đánh giá tính hiệu quả của các lớp huấn luyện nông dân qua thực nghiệm (ffs) trong việc thực hiện quản lý dịch hại tổng hợp trên cây có múi tại việt nam - Pdf 10


1

Bộ Nông Nghiệp và PTNT Đánh giá tính hiệu quả của các lớp huấn luyện nông
dân qua thực nghiệm (FFS) trong việc thực hiện
quản lý dịch hại tổng hợp trên cây có múi
tại Việt Nam

CARD 036/04VIE

Báo cáo hoàn tất dự án
2008

1
1. Thông tin về cơ quan nghiên cứu
Tên dự án
Đánh giá tính hiệu quả của các lớp
huấn luyện nông dân qua thực nghiệm
(FFS) trong việc thực hiện quản lý dịch
hại tổng hợp trên cây có múi tại Việt
Nam
Cơ quan thực hiện phía Việt Nam
Cục Bảo vệ thực vật
Người điều phối tại Việt Nam
Ông Hồ Văn Chiến

Chức vụ:
Giám đốc, Khoa nghiên cứu
Fax:
+6124736 0905
Tổ chức
Trường Đại học tây Sydney
Email:
[email protected]

Ở Việt Nam
Tên:
Ông Hồ Văn Chiến
Telephone:
+8473834476
Chức vụ:
Giám Đốc
Fax:
+8473834477
Tổ chức
Trung tâm BVTV phía Nam
Email:
[email protected] 2
2. Tóm tắt dự án


đồng ruộng cho các nông dân (FFS) trong đó các lớp học là nơi hội tập những người tham gia
đến để cùng nhau học tập và nghiên cứu. Đầu tiên các đối tác chủ chốt đã xây dựng một
chương trình huấn luyện cho các cán bộ khuyến nông, những người đã huấn luyện về IPM
trên cây có múi và đã phát triển một chương trình hoạt động cho FFS. Sau đó các huấn luyện
viên đã tổ chức thực hiện một khoá FFS phù hợp với mùa vụ của từng vùng. Vào cuối vụ các
cuộc hội thảo xét duyệt đã được tổ chức ở trung tâm một số điểm để đánh giá FFS đồ
ng thời
chỉnh sửa lại chương trình huấn luyện cũng như giáo trình cho FFS. Những chỉnh sửa ở năm
thứ hai bao gồm việc kéo dài khoảng thời gian hoạt động của FFS để để nó đủ bao gồm toàn
bộ những giai đoạn sinh trưởng và phát triển chủ yếu của cây có múi trong chương trình huấn
luyệN FFS nhưng các cuộc họp mặt thì ít thường xuyên hơn và trọng tâm của việc huấn
luyện đã được mở rộng từ quản lý dịch hại tổng hợp đến những mặt khác của kỹ thuật canh
tác cây có múi như việc cắt tỉa cành, dinh dưỡng cho cây đặc biệt là việc sản xuất phân ủ,
Cây có múi là một chủng loại cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam nhưng hiện trạng sản xuấ
và sản lượng cây có múi đã bị trở ngại bởi nhiều vấn đề về dịch hại. Việc quản lý dịch hại
tổng hợp (IPM) hiện đang được thừa nhận như là một biện pháp kiểm soát dịch hại có
hiệu quả và chấp nhận được. Việ
t Nam đã phát triển mạnh được một chương trình IPM
Quốc Gia bằng việc tham gia tập huấn và nghiên cứu của các nông dân thông qua các lớp
huấn luyện thực nghiệm cho nông dân (FFS), mà qua đó đã có hơn 500.000 nông dân đã
được huấn luyện về các kỹ thuật IPM trên cây lúa, rau màu, vải, trà, đậu nành, đậu phộng
và khoai lang. Tuy nhiên trước khi có dự án này kỹ năng chuyên môn về IPM trên cây có
múi của các huấn luyện viên còn rất hạn chế. Dự án này đã làm gia tăng đáng kể n
ăng lực
huấn luyện về IPM trên cây có múi cho các huấn luyện viên Việt Nam nhờ vào việc tập
huấn cho 209 cán bộ khuyến nông ở cả hai vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh
ven biển miền Trung. Sau đó những huấn luyện viên này đã tổ chức được 72 FFS trong
suốt hai năm 2005 và 2006, kết quả là đã có 2.245 nông dân của 12 tỉnh đã hoàn tất
chương trình huấn luyện về IPM trên cây có múi. Việc đánh giá hiệu quả của FFS
đã được

