đánh giá tính hiệu quả của các lớp huấn luyện nông dân (ffs) cho việc thực hiện ipm trên cây có múi tại việt nam - ms6 - Pdf 10


Bộ Nông Nghiệp & PTNT
___________________________________________________________________
__
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ
036/04VIE: Đánh giá tính hiệu quả của các lớp
huấn luyện nông dân (FFS) cho việc thực hiện
IPM trên cây có múi tại Việt Nam
MS6: Báo cáo 6 tháng lần thứ 3 1
1. Tóm lược dự án:

luyện và những huấn luyện viên này hiện đang thực hiện 52 FFS ở 11 tỉnh ở ĐBSCL và
ven biển miền Trung.
1. Tóm tắt tiến độ thực hiện
Việt Nam đã có một chương trình IPM quốc gia rất phát triển với hơn 500.000 nông
dân đã được huấn luyện về kỹ thuật IPM trên lúa, rau màu, bông vải, trà, đậu nành,
đậu phộng và khoai lang. Trước khi có dự án này hoàn tòan chưa có tổ chức huấn
luyện gì về IPM trên cây có múi, mặc dù cây có múi là một chủng loại cây ăn trái
quan trọng ở Việt Nam. Trong sáu tháng đầu năm 2006 hiệu suất làm việc đạt được
rất cao là nhờ vào sự nổ lực của các thành viên trong dự án và kết quả là đãù huấn
luyện nâng cao năng lực được cho 111 huấn luyện viên nhờ vào 11 nhà khoa học chủ
lực, và các huấn luyện viên này đã tổ chức điều hành hoạt động cho 52 FFS ở 11 tỉnh
ĐBSCL và các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Chương trình cho các FFS đã
được bổ sung sau những phản hồi từ các cuộc họp đánh giá kết quả dự án vào tháng
11 năm 2005. Những vấn đề được bổ sung đó là: việc mở các FFS thì sớm hơn nhưng
kết thúc lại muộn hơn để đảm bảo các giai đoạn phát triển của cây - từ khi cây ra hoa
đến lúc thu hoạch - vẫn còn nằm trong chương trình; các kỳ họp mặt nên ít thường
xuyên hơn và thời điểm họp mặt ở mỗi FFS thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng đòa
phương để đảm bảo các thời điểm họp mặt ấy trùng khớp với các giai đoạn sinh
trưởng quan trọng của cây có múi cũng như các thời điểm mà các đối tượng dòch hại
quan trọng phát triển mạnh ở vùng đó. Việc giảng dạy thông qua các thí nghiệm
trình diễn cũng được thực hiện ở tất cả các FFS. Một cuộc điều tra về kỹ thuật canh
tác của nông dân trước và sau khi tham dự chương trình huấn luyện cũng đã được
thực hiện ở 9 đòa phương và tất cả những nông dân tham dự trong các FFS đều phải

2
trả lời hoàn tất 52 câu hỏi. Tất cả nội dung trong khung dự án cho 6 tháng đầu năm
2006 đều đã hoàn tất.
2. Giới thiệu và bối cảnh :
Cây có múi là một trong những chủng loại cây ăn trái chủ lực ở Việt Nam và sản
xuất trái cây có múi là một nguồn thu nhập quan trọng của nhiều nông dân Việt

chính trên cây có múi. Mỗi nông dân tham gia sẽ có một bìa kẹp hồ sơ, một bộ
mẫu phiếu để điều tra, một kính lúp cầm tay. Vào lúc kết thúc dự án một quyển
sổ tay hướng dẫn nhận diện sâu bệnh hại cây có múi sẽ được xuất bản. 3
Những thông tin kết luận rút ra từ sau cuộc họp được cung cấp trong phụ lục 2.

Thời khoá biểu của chương trình huấn luyện TOT của mỗi lớp đã được đònh rõ.
Ngày bắt đầu các lớp TOT là 13/02/2006; 27/02/2006; 13/03/2006. Chi tiết về tiêu
đề và người trình bày được đăng trong phụ lục 3. Tất cả những chương trình huấn
luyện được thực hiện theo kế hoạch và tổng cộng đã có 111 huấn luyện viên, trong
đó có 74 nam và 37 nữ tốt nghiệp khoá huấn luyện. Danh sách tên các học viên
nhận chứng chỉ tốt nghiệp với điểm số đạt được đăng trong phụ lục 4.

