Báo cáo
Đánh giá hiện trạng kinh tế-xã hội và công nghệ nuôi ngao
và nuôi tôm t
ại khu vực ven biển Bắc Trung Bộ
Nhu Van Can
Martin S Kumar Viện nghiên cứu và phát triển nam Australia
PO Box 120, Henley Beach, South Australia 5022
Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung Bộ
Thị xã Cửa Lò, Tỉnh Nghệ An
1
NGHIÊN
CỨU 3
5. PH
ƯƠNG
PHÁP
NGHIÊN
CỨU 5
5.1. Thi
ết kế thu mẫu 5
5.2. Thu s
ố liệu 5
5.3 .X
ử lý số liệu 6
6. K
ẾT
QUẢ
NGHIÊN
CỨU
VÀ
THẢO
ỆU THAM KHẢO 24
9. L
ỜI CẢM ƠN 24
Phụ lục 1 25
Ph
ụ lục 2 31
2
Tóm tt
Nuôi trồng động vật thân mền hai mảnh vỏ như ngao đang là hoạt động hứa hẹn thu nhiều lợi
nhu
ận mặc dù tỷ lệ sản xuất thấp. Tuy nhiên, nghề nuôi ngao đang gặp khó khăn đó là nguồn
con gi
ống chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên. Cùng thời gian mà bệnh dịch bùng phát đối với
ngh
ề nuôi tôm mà nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường nước, gây suy giảm hoàn toàn
s
ản lượng nuôi trồng. Ngao đang được ghi nhận như là máy làm sạch nước (động vật ăn lọc),
vì th
ế chất lượng nước sẽ được cải thiện nếu ngao có thể được đưa vào nuôi chung với hệ
th
ống nuôi tôm. Do đó, nuôi kết hợp ngao với tôm sẽ giảm rủi ro thông qua việc quản lý môi
tr
ường ao nuôi tốt hơn và có tiềm năng để nâng sản lượng ngao và tôm.
Các ngân hàng th
ận trong trong cung cấp vốn vay cho nuôi ngao do sự bất ổn về sản lượng
s
ản phẩm từ nuôi trồng chiếm khoảng hơn 40% tổng số. Trong năm 2005, Việt Nam đã thu
được hơn 1 triệu MT sản phẩm thủy sinh vật (MOFI master plan, 2006). Tuy nhiên, do bệnh
t
ật bùng phát mà nguyên nhân là sự ô nhiễm môi trường nguồn nước, đặc biệt là nghề nuôi
tôm,
đang làm cho sự suy giảm sản lượng nuôi trồng thủy sản. Trong nội dung này, một định
h
ướng để đa dạng sản phẩm nuôi trồng thành hàng hóa cần được xem xét một cách hợp lý.
S
ử mở rộng và đa dạng hóa các đối tượng, hệ thống nuôi có thể khẳng định mạnh mẽ trong
s
ản xuất và giá trị về thị trường (đặc biệt sự cải thiện môi trường nước thông qua nhuyễn thể
được xem như là một máy lọc nước sinh học). Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam đối với sự
phát tri
ển này là tạo ra một sản phẩm cho thị trường với 50.000 tấn nhuyễn thể hàng năm
(MOFI master plan, 2006) vào n
ăm 2010.
Nuôi nhuy
ễn thể đang hứa hẹn có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là nuôi ngao mặc dù tỷ lệ sản
l
ượng hiện vẫn còn thấp. Tuy nhiên, nghề nuôi ngao đang gặp khó khăn chính là nguồn con
gi
ống phụ thuộc vào tự nhiên, sản xuất giống cũng như hệ thống nuôi kết hợp đang được đầu
t
ư rất thấp. Ngư dân đang phải tận dụng toàn bộ vùng triều cho nuôi ngao; đặc biệt người dân
3
sống ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ dựa vào sự khai thác cá truyền thống và các hoạt động
•
Đánh giá trạng thái kinh tế xã hội của các nông hộ với sự tập trung vào các hệ thống nuôi
tr
ồng khác nhau.