cá nhân của 53 nông dân từ 13 địa điểm. Cuộc khảo sát này đã cho thấy rằng trong năm sau
khi tham gia FFS, thực hành canh tác của nông dân đã thay đổi gồm vi
ệc giảm sử dụng thuốc
trừ dịch hại, thay đổi loại thuốc được sử dụng từ loại thuốc có phổ tác động rộng với mức tác
động rất mạnh đến môi trường sang loại thuốc mềm hơn, việc quản lý đất tốt hơn nhờ vào
việc gia tăng sử dụng phân hữu cơ và quản lý tán cây được tốt hơn. Các nông dân cũng gia
tăng vi
ệc nhận thức của họ về việc áp dụng thuốc trừ dịch hại, giữ sổ ghi chép, sau thu hoạch
và thị trường. Đa số nông dân đều khai rằng lợi nhuận thực của họ đã gia tăng chính là kết
quả của việc giảm chi phí đầu vào và tăng được năng suất và chất lượng quả. Việc tham gia
FFS đã làm gia tăng tình cảm giữa các tham dự viên FFS và sự chuyển vi
ệc quản lý vườn từ
những người đàn ông sang vợ của họ để họ có thể đi làm những công việc khác. Sự thành lập
các hợp tác xã sau khi các FFS đã kết thúc là một bước rất quan trọng trong việc duy trì năng
lực đã được gia tăng của cộng đồng nông trại để cải thiện ngành sản xuất cây có múi. Tuy
nhiên để duy trì những điều này, các nhóm trang trại cần sự tài trợ
về tài chính với các điều
kiện tín dụng dễ dàng hơn để họ phát triển các công nghệ sau thu họach và có điều kiện tiếp
cận thị trường. Sự duy trì mạng lưới huấn luyện viên đã được bồi dưỡng từ dự án này đòi hỏi
phải tiếp tục cấp thêm kinh phí. Mặc dù điều này ban đầu đã được sự tài trợ của chính quyền
các t
ỉnh, nhưng khả năng các nông dân đóng góp phần nào chi phí cho các FFS cần được
xem xét trong tương lai, đặc biệt nếu các nông dân là thành viên của các câu lạc bộ cây có
múi hay là các hợp tác xã. Chi phí cho mỗi thành viên tham gia FFS được ước tính khoảng
70,62 đô la Úc, chỉ bằng 1,60% lợi nhuận trung bình cho mỗi ha. Dựa vào những ước tính
này chi phí của FFS sẽ được bù lại chỉ trong một mùa nhờ vào việc giảm chi phí đầu vào và
gia tăng năng suất.
4. Giới thiệu và bối cảnh
Cây có múi là một trong những loại cây ăn quả chủ lực của Vịêt Nam (Bộ NN&PTNT 2004)
và sản xuất quả cây có múi là một nguồn thu nhập quan trọng của nhiều nông dân Việt Nam.

và lợi nhuận biến động giữa các chủng loại cây có múi khi được tính trung bình ở các tỉnh
(Hình 3).
Có một mức độ chuyên canh rất cao về giống cây có múi theo các tỉnh ở Việt Nam, với nông
dân ở
Đồng Tháp hầu hết là trồng quýt (Tiều) và các nông dân ở Tỉnh Nghệ An thì chuyên về
trồng cam. Bưởi thì được trồng khá phổ biến ở nhiều tỉnh và diện tích trồng đã gia tăng
nhanh từ 10 năm qua. Những giống cây có múi khác nhau thì cho thu nhập rất khác nhau.
Trong khi lợi nhuận trung bình thực tế được tính bình quân trên các chủng loại cây có múi và
ở tất cả các tỉnh là 78.620.000 đồng Việt Nam, các nông dân trồng quýt có trung bình thu
nhập thực tế cao nhất là 100.000.000 đồng Việt Nam, ti
ếp theo sau là nông dân trồng bưởi
với thu nhập là 93.330.000 đồng Việt Nam trong khi nông dân trồng cam lợi nhuận bình
quân chỉ 37.880.000 đồng Việt Nam (Hình 3). Không có gì đáng ngạc nhiên khi lợi nhuận
bình quân cao nhất trên 100.000.000 đồng Việt Nam được ghi nhận ở hai tỉnh Tiền Giang và
Đồng Tháp bởi vì ở đó chủ yếu là được trồng quýt. So với lợi nhuận thực từ việc trồng trồng
lúa thì trồng cây có múi cao hơn từ 3-6 lần.

5
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
Kanh Hoa Nghe An Ben Tre Tien Giang Dong Thap Tra Vinh Vinh Long Can Tho Soc Trang
Province
Average area of citrus plantation (ha)

Hình 1: Diện tích trung bình của các vườn cây có múi ở các tỉnh đã được khảo sát .