Từ 21-24/03/06 Ông Oleg Nicetic đã sang thăm miền Nam Việt Nam và dự cuộc
họp tại Trung tâm BVTV phía Nam với Hiệp hội trái cây Việt Nam (Vinafruit).
Một báo cáo về chuyến công tác này được đăng trong phụ lục 5. Kết luận chính từ
cuộc họp này là:

¾ Các lớp TOT đã được tổ chức rất tốt. Có một vài thay đổi trong việc phân bổ
các tham dự viên ở tỉnh Quảng Nam trong năm 2006 này bởi vì diện tích trồng
cây có múi ở Tỉnh Quảng Nam thì ít và họ đã được huấn luyện đủ số lượng
trong năm 2005. Tỉnh Bình Đònh đã không gởi cán bộ đến tham gia khoá huấn
luyện trong năm nay vì bận rộn một số công việc tại đòa phương, nhưng vẫn tổ
chức tiếp 2 FFS trong năm nay.
¾ Giảng dạy thông qua những thí nghiệm trình diễn là một phương pháp rất hữu
hiệu ở năm 2005 nhưng ý kiến phản hồi từ cuộc hội thảo cho rằng chúng quá
đơn giản. Chiến lược được đề xuất trong năm 2006 này là dựa vào chu kỳ ra
chồi non của cây, sử dụng một lần imidacloprid rồi mỗi đợt ra chồi sau đó sẽ sử

và bệnh hại, cỏ dại một cách tổng hợp. Ấn phẩm này đã được nhiều huấn luyện
viên nhiệt tình đón nhận và cũng đã đệ trình một bản lên PMU cùng với báo cáo
tiến độ ở Mốc thời gian 5.

Từ 13-24 tháng 6 ông Oleg đã sang Việt Nam và cùng với Ông Chiến, Ông Hai đã
thực hiện một chuyến công tác đến tất cả các nơi đang mở các FFS của 9 tỉnh để
ghi lại các đòa điểm mở lớp và đánh giá tình hình ở từng nơi. Do thời gian bò hạn
chế nên các FFS ở Trà Vinh đã không được đến thăm. Ngoài việc xác nhận vò trí
các lớp học ra việc đánh giá sự chấp nhận với EUREP GAP cũng đã được thực hiện
để xác minh sự khác biệt giữa thực tế sản xuất cây có múi của nông dân Việt Nam
và những yêu cầu của EUREP GAP. Một báo cáo đầy đủ về điều tra nông dân và
những ghi nhận được trình bày trong Phụ lục 6. Những phát hiện chính của điều tra
này là:

¾ Có một sự khác biệt rõ ràng trong hệ sinh thái nông nghiệp và đặc điểm
canh tác cây có múi đã áp dụng ở ĐBSCL và các tỉnh ven biển miền Trung,
gồm tỉnh Nghệ An.
¾ Nông dân cần nhận được nhiều hơn về kỹ năng nhận diện các loại dòch hại
và bệnh hại và mối liên hệ giữa các loại dòch hại và bệnh hại này với đặc
điểm sinh học của cây có múi.
¾ Nông dân đã sử dụng rất phổ biến các loại thuốc trừ sâu thế hệ cũ hơn và rẽ
tiền tuy nhiên kiến thức của họ về những phương pháp khác để kiểm soát
dòch hại chẳng hạn như dầu khoáng, nuôi kiến vàng, dùng phân hữu cơ và
Trichoderma để quản lý bệnh do nấm Phytophthora có xu hướng gia tăng và
những thực tế này đang được sự chấp nhận nhiều hơn.
¾ Hầu như không có sự chấp thuận với những yêu cầu của EUREP GAP và có
những đề nghò rằng là nên có một hình thức đơn giãn hơn, thích hợp với
những điều kiện kinh tế xã hội và môi trường ở Việt Nam nhằm đảm bảo
những sản phẩm trái cây có múi an toàn hơn cho ngưới tiêu dùng và giảm
tác động đến môi trường.

FFS được tổ chức ở Tiền Giang và 2 FFS được tổ chức thêm tại tỉnh Vónh Long
(Bảng 1). Những FFS mở ra thêm này được tài trợ từ nguồn ngân sách tỉnh.

Bảng 1. Phân bố của FFS ở ĐBSCL và những vùng ven biển miền Trung và số
nông dân tham dự ở mỗi tỉnh
TT Tỉnh Số FFS
được tài
trợ bởi
CARD
Số FFS
được tài
trợ bởi
tỉnh
Số nông dân
tham dự
Nam Nữ
ĐBSCL
1 Tien Giang 7 2 237 213 24
2 Can Tho 7 210 203 7
3 Hau Giang 2 60 59 1
4 Soc Trang 2 60 58 2
5 Dong Thap 6 180 178 2
6 Vinh Long 6 2 240 232 8
7 Tra Vinh 3 90 83 7
8 Ben Tre 5 150 138 12
Tổng cộng 38 4 1227 1164 63