• Ch
ỉ ra các cơ hội và thách thức cũng như đưa ra các khuyến cáo về phát triển một hệ
th
ống nuôi trồng thủy sản bền vững.
4. Phm vi nghiên cu
Trong những năm gần đây, nghề nuôi ngao và nuôi tôm đang được triển khai tại một vài tỉnh
ven bi
ển. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu chương trình này chỉ giới hạn trong sáu tỉnh Bắc
Trung B
ộ Việt Nam, nơi mà cả hoạt động nuôi ngao và nuôi tôm đang được triển khai.
4
Vietnam
Thanh Hoa
Nghe An
Ha TinhQuang Binh
Q
uan
g
t
ại Nghệ An. Ngao spat sau đó được phổ biến dễ dàng cho hệ thống nuôi kết hợp cho 6 tỉnh
khác nhau. S
ự mong muốn thử nghiệm này dựa theo muc tiêu đã được đưa ra trong dự án
này.
Thu mẫu: Chương trình điều tra đã tiến hành trong 6 tỉnh ven biển khác nhau (Nghệ An,
Thanh Hóa, Hà T
ĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế), nơi mà đang có các hoạt
động nuôi ngao và nuôi tôm. Tổng số có 60 hộ nông dân được phỏng vấn một cách ngẫu
nhiên cho nghiên c
ứu này.
5.2 Thu số liệu
Một bộ câu hỏi chuẩn hóa với nhứng câu hỏi kín và câu hỏi mở được dùng để thu số liệu qua
ph
ỏng vấn hộ nông dân. Thu thập thông tin chính tập trung vào 4 vấn đề chính: lợi ích của
ng
ười dân và các hoạt động kinh tế, thực hành nuôi và các vấn đề nảy sinh, các thách thức và
các góp ý t
ừ người dân.
Thu th
ập số liệu theo các thông tin sau:
• Thông tin v
ề hộ nuôi: tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp
chính, s
ố năm kinh nghiệm trong nuôi trồng thủy sản, tham gia tập huấn về nuôi trồng
th
ủy sản hoặc các vấn đề liên quan.
• Thông tin liên quan trong nuôi tr
ồng thủy sản:
Hệ thống nuôi tôm:
t
ỉnh. Với việc dùng chương trình phần mền thống kê SPSS, sự mô tả biến động giá trị dưới
s
ự cân nhắc đã được thụ nhận. Các thống kê mô tả như giá trị trung bình, tần suất và tỷ lệ
ph
ần trăm đang được sử dụng để mô tả hiện trạng nghề nuôi.
6. Kt qu nghiên cu và tho lun
6.1 Mô tả về thực trạng nông hộ
6.1.1 Tuổi của người được phỏng vấn
Họat động nuôi ngao và nuôi tôm đang được đảm nhận bởi nhóm người có độ tuổi dao động
l
ớn. Độ tuổi trung bình của người tham gia nuôi tôm là 45,2 tuổi ( từ 21 đến 70 tuổi) trong
khi
độ tuổi trung bình của những người nuôi ngao là 42,6 tuổi (từ 28 đến 60 tuổi).
B
ảng 1. Dao động về độ tuổi của người dân tham gia vào nuôi trồng thủy sản trong 6
t
ỉnh đã điều tra
Nhóm
đối tượng
Trung bình
Sai số chuẩn trung
bình
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Nuôi tôm 45.2 1.3 21.00 70.00
ổng số 100.0% 100.0% 100.0%
6.1.3 Trình độ học vấn
Trong 6 tỉnh nghiên cứu, hầu hết các nông hộ biết chữ (96,6%) và khoảng 78,8% trong số họ
hoàn thành trình
độ cấp 2 và cấp 3. Đáng chú ý, một vài nông dân đã tham gia học đại học,
nh
ưng chỉ nuôi ngao.