Hình 3: Đánh giá bình quân thu nhập thực tế cho mỗi chủng loại cây có múi ở các tỉnh đã
khảo sát.
Mục tiêu của dự án là tổ chức huấn luyện cho các huấn luyện viên là những cán bộ khuyến
nông (TOT) về quản lý dịch hại tổng hợp IPM trên cây có múi, sau đó các huấn luyện viên
này sẽ tổ chức các FFS ở địa phương của họ và để đánh giá tính hiệu quả của phương pháp
huấn luy
ện bằng hình thức FFS trong việc gia tăng kiến thức cho nông dân. Mục tiêu quan
trọng cần tác động vào kiến thức cho nông dân là tăng cường sự hiểu biết của nông dân về hệ
sinh thái vườn cây ăn quả, ảnh hưởng của mật độ cây trồng và sự thiết kế vườn cây đến sản
lượng quả, sự cân bằng giữa các loại dinh dưỡng hữu cơ và vô cơ để duy trì sức khoẻ c
ủa đất,
sự cân bằng giữa các loại dịch hại và sinh vật có ích, và việc sử dụng thuốc trừ dịch hại một
cách hợp lý trong canh tác cây có múi. Những mục tiêu này góp phần làm cho nông dân
trồng cây có múi nâng cao khả năng của họ và giúp họ tự quyết định giải quyết những vấn đề
về dịch hại theo chiến lược IPM trong sản xuất cây có múi tại Việt Nam. Với sự thành lập
của m
ột mạng lưới cán bộ khuyến nông về IPM trên cây có múi và những huấn luyện viên
này sẽ đạt được kinh nghiệm thực tế cần thiết trong việc huấn luyện IPM trên cây có múi qua
việc tổ chức ít nhất một mùa FFS dài suốt cả vụ cây có múi, năng lực thực hiện chương trình
IPM trên cây có múi của các cán bộ Việt Nam đã tăng lên một cách có ý nghĩa.
Kiểu tổ chức học được sử dụng trong dự án là dạ
ng nông dân học tập qua thực nghiệm trên
đồng (FFS). FFS được xem như là một diễn đàn cho những người tham gia đến để học tập và
nghiên cứu để quyết định hành động theo kết quả mà họ đã học tập và thực nghiệm. Kiểu này
đã thu hút một cách trọn vẹn được tất các những đối tác: các nông dân, khuyến nông viên,
nhà nghiên cứu, chính quyền địa phương, doanh nghiệp tư nhân và cho phép họ tham gia trực
tiếp trong việ
c học tập, nghiên cứu, hội họp theo nhu cầu của họ. Hơn nữa một khía cạnh
quan trọng của dự án là để đánh giá tính hiệu quả của FFS trong việc thay đổi những thực

án, ngoài ra còn có những hoạt động bổ sung khác mà đã được trình bày rõ ràng qua các báo
cáo định kỳ và cho các đối tác có liên quan phía Việt Nam suốt trong quá trình thực hiện của
dự án. Những hoạt động bổ sung này nằm ngoài nội dung đề ra của dự án nhưng đã đóng góp
một cách có ý nghĩa và có tác động tích cự
c làm cho việc thực hiện những mục tiêu dự án đã
được đặt ra được hoàn thiện và bền vững hơn.
Những chi thiết của sự thực hiện dự án đã được trình trong các báo cáo tiến độ, và những
điểm nổi bật chính được liệt kê dưới đây.

Những nét nổi bật về sự quản lý dự án 1. Cuộc họp dự án được tổ chức vào ngày 25/01/2005 đã thống nhất quy định những điểm
mốc thời gian cần thiết cho hoạt động các nội dung của dự án và sẽ có báo cáo các kết
quả thực hiện nội dung dự án theo các mốc thời gian quy định. Đồng thời thống nhất
phân công các cá nhận đảm nhiệm các nhiệm vụ chuyên môn.
2. Cuộc họp các đối tác chủ chố
t trong dự án đã tổ chức vào ngày 22/03/2005. Cuộc họp
này đã quy định một phạm vi hoạt động chung giữa các đối tác từ nhà nghiên cứu và các
cơ quan khuyến nông, doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức phi chính phủ. Những người
đại diện của các cơ quan và doanh nghiệp không được đề cập từ đầu trong dự án đã tham
gia trong cuộc họp đối tác này và họ đã bày tỏ sự phấn khởi của họ khi đượ
c tham gia và
tài trợ cho dự án. Qua cuộc họp, các vị trí để thực hiện các FFS cũng đã được quyết định
và nội dung chương trình huấn luyện TOT cũng đã được phát thảo.
3. Các hội thảo đánh giá hoạt động dự án đã được tổ chức tại Cần Thơ vào ngày 23/11, Mỹ
Tho vào ngày 25/11 và Vinh vào ngày 29/11/2005. Các cuộc hội thảo này đã không được
lên kế hoạch cũng như kinh phí trong đề cương dự
án nhưng trong suốt khoá học của mùa
FSS đầu tiên nó đã chứng tỏ một cách rõ ràng rằng các hội thảo này đã tạo cơ hội cho các