6
MIỀN TRUNG
1 Nghe An 4 117 90 27

tương lai
Các thông tin
về kỹ thuật
canh tác cây ăn
quả
15 17/04/06 Tien
Giang TV
Sử dụng thiên đòch để giảm thuốc trừ
sâu
Nông dân làm
giàu
90 11/06/06 Vinh
Long TV
Kỹ thuật bón phân cho vườn cây có
múi giai đoạn ra hoa
Nghề làm vườn
30 12/06/06 Tien
Giang TV Việc quản lý dự án

Dự án tiếp tục được quản lý rất tốt, các hoạt động đều diễn ra đúng theo lòch thời
gian chi tiêu đúng mục tiêu. Các cộng sự viên phía Việt Nam cụ thể là Cục BVTV
đã làm việc với tất cả sức lực của mình. Các hoạt động cho năm 2006 đã được khởi
đầu bằng một cuộc họp giữa các đối tác với sự khai mạc và chủ trì là Ông Nguyễn
Hữu Huân, Phó Cục trưởng Cục BVTV. Cuộc họp đã có hiệu quả rất cao, tất cả các
quyết đònh chính để thực hiện cho năm 2006 đều được tán thành. Dr Debbie Rae

7

các hàng cây có múi. Điều này đã minh chứng rõ ràng rằng sức khoẻ của hệ sinh
thái đã được cải thiện.
Về giới tính và xã hội

Trong chương trình huấn luyện các huấn luyện viên, trong năm 2005 đã có 69 nam
và 29 nữ tham gia các khoá huấn luyện và trong năm 2006 đã có 74 nam và 37 nữ
tham gia các khoá huấn luyện. Tỉ lệ nam, nữ này đã phản ảnh sự cân bằng về giới
tính của các huấn luyện viên của Cục BVTV . Ở các FFS mức độ nữ được khuyến
khích tham gia nhiều hơn, nhưng sự tham gia của phụ nữ còn tuỳ thuộc vào sự đảm
nhiệm nhiều công việc khác trong gia đình. Ví dụ như ở Xã Phú Sơn tỉnh Bến Tre

8
tất cả các tham dự viên trong FFS đều là nam, nhưng ngược lại ở Xã Vónh thạnh
của tỉnh Khánh Hoà 80% tham dự viên ở FFS đều là nữ.

Các đại biểu của các tổ chức phi chính phủ cũng được mời tham dự các cuộc họp
bàn kế hoạch làm việc của dự án và để hiểu biết về các hoạt động của dự án.

5. Sự thực hiện dự án
Những sản phẩm và những hạn chế

Không có sản phẩm hay hạn chế mới nào nảy sinh trong 6 tháng đầu năm 2006.
Sản phẩm chính được xác nhận trước tiên đó là về phía tổ chức Úc đã có sự ứng
trước cho phía Việt Nam những khoảng tiền cho các hoạt động huấn luyện trước khi
tiền đã được nhận từ tổ chức tài trợ bởi vì do yêu cầu phải hoàn tất tiến độ dự án
đúng theo mốc thời gian đã qui đònh. Hạn chế chính được xác nhận trước tiên đó là
nguồn vốn đòa phương dành cho các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và huấn luyện
viên phía Việt Nam trong việc đi lại giữa các đòa phương để thăm hỏi hay cung cấp
kinh nghiệm và trao đổi thông tin


tham gia trong dự án tuỳ thuộc vào diện tích canh tác cây có múi ở từng
tỉnh.Chương trình bổ sung được tình bày ở bảng 1.

Bảng 1. Số học viên TOT và số FFS ởp mỗi tỉnh

Stt Tỉnh/Thành phố Số tham dự
viên TOT
Từ các tổ chức
phi chính phủ
Số FFS
ĐBSCL
1 Tien Giang 12 3 6
2 Can Tho 12 3 6
3 Hau Giang 5 0 2
4 Soc Trang 5 0 2
5 Dong Thap 12 3 6
6 Vinh Long 12 3 6
7 Tra Vinh 5 0 3
8 Ben Tre 12 3 5
Tổng cộng 75 15 36
MIỀN TRUNG
1 Nghe An 8 2 4
2 Binh Dinh 8 2 4
3 Khanh Hoa 8 2 4
Tổng cộng 24 6 12
Ghi chú: Tổ chức phi chính phủ (gồm: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội làm vườn,
Hiệp hội trái cây Việt NamVACVINA, Các công ty thuốc trừ sâu tư nhân) 10


4. Những thí nghiệm trình diễn ngoài đồng và các chuyến tham quan

Năm 2006 mỗi FFS đều muốn có một thí nghiệm trình diễn với 2 nghiệm thức đó là
nghiệm thức IPM và nghiệm thức đối chứng với nông dân. Tuy nhiên, trong phạm
vi kinh phí của dự án thì không có tiền để mua các loại thuốc trừ sâu cho các thí
nghiệm được triển khai. Tự các nông dân có thể tự cung cấp vật liệu cho nghiệm
thức đối chứng nông dân, nhưng vật liệu cho nghiệm thức IPM cần được tài trợ từ
các công ty thuốc trừ sâu. Ông Chiến sẽ liên hệ với các công ty để tìm nguồn tài trợ
này.

