng Ho Van Chien PPD 1
Bệnh Greening & Tristeza Nguyen Van Hoa SOFRI 1
Những bệnh hại khác trên cây có
múi
Pham Hoang Oanh CTU 1
Bảng 2. Các địa phương thực hiện “FFS”
Tỉnh Số lớp “FFS”
Đồng bằng Sông Cửu Long
Tien Giang 3
Dong Thap 2
Vinh Long 3
Can Tho 3
Tra Vinh 1
Hau Giang 2
Soc Trang 1
Ben Tre 3
5
Ven biển Miền Trung
Khanh Hoa 2
Binh Dinh 1
Quang Nam 1
Nghe An 2
Tổng số
24 6
Bảng 3. Nội dung huấn luyện cho lớp “FFS”
Tuần lễ Các hoạt động
1 Tiếp xúc, tổ chức lớp và lựa chọn vườn
2 Khai giảng, chia nhóm nông dân và điều tra nông dân đầu khoá
5.1 Môi trường
Tiêu điểm của lớp “FFS” là kiến thức của nông dân được gia tăng về sinh thái và ảnh
hưởng của thuốc đến con người cũng như sinh thái. Tiếp cận nầy có tiềm năng giảm
được các mặt gây hại đối với môi trường do các hoạt động của con người.
5. 2 Yếu tố về Xã hội và Giới
Trong khoá huấn luyện cho Huấn luyện viên có tổng số 69 nam và 29 nữ. T
ỷ lệ này
một cách bao quát cho thấy có sự cân bằng về giới của Huấn luyện viên về Bảo vệ
thực vật. Tại vùng ven biển Miền Trung thì tỷ lệ nam nữ của nông dân tham gia huấn
luyện cũng tương tự như của Huấn luyện viên. Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng
sông Cửu long thì tỷ lệ nữ tham gia trong các lớp “FFS” lại ít hơn. Vấn đề nầy có lẽ
có liên hệ
đến vai trò truyền thống của phụ nữ là chăn nuôi ở vùng đồng bằng.
7
6. Thực hiện Dự án & tính bền vững
6.1 Những khó khăn & trở ngại
Trở ngại chính của Dự án là việc đi lại rất khó khăn và kinh phí để nông dân đi lại
giữa các lớp “FFS” trong những tỉnh khác nhau. Nông dân được cho phép đi lại để
đến lớp “FFS” ở những vùng khác nhau là một thuận lợi lớn để họ trực tiếp trao đổi
thông tin và những kinh nghiệm về việc trồng cây có múi. Chúng ta biết rằng nông
dân có thể có những thông tin rất t
ốt với nhau và thực sự là nông dân thì nhiều hơn
các nhà khoa học và cán bộ chuyên môn. Một trở ngại khác của Dự án là kế hoạch
quá tập trung vào các hoạt động ACIAR và CIRAD, những hoạt động nầy không liên
quan nhiều đến nhu cầu của nông dân. Trong năm thứ hai của Dự án, những phản hồi
từ nông dân, Huấn luyện viên và những đối tác trong Dự án sẽ được xem xét lại để tập
trung và những hoạt động theo nhu cầu c
ủa nông dân. 8