4. Hoạt động bổ sung là các chuyến tham quan học tập của nông dân đã được tổ chức từ 24-
29 tháng 10 năm 2005 với tổng số có 540 nông dân từ 18 FFS ở 8 tỉnh ĐBSCL tham
quan 1 FFS ở tỉnh khác. Các nông dân từ 7 tỉnh đã đến tham quan huyện Lai Vung ở tỉnh
Đồng Tháp và các Nông dân ở huyện Lai Vung đã tham quan huyện Cái Bè Tiền Giang
(xem bảng 1).
5. Các FFS đã hoàn tất vào cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 năm 2005. Tổng cộng có 728
nông dân được hu
ấn luyện.
6. Các thay đổi một cách có ý nghĩa trong chương trình huấn luyện TOT và FFS đã được
đưa ra sau khi kết thúc mùa FFS thứ nhất. Nội dung trọng tâm đã được nới rộng ra từ
quản lý dịch hại trổng hợp cho đến khía cạnh khác của canh tác cây có múi gồm xén tỉa
cành, dinh dưỡng cho cây đặc biệt là sự sản xuất phân ủ, trồng mới hay làm trẻ hoá vườn
cây, làm dự toán đầu tư và kế hoạch cho chu kỳ
sản xuất. Đối tượng tập trung trong chiến
lược quản lý dịch hại tổng hợp trước tiên là rầy chổng cánh truyền bệnh greening và các
loài nhện hại và sau đó là bệnh Phytophthora. Các thành viên mà đã được tập huấn cho
dự án CARD 052/04 VIE “Quản lý bệnh Phytophthora ở Việt Nam” cũng có tham gia
trong dự án của chúng ta.
7. Khoá học TOT đầu tiên cho năm 2006 đã được tổ chức từ 13-26 tháng 2 tại Trung tâm
BVTV phía Nam. Tổng cộng có 45 cán bộ khuyến nông t
ừ 9 tỉnh đã được tập huấn.
8. Khoá học TOT thứ hai cho năm 2006 đã được tổ chức từ 27 tháng 2 đến 11 tháng 3 tại
Trung tâm BVTV phía Nam. Tổng cộng có 45 cán bộ khuyến nông từ 8 tỉnh đã được tập
huấn.
9. Khoá học TOT thứ ba cho năm 2006 đã được tổ chức từ 13-26 tháng 3 tại Trung tâm
BVTV phía Nam. Tổng cộng có 21 cán bộ khuyến nông từ 4 tỉnh đã được tập huấn.
10.
Bốn mươi tám FFS đã tổ chức từ giữa tháng 3 và tháng 5/2006 ở 11 tỉnh. Các FFS đã
thực hiện trong một khoảng thời gian dài suốt một mùa phát triển của cây có múi từ khi
cây ra hoa đến khi cây thu hoạch. Các FFS đã hoàn tất vào cuối tháng 12 năm 2006. Tổng

FFS và các đại lý bán thuốc BVTV của Công ty thuốc trừ sâu Sài Gòn. Việc in ấn các tài
liệu bướm này là một bước rất quan trọng nó thể hiện các khuyến cáo của nhà sản xuất,
nhà phân phối thuốc trên thị trường và nhà khuyến nông cần phải phù hợp cùng h
ướng.

Sự đánh giá tính hiệu quả của các FFS trong sự thực hiện quản lý dịch hại tổng hợp (IPM )