Bảng 2. Trình độ học vấn của người được phỏng vấn trong vùng nghiên cứu
Nuôi tôm Nuôi ngao T
ổng số
Mù chữ
S
ố lượng 2 1 3
% trong t
ổng số 3,6% 4,3% 3,8%
H
ọc tiểu học
S
ố lượng 5 1 6
% t
ổng số 8,9% 4,3% 7,6%
H
ọc cấp 2
S
ố lượng 24 8 32
% trong t
ổng số 42,9% 34,8% 40,5%
6.1.4 Kinh nghiệm trong nuôi trồng thủy sản (năm)
Tất cả các hộ nông dân được lựa chọn đã trực tiếp tham gia vào các hoạt động nuôi trồng
th
ủy sản cũng như là hoạt động nuôi ngao và nuôi tôm. Kết quả từ bảng đã chỉ ra rằng trung
bình, kinh nghi
ệm nuôi ngao (7,3 năm) nhiều hơn nuôi tôm (5,6 năm). Tuy nhiên, một vài
nông dân
đã có thâm niên nuôi tôm từ rất lâu (cao nhất là 16 năm) so với nuôi ngao (cao nhất
là 12 n
ăm).
Bảng 4. Thâm niên nuôi tôm của người dân trong vùng nghiên cứu
Thành ph
ần Trung bình Sai số trung bình Thấp nhất Cao nhất
Nuôi tôm 5,6 0,55 1,00 16,0
Nuôi ngao 7,3 0,59 2,00 12,0
6.1.5 Tham dự các khóa tập huấn nuôi thủy sản
Cán bộ điều tra đã hỏi người dân có nhận được chương trình đào tạo nào về nuôi trồng thủy
s
ản không. Số liệu bảng 5 cho thấy phần lớn các họ nuôi tôm đã được tập huấn (89%), trong
khi 78% c
ũng đã được tập huấn về nuôi ngao. Số hộ còn lại được phỏng vấn chưa được tham
giai khóa t
ập huấn nào hoặc không nhận được câu trả lời.
B
ảng 3. Nông dân đã được tham gia vào tập huấn nuôi trồng thủy sản trong vùng
nghiên c
ứu
Nuôi tôm Nuôi ngao T
ổng số
Có tham gia
ới tính như nhau). Khác với gia đình truyền thống, những năm gần đây, các hộ nuôi thủy
s
ản trong vùng nghiên cứu bao gồm chỉ có bố mẹ và hai hoặc ba trẻ con. Người đàn ông
trong gia
đình và các thành viên trẻ hơn đảm nhận toàn bộ các hoạt động nuôi trồng thủy sản.
9
Bảng 6. Thông tin về gia đình tham gia nuôi trồng thủy sản
Quy mô gia
đình
Nam Nữ
Nuôi tôm
Trung bình 5,3 2,64 2,75
Giá tr
ị sai số trung bình
0,21 0,11 0,18
Th
ấp nhất 2,0 1,0 1,0
Cao nh
ất 10,0 5,0 6,0
Nuôi ngao
Trung bình 5,33 2,75 2,62
Giá tr
ố lượng 15 15
% trong t
ổng số 26.8% 18.8%
Ch
ăn nuôi động vật
Số lượng 2 2
% trong nhóm 3.6% 2.5%
Nuôi th
ủy sản
S
ố lượng 33 23 56
% trong nhóm 58.9% 95.8% 70.0%
Ngh
ề thủ công
S
ố lượng 2 2
% t
ổng số 3.6% 2.5%
S
ản xuất muối
S
ố lượng 4 1 5
% t
ổng số 7.1% 4.2% 6.3%
ểu bán thâm canh. Bằng chứng này chỉ ra rằng người dân đầu tư nhiều tiền và lao động cho
ho
ạt động nuôi ngao hơn nuôi tôm, hoạt động đang phải đối mặt với nhiều vấn đề chất lượng
n
ước và bệnh tật xuất hiện. Một lý do khác cho việc ưu tiên nuôi ngao này đó là so sánh rủi
ro ít h
ơn của nghề nuôi ngao.