Trong năm 2005 những chuyến tham quan đã được tài trợ bở Trường Đại Học Tây
Sydney nhưng ở năm 2006 thì không có kinh phí. Ông Huân đã đề nghò kinh phí

11
cho tham quan này nên tìm kiếm từ những tổ chức khuyến nông ở đòa phương. Ông
Huân và ông Chiến sẽ tìm kiếm nguồn này.

Phụ lục 3. Chương trình tập huấn và nội dung tập huâùn trong năm 2006


TOT thứ 1”- Nội dung tập huấn “TOT” IPM trên cây có múi
Ngày thứ Nội dung
Người huấn
luyện
Ngày Đơn vò
1 Giống và kỹ thuật canh tác
cây có múi
Ths. Nguyen
Huu Thoai

4
Sáng
Bệnh hại trong đất và biện
pháp phòng trừ sinh học-
phương pháp ủ phân hữu cơ
Ths Duong
Minh
Sáng 17/02 ĐH Cần
Thơ
Chiều Sử dụng thuốc trừ sâu trong
IPM
Dr. Tran Van Hai Chiều 17/02 ĐH Cần
Thơ
5
Sáng
Các phương pháp phun dầu
khoáng PSO và tỉa cành .
Thực tập ngoài vườn
Ths. Nguyen
Huu Thoai
KS. Le Quoc
Cuong
Sáng
18/02
SOFRI
SRPPC
Chiều
PSO và kỹ thuật phun trên
cây có múi.
KS. LE Quoc

9 Phương pháp khảo sát và
phân tích hiệu quả của
Ths. Le Van
Thiet
22/02 SRPPC

12
huấn luyện “IPM trên cây
có múi” qua KAP bằng
việc sử dụng SPSS
10
Sáng
Thảo luận và xây dựng đề
cương cho IPM cho một số
nhóm cây có múi
Hoạt động nhóm Sáng 23/02
Chiều
Thảo luận và xây dựng đề
cương cho IPM cho một số
nhóm cây có múi và thi
kiểm tra cuối khoá
Hoạt động nhóm
và huấn luyện
viên
Chiều 23/02
11 Trình bày những đề cương
và thảo luận chung
– Kết thúc
Các huấn luyện
viên

ĐH Cần
Thơ
Chiều
Giới thiệu về IPM trên cây
có múi
Dr. Nguyen Thi
Thu Cuc
Chiều 01 và
02/03
ĐH Cần
Thơ
4
Sáng
Bệnh hại trong đất và biện
pháp phòng trừ sinh học-
phương pháp ủ phân hữu cơ
Ths Duong
Minh
Sáng 03/03 ĐH Cần
Thơ
Chiều Sử dụng thuốc trừ sâu trong
IPM
Dr. Tran Van Hai Chiều 03/03 ĐH Cần
Thơ
5
Sáng
Các phương pháp phun dầu
khoáng PSO và tỉa cành .
Thực tập ngoài vườn
Ths. Nguyen

Chiều
Thực tập “Greening Test-
Kit”. Phương pháp – giám
đònh nhanh bệnh
Greening
Dr. Nguyen Van
Hoa
Chiều 06/03 SOFRI
8 Kỹ thuật bảo quản sau thu
hoạch
Ths. Lam Thi My
Nuong
07/03 SRPPC
9 Phương pháp khảo sát và
phân tích hiệu quả của
huấn luyện “IPM trên cây
có múi” qua KAP bằng
việc sử dụng SPSS
Ths. Le Van
Thiet
08/03 SRPPC
10
Sáng
Thảo luận và xây dựng đề
cương cho IPM cho một số
nhóm cây có múi
Hoạt động nhóm Sáng 09/03
Chiều
Thảo luận và xây dựng đề
cương cho IPM cho một số

3
Sáng
Nhận diện các loại dòch hại
chính và triệu chứng gây
hại của chúng đối với cây
có múi. Thực tập ngoài
vườn
Dr. Nguyen Thi
Thu Cuc

Sáng
15/03
ĐH Cần
Thơ
Chiều