.
1. Các khảo sát phân tích kiến thức, thái độ và thực tiễn của nông dân (KAP) đã được thực
hiện ở năm 2005 và 2006. Tổng cộng 1060 trước và sau tham dự FFS khảo sát từ 530
nông dân đã được phân tích trong năm 2005 và 2118 trước và sau FFS từ 1059 nông dân
tham gia FFS ở năm 2006.
2. Các nhân sự trong dự án bao phái Úc và Việt Nam đã thăm 16 FFS ở 12 tỉnh từ 1-19
tháng 6 năm 2005 các số liệu cơ bản đã được thu thập và hướng dẫn thự
c hiện các thí
nghiệm trình diễn.
3. Trong thời gian tham gia đánh giá tiến độ ở cuối của năm đầu tiên, nhóm thực hiện dự án
đã nhận thấy rằng sự phân tích KAP đã không bắt kịp thực chất tác động của các FFS đến
các nông dân và cộng đồng của họ. Vì vậy nhóm thực hiện dự án đã cùng với các huấn
luyện viên sau đó đã triển khai những khung để đánh giá khác gồm các cu
ộc phỏng dẫn
giữa kỳ và thảo luận nhóm nhằm cố gắng để cải thiện sự đánh giá.
4. Các nhân sự người Úc và Việt Nam đã thăm các FFS ở các tỉnh phía Nam và tham dự các
buổi họp mặt tại Trung tâm BVTV phía Nam và Hiệp hội trái cây tại thành phố Hồ Chí
Minh từ 21-24/3/2006.
5. Các nhân sự trong dự án phía Úc và Việt Nam đã thăm 10 FFS ở 9 tỉnh từ 13-24/6/2006
để thu thập số liệu phản h
ồi về các FFS năm 2006 và giúp đỡ sự thực hiện các thí
nghiệm.
6. Các nhân sự trong dự án phía Úc và Việt Nam đã thăm 9 tỉnh đã mở các FFS từ 17-

rộng, độc hại cao cho môi trường sang loại thuốc mềm hơn, quản lý đất tốt hơn với việc gia
tăng sử dụng các chất liệu hữu cơ và quản lý tán cây được tốt hơn.
Phân tích KAP cũng đã cho thấy rằng thái độ của nông dân được ảnh hưởng bởi việc tham
gia vào FFS trong mối quan hệ về các phương pháp kiểm soát dị
ch hại. Các nông dân đã gia
tăng về mức độ chấp nhận của họ rằng thuốc trừ dịch hại có thể gây nên sự tái phát của dịch
hại và chấp nhận từ bỏ quan niệm rằng dùng thuốc trừ dịch hại sẽ làm gia tăng năng suất,
rằng thuốc trừ dịch hại thì rẽ tiền và dễ sử dụng, và rằng các nông dân tiên tiến thì sử dụng
nhi
ều thuốc trừ dịch hại hơn. Kiến thức của nông dân về các dịch hại đã được cải thiện một
cách có ý nghĩa cũng chính là kết quả của việc tham gia vào FFS, với một sự gia tăng có ý
nghĩa về số lượng nông dân cho những câu trả lời đúng đạt được ở tất cả các tỉnh đặc biệt là

dân và các hợp tác xã mà bao gồ
m các thành viên FFS và các thành viên trong cộng đồng
nông thôn được dễ dàng hơn. Trong các tổ chức nông dân này thì các thành viên FFS luôn
giữ vai trò chủ chốt. Mặc dù mức độ tham gia của giới nữ ở các FFS, đặc biệt là ở phía Nam
thì không cao, nhưng nó làm nâng cao vị trí của người phụ nữ trong gia đình. Sự tham gia
vào FFS làm cho sự truyền đạt kinh nghiệm quản lý từ những người đàn ông mà có công việc
làm bên ngoài cho các bà vợ của họ. Khi các cơ hội cho việc tìm kiếm công ăn chuyện làm ở

các lĩnh vực khác gia tăng trong tương lai, thì vai trò chủ lực của người phụ nữ trong sản xuất
nông nghiệp sẽ gia tăng. Dự án này đã chứng minh rằng việc huấn luyện FFS có thể giúp cho
những người phụ nữ một cách hữu hiệu trong lĩnh vực này.
Cũng có một tỷ lệ nhỏ con em trong các gia đình nông dân tham gia FFS và có lẽ dường như
sự tham dự của chúng cũng nhằm để có nhữ
ng cơ hội tương tự như sự chuyển việc quản lý
vườn từ các ông chồng và các bà vợ, khả năng này không được xem là có hiệu quả. Việc trao
quyền quản lý giữa hai thế hệ thường là chủ đề của sự bất đồng, và dường như FFS là cách
tốt nhất để có thể làm cho điều này được thuận lợi hơn khi những đứa con (trai) được chia
cho một phần khu v
ườn mà chúng quản lý một cách độc lập.

12Hình 6: Nông dân học nhận diện các dịch hại chính và các côn trùng có ích trong vườn quả.