B
ảng 9. Loại hình nuôi thủy sản trong vùng nghiên cứu
Nuôi tôm Nuôi ngao T
ổng
Nuôi kết hợp
♣
♣♣
♣
S
ố lượng 9 9
% trong nhóm 16.1% 12.7%
Nuôi qu
ảng canh
Số lượng 21 1 22
% trong nhóm 37.5% 6.7% 31.0%
Bán thâm canh
S
ố lượng 17 14 31
ứu này.
B
ảng 10. Đất được dùng trong nuôi trồng thủy sản
Shrimp Clam Total
Đất nông nghiệp
S
ố lượng 19 0 19
% trong t
ổng 33.9 0 27.1
Đất không sản xuất
S
ố lượng 37 14 51
% trong t
ổng 66.1 100 72.9
T
ổng
S
ố lượng 56 14 70
% trong t
ổng 100 100 100
6.3.3 Số lượng ao nuôi
Có hơn ½ hộ nông dân điều tra chỉ sở hữu một ao nuôi (60% hộ nuôi tôm và 56,5% hộ nuôi
ngao). M
ột tỷ lệ phần trăm thấp hơn hộ nông dân đang sử dụng 2 ao (khoảng 30% cho các hộ
nuôi ngao và nuôi tôm). S
ự hạn chế về số lượng ao nuôi có thể được giải thích là do có sự
h
% trong t
ổng 13.0% 3.8%
5.00
S
ố lượng 1 1
% trong t
ổng 1.8% 1.3%
12
6.3.4 Diện tích mặt nước
Có sự khác nhau có ý nghĩa về diện tích mặt nước giữa nuôi tôm và nuôi ngao. Diện tích ao
nuôi tôm trung bình là 0,78 ha, trong khi kích th
ước vây nuôi ngao là 3,81 ha. Nuôi ngao chỉ
là vi
ệc khoanh vây vùng bãi triều bằng lưới và cọc tre. Điều này cho thấy có sự khác nhau về
ph
ương pháp nuôi và giá trị đầu tư.
B
ảng 12. Diện tích ao nuôi (ha) được sử dụng để nuôi ngao và nuôi tôm
Com. Trung bình Sai s
ố trung bình Thấp nhất Cao nhất
Tôm
0.78 0.22 0.13 2.00
Ngao
3.81 0.84 0.40 5.00
T
ổng
Ảnh 1. Ao nuôi tôm
Ảnh 2. Ao chứa nước thải từ nuôi tôm
14
Bảng 14. Đặc điểm của nền đáy ao nuôi
Tôm Ngao T
ổng
Cát
S
ố lượng 12 10 22
% t
ổng số 21.1% 41.7% 27.2%
Cát bùn
S
ố lượng 37 13 50
% t
ổng số 64.9% 54.2% 61.7%
Bùn cát
S
ố lượng 6 1 7
% t
ổng số 10.5% 4.2% 8.6%
Bùn
S
ố lượng 2 2
ới 20.000 con/kg). Trong khi hệ thống nuôi thương phẩm, kích thước ngao thường từ
200 con
đến 300 cong/kg.
6.3.9 Mật độ nuôi thả
Mật độ thả giống trong 6 tỉnh điều tra dao động từ 10 tới 50 PL/m
2
đối với tôm và từ 20 tới
1750 ngao gi
ống/m
2
cho nuôi thương phẩm và ương con giống.
15
Bảng 16. Mật độ nuôi thả (Con/m
2
)
Com. Trung bình Sai số trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất
Tôm
16.5 1.73 10.00 50.00
Ngao
4050.9 1337.43 20.00 17500.00
6.3.10 Thời gian nuôi thả
Thời gian nuôi tôm được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm, với 55,6% tổng số vùng
nuôi
được thả giống vào tháng 3. Thời gian bắt đầu thả giống ngao thường muộn hơn 1
tháng, tháng 3, có 50% vùng nuôi ngao
được tiến hành vào tháng 5.