13


Sau FFS
Scales & Mealybugs
Leafminer
Mites
Branch borer
Stink bug
Psylla
Greening disease
Root rot
Scab
Others
b) Các tỉnh miền Trung 2006
Trước FFS Sau FFS
11.8
20.7
21.85.2
0
6.6
17
10.3
1.8
4.8
4.2
23.9
19.7
2.8
0.7
22.2
15.5
7.7

và Viện Nghiên Cứu Cây Ăn quả miền Nam đã hình thành một đội ngũ các nhà khoa
học và nghiên cứu để cung cấp một chương trình FFS và huấn luyện có giá trị. Những thực
nghiệm tại FFS đã bao hàm những chiến lược quản lý bệnh greening trên cây có múi mà vẫn
còn đang phát triển như là một phần của các dự án CARD và ACIAR trong đó SOFRI là nơi
cung cấp các nhà nghiên cứu để làm việc với nông dân trong việc đánh giá những chiến lược
mới và cho phép các nông dân và huấn luyện viên phát triển những giải pháp đối với những
vấn đề của họ trong việc sử dụng những kỹ thuật mới nhất. Ngoài kết quả của những liên kết
này hai quyển sách hướng dẫn thực hành đồng ruộng cho nông dân và huấn luyện viên đã
được viết và xuất bản (xem sự thực hiện những điểm nổi bật).
Đội ngũ ng
ười Úc nhận thấy trong năm đầu của dự án này phần lớn những kỷ năng và kinh
nghiệm cần thiết trong việc quản lý các loại dịch hại trên cây có múi là sẳn có trong khả năng
của các viện nghiên cứu và trường Đại học ở Việt Nam, nhưng vì kinh phí đi lại cho các cơ
quan địa phương bị giới hạn nên việc thực hiện khả năng chuyên môn này bị bị hạn chế.
Để
khắc phục điều này Cơ quan phía Úc đã tài trợ phí đi lại cho TS. Nguyễn Thị Thu Cúc và TS.
Trần Văn Hai ở Trường Đại học Cần Thơ đi thăm các tỉnh miền Trung và tỉnh Nghệ An vào
năm 2005 và 2006 tạo cơ hội để các cán bộ Chi cục BVTV ở những vùng đó tiếp xúc với
những nhà khoa học ở miền Nam. Đó cũng là lần thăm viếng đầu tiên củ
a các nhà khoa học ở
trường Đại học Cần Thơ đến những vùng này.
Trong việc điều tra cơ bản vào tháng 6 năm 2005, kết quả cho thấy rằng phytophthora đã
xuất hiện ở hầu hết các vùng và tỉnh đến thăm và nó cũng là một vấn đề nguy hiểm như là
bệnh greening. Tuy nhiên, các nông dân nhìn chung điều không nhận ra vấn đề và chỉ một
phần nhỏ trong chương trinh huấn luyện TOT trong nă
m 2005 có liên quan đến
phytophthora. Nhóm thực hiện dự án ngay lập tức đã liên kết với dự án 052/04VIE “Quản lý
bệnh phytophthora trong nghề làm vườn ở Việt Nam”, và Ông Dương Minh từ Trường Đại
học Cần Thơ đã đảm nhiệm việc huấn luyện phần này trong 3 TOT ở năm 2006. Trong các
phần học này các huấn luyện viên đã được học về các vấn đề của Phytophthora trên cây có
Hình 8: TS Trần Văn Hai từ trường Đại Học Cần Thơ và Oleg Nicetic từ Đại học Tây
Sydney với các tham dự viên FFS ở Tỉnh Trà Vinh.
Hình 9: Ông Hồ Văn Chiến Giám đốc Trung tâm BVTV phía Nam và là trưởng dự án người
Việt Nam đang nghe các nông dân trình bày trong FFS.

16


sinh thái” đã được xuất bản vào ngày 15/12/2005 và quyển sách “Hướng dẫn đồng
ruộng về sâu bệnh hại cây có múi” đã được xuất bản vào ngày 12/2/2007.
Hình 10: Một bộ gồm 12 áp phích gồm 8 áp phích về các loài dịch hại phổ biến và 4
áp phích về các loại bệnh hại chính trên cây có múi được in ấn trên chất liệu plastic
không thấm nước để làm phương tiện giảng dạ
y ở các FFS đã được in ấn và phân phối
cho các FFS được tổ chức cho năm 2006. 17
Bảng 1: Sự phân bố về giới và mức độ đạt được của các huấn luyện viên tham gia trong dự án .
2005 2006 Tổng cộng

Số tham dự viên Số tham dự viên Số tham dự viên
Tỉnh Nam Nữ
Điểm
số/100
Nam Nữ
Điểm
số/100
Nam Nữ
Tổng
cộng
Điểm
số/100
Nghe An 3 1 81.25 4 3 79.17 7 4 11 80.21
Quang
Nam
4 0 79.69 không không n/a 4 0 4 79.69
Kanh Hoa 4 3 89.85 4 3 77.86 8 6 14 83.86

cộng
Nghe An 2 29 31 4 90 27 6 119 58 177
Quang Nam 1 25 5 0 0 0 1 25 5 30
Kanh Hoa 2 52 8 4 55 73 6 107 81 188
Binh Dinh 1 22 8 2 46 12 3 68 20 88
Tổng miền
Trung
6 128 52 10 191 112 16 319 164 483
Tien Giang 3 93 5 7 213 24 10 306 29 335
Ben Tre 3 85 5 5 138 12 8 223 17 240
Vinh Long 3 83 7 6 232 8 9 315 15 330
Dong Thap 2 53 7 6 178 2 8 231 9 240
Tra Vinh 1 25 5 3 83 7 4 108 12 120
Can Tho 3 80 10 7 203 7 10 283 17 300
Hau Giang 2 53 7 2 59 1 4 112 8 120
Soc Trang 1 25 5 2 58 2 3 83 7 90
Tổng
ĐBSCL
18 497 51 38 1164 63 56 1661 114 1775
CỘNG
24 625 103 48 1355 175 72 1980 278 2258

19
5.4 Ấn phẩm
Một phát hiện qua việc phỏng vấn đầu khóa cho thấy cách tốt nhất để thông tin tuyên truyền
đến nông dân qua phương tiện thông tin đại chúng là truyền hình với hơn 90 % nông dân có
một bộ truyền hình trong gia đình của họ. Mỗi tỉnh ở Việt Nam đều có một kênh truyền hình

phía Úc cũng đã cung cấp các chi phí bổ sung khác ngoài nguồ
n kinh phí từ dự án để tổ chức
cho các học viên FFS các chuyến tham quan học tập tại ĐBSCL, ban điều hành dự án người
Úc đã đầu tư thêm rất nhiều thời gian cho dự án. Thời gian đầu tư thêm mà ban điều hành dự
án phía Úc dành cho dự án chính là sự tài trợ đầy thiện ý từ Trường Đại Học Tây Sydney.
Công ty kinh doanh SK cũng đã đóng góp một cách gián tiếp cho dự án bằng việc tài trợ kinh
phí cho ông Oleg Nicetic đi thă
m các điểm của dự án CARD và tham dự các cuộc họp trong
thời gian ông ta làm việc ở Việt Nam.
Ban quản lý dự án CARD đã có một vai trò đắc lực trong việc quản lý dự án. Những nhắc
nhở của họ về các báo cáo định kỳ đã cải thiện được hiệu xuất công việc và nhờ thế đạt được
những đầu ra như mong đợi. Trong sự tham gia chính việc dựa vào nghiên cứu và giáo dục
mà nhóm điều hành dự án có thể phản ứng nhanh nhạy trước những yêu cầu từ thực tế đồng
ruộng của nông dân. Nếu như sự trợ cấp kinh phí phải được sử dụng một cách nghiêm khắc
như dự thảo kinh phí lúc ban đầu tức là chỉ dựa vào những dự trù của nhóm nghiên cứu, hay
đòi hỏi phải có thời gian cho việc làm thủ tục thay đổi kinh phí cho phép, những cần thiết
thực tế của các nông dân mà đã được xác định như là kết quả của việc tiếp cận tham gia, rồi
đến nghiên cứu và khuyến nông đã không thể đạt được trong phạm vi khung thời gian của dự
án. Ban quản lý dự án CARD đã hiểu được những điều cần thiết này và đã điều chỉnh lại một
phần nào giúp cho đạt được những kết quả.

20
Hình 12: Hai áp phích về những kết quả và hình ảnh hoạt động của dự án tham gia
trong hội nghị về GAP trên cây ăn quả do CARD tổ chức tại Bình Thuận ngày 21-
22/7/2008.

21

Hình 13: Vườn cây có múi loại nhỏ 0,3-1 ha với mật độ trồng cây rất dày 2000-4000 cây/ha.
Vườn quả được bao bọc bởi mạng lưới kênh mương dày đặc. Sử dụng thuốc trừ dịch hại có
ảnh hưởng bất lợi cho các sinh vật sống ở nước. Sau khi học song FFS và việc giảm sử dụng
thuốc trừ dịch hại làm cho phong phú thành phần cá.