16Bi
ểu đồ 2. Nguồn cung cấp ngao giống
Bi
ểu đồ 3. Nguồn cung cấp tôm giống Collected
from wide,
12.50%
Purchased,
87.50%
From
nursing
places,
14.29%
From state
hatchery,
0.00%
From
others,
9.52%
From
middleman,
76.19%
6.3.12 Chuẩn bị ao nuôi
Việc chuẩn bị ao, vây nuôi tôm và ngao được tiến hành bởi người dân theo các bước sau đây:
Chu
ẩn bị ao nuôi tôm:
Tháo c
ạn ao và nạo vét bùn dưới đáy ao
Ph
ơi đáy ao trong 10 ngày (thời gian phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện thời tiết)
S
ử lý bằng vôi với tỷ lệ 5-15 kg/m
2
(dựa vào giá trị pH của đáy ao)
Bơm
nước vào ao, bao gồm cả thức ăn tự nhiên (dùng phân bón, thịt cá, nước mắm,
cám g
ạo)
Th
ả giống PL 12-23
Chu
ẩn bị vùng nuôi ngao:
Di chuy
ển các vật liệu to, cúng trên bề mặt bãi
San ph
ẳng bề mặt bãi, vây bãi và khử trùng bằng vôi
Xây d
ựng chòi canh để trông coi
Th
ả con giống
No
15.4%
Yes
84.6%
Bi
ểu đồ 4. Thực trạng thay nước trong ao nuôi tôm
6.3.15 Tần xuất thay nước
Dựa vào chế độ thủy triều và khả năng chứa nước của hệ thống ao chứa mà tần xuất thay
n
ước có thể là 1, 2, 3, 4 và thậm chí 5 lần trong một tháng. Số liệu khảo sát cho thấy có
kho
ảng ½ số ao được thay nước 1 lần trong tháng.
35.7
4.8
11.9
2.4
45.2
0.0
5.0
10.0
15.0
20.0
25.0
30.0
35.0
40.0
45.0
50.0
1 2 3 4 5
Ảnh 4. Ngao/nghêu nuôi (Nghêu Bến Tre- Meretrix lyrata )
20
6.3.16 Sự xuất hiện bệnh dịch
Các thông tin rất rõ ràng từ điều tra cho thấy rằng 100% hệ thống nuôi tôm đang đối mặt với
v
ấn đề bệnh tật, là cho ngư dân thiệt hại lớn về sản phẩm thu hoạch. Trong khi đó, nuôi ngao
được ghi nhận một sự mất mát nhỏ do sự ô nhiễm môi trường nước và sự bùng phát tảo độc.
S
ự thiệt hại về sản lượng ngao nuôi do vấn đề bệnh tật đang vẫn còn ở giai đoạn điều tra.
6.3.17 Kích thước thu hoạch (con/kg)
Qua bảng số liệu cho thấy kích thước thu hoạch của tôm dao động từ 15-100 con/kg (bình
quân là 48,3 con/kg).
Đối với ngao thì kích thước trung bình (50,1 con/kg) và kích thước dao
động từ 33,0 đến 66 con/kg.