Hình 14: 4-6 lộc non chính và nhiều lộc non ở giữa làm cho việ
c kiểm soát psyllid rất khó
khăn. Để kiểm soát thành công ít nhất phải có 6-8 lần phun nhưng với việc thu hái quanh
năm ở nhiều vườn quả để được đồng ý làm theo so với việc từ chối không làm quả là thách
thức thật sự.
6.2 Những vấn đề về giới và xã hội
Trong việc huấn luyện các huấn luyện viên tổng cộng có 145 nam và 64 nữ đã được tập huấn.
Tỷ lệ
nam và nữ này phản ánh có sự cân bằng giới tính trong số các huấn luyện viên ở Chi
cục BVTV. Ở miền Trung, tỷ lệ các nông dân nam và nữ tham gia trong FFS tương tự như là
ở các huấn luyện viên. Tuy nhiên, ở ĐBSCL tỷ lệ nữ tham gia FFS thì thấp hơn. Điều này có
lẽ liên quan đến những vai trò mang tính truyền thống Á đông của phụ nữ ở đồng bằng đối
với nghề chăn nuôi.
Đánh giá chi tiết về
những tác động về kinh tế, xã hội và môi trường được thực hiện với 53
nông dân ở 9 tỉnh cho thấy rằng tác động về xã hội chủ yếu của việc huấn luyện FFS cho các
nông dân là gia tăng việc chia sẽ kiến thức và các kinh nghiệm giữa các nông dân tham dự
FFS, xóm giềng, các thành viên câu lạc bộ nông dân và những người trong gia đình. Việc
chia sẽ kiến thức thường xuất hiện gắn kết với việc gia t

ký cho việc sử dụng hiện tại trên cây có múi. Những hợp tác xã mới được thành lập với sự
nâng đở của những cơ quan phát triển nông thôn thuộc các tỉnh nên tìm kiếm con đường để
đảm bảo sự tài trợ về tài chính với các điều kiện tín dụng dễ dàng h
ơn để phát triển công
nghệ sau thu họach được tốt hơn. Cần thiết lập một kế hoạch cấp giấy chứng nhận của Việt
Nam dựa vào VietGAP để cho việc kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho các hợp tác xã và
các nhóm nhông dân ít tốn kém hơn. Một cuộc thảo luận ngắn ở Hà Nội để thông tin và vận
động những văn phòng chính phủ cấp cao về quan điểm này sẽ là s
ự đóng góp có giá trị trong
việc duy trì và mở rộng những tác động mở đầu của dự án.
7.3 Khả năng duy trì
Sự thành lập các hợp tác xã sau khi kết thúc các FFS là một bước mở đầu rất quan trọng
trong việc duy trì năng lực đã được gia tăng trong các cộng đồng nông trại để cải thiện ngành
trồng cây có múi. Tuy nhiên, để duy trì những thuận lợi đã tạo được từ FFS, các nhóm nông
trại cần đượ
c tài trợ về tài chính với những điều kiện về tín dụng dễ dàng hơn để họ có thể
đầu tư nhiều hơn trong khâu sau thu hoạch giúp họ có điều kiện tiếp cận được với thị trường.
Mạng lưới huấn luyện viên từ kết quả của dự án này đã được phát triển cần tiếp tục có kinh
phí để tổ chức thực hiện
được nhiều FFS hơn. Chính quyền các tỉnh đã tỏ ra rất quan tâm và
đã tài trợ kinh phí cho việc mở thêm các FFS trong thời gian tiến hành dự án này và điều này
sẽ được tiếp tục sau khi dự án kết thúc. Tuy nhiên khả năng về tài chính của các tỉnh bị giới
hạn và sự mong đợi trọn vẹn vào kinh phí của chính phủ vốn đã không thể duy trì được. Chi
phí cho mỗi tham dự viên FFS được ước tính khoảng 70,62 đô la Úc, ước tính khoảng 1,60%
trung bình lợi nhuận thực tế cho mỗi ha. Nếu dựa vào những ước tính này chi phí của FFS sẽ
được đền bù chỉ trong một mùa do việc giảm chi phí đầu vào và gia tăng năng suất. Chi phí
cho FFS trên cây có múi qua báo cáo cho thấy nó tương tự hoặc cao hơn một chút ít cho chi
phí FFS trên lúa, nhưng ngược lại tiền lãi cho cây có múi thì cao gấp 4-5 lần cho trồng lúa.

23

trong thời gian làm dự án ngày càng chặt chẽ và vẫn còn tiếp diễn sau khi dự án kết thúc sẽ
giữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì những tác động của dự án sau khi dự án kết
thúc.
Hình 15: Nông dân tham gia FFS tặng quà cho những người thực hiện dự án phía Úc - Việt
Nam và đại diện nhà tài trợ - Công ty Bayer Việt Nam vào ngày tổng kết FFS và hội thảo
kiểm tra các hoạt động trong năm thứ hai của dự án.

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status