B
ảng 18. Kích thước thu hoạch (con/kg) của ngao và tôm
Com Trung bình Sai s
ố trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất
Tôm
48,3 3,1 15,0 100,0
Ngao
21
8.2
53.1
4.1
4.3
69.6
8.2
26.5
17.4
8.7
0.0
10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
60.0
70.0
80.0
5 6 7 8 9 10 Year
round
Month
Percentage
Shrimp
Clam
Bi
ểu đồ 6. Thời gian thu hoạch ngao và tôm
Bảng 21. Các thị trường tiêu thụ ngao và tôm
Bán Tôm Ngao T
ổng
Bán lẻ
S
ố lượng 2 2
% t
ổng số 4,0% 2,7%
Bán buôn
S
ố lượng 17 19 36
% t
ổng số 34,0% 82,6% 49,3%
Bán buôn và bán l
ẻ
S
ố lượng 31 4 35
% t
ổng số 62,0% 17,4% 47,9%
T
ổng
S
ố lượng 50 23 73
% t
ổng số 100,0% 100,0% 100,0%
ấp nhất 600.000 330.000 270.000
Cao nh
ất 500.000.000 275.000.000 225.000.000
6.7 Nhừng khó khăn và tồn tại trong nuôi trồng thủy sản
Kết quả điều tra cho ra rằng có 3 hạn chế chính để phát triển nuôi trồng thủy sản trong vùng
nghiên c
ứu:
23
Vấn đề nổi trội là thiếu vốn sản xuất và thiếu đầu tư. Do mức đầu tư cao đối với nuôi tôm và
nuôi ngao, có kho
ảng 54% các hộ nuôi tôm và 42% các hộ nuôi ngao phản ánh họ có ít vốn
để đầu tư vào nuôi trồng thủy sản và thời gian vay tín dụng quá ngắn. Sự bất ổn về năng suất
nuôi tr
ồng thủy sản do công nghệ nuôi chưa chắc chắn tạo tâm lý không yên tâm cho ngân
hàng
để cung cấp tiền vay cho nông dân. Công nghệ nuôi xác đáng cùng với một sản lượng
s
ản phẩm thương mại đủ lớn sẽ xóa bỏ được tình trạng này.
M
ột hạn chế khác nữa đối với sự phát triển nuôi ngao và nuôi tôm là sự tiếp cận thị trường
các s
ản phẩm nuôi còn thấp. Như đề cập trước, việc bán ngao và tôm thường dựa vào người
trung gian d
ẫn đến việc bị ép giá hoặc bị kiểm soát giá. Người dân đã thực sự lưu ý tới nơi
mà h
ọ có thể bán được sản phẩm họ làm ra và nơi mà sản phẩm có thể đươc tiêu thụ. Có
ngao t
ạo ra lợi ích nhiều hơn nuôi tôm do chi phí đầu tư và rủi ro thấp. Mở rộng sự thành
công này s
ẽ góp phần cải thiện thu nhập gia đình và chất lượng cuộc sống cho người dân
trong các t
ỉnh này. Về lý thuyết, ngao được xem xét như là máy lọc nước làm sạch môi
tr
ường, do đó môi trường nước sẽ được cải thiện nếu như ngao có thể được nuôi cùng với hệ
th
ống nuôi tôm. Vì thế, nuôi kết hợp giữa ngao và tôm có thể làm giảm bớt rủi ro thông qua
vi
ệc quản lý chất lượng nước ao nuôi tốt hơn và cũng như có tiềm năng để nâng cao năng
su
ất ngao và tôm. Kết quả điều tra này đã chỉ ra một số trở ngại và tồn tại mà người dân
trong 6 t
ỉnh ở ven biển miền Bắc Trung Bộ ở Việt Nam phải đối mặt:
24
• Ô nhiễm môi trường là do chất lượng nước và quản lý dinh dưỡng ao nuôi tôm đang
đe dọa đến sự bùng phát bệnh dịch. Giá thành sản xuất tăng cao và lợi nhuận bị giảm
do d
ử dụng nhiều hóa chất, vôi, chế phẩm sinh học, vv để quản lý môi trường nước
và b
ệnh.
• Các ngân hàng do d
ự trong việc mở rộng đầu tư vốn do sản lượng nuôi không ổn định
vì công ngh
ệ nuôi chua rõ ràng đặc biệt trong trường hợp nuôi ngao. Tương tự, các
ngân hàng c
9. Lời cảm ơn
Các tác giả xin được gửi lời cám ơn tới nhóm điều tra, những người dân tham gia và các đại
di
ện của các cộng đồng cư dân ven biển về sự hợp tác và tham gia vào dự án. Tác giả cũng
xin
được dành sự cảm ơn tới Sally Clarke về sự cộng tác chỉnh sửa báo cáo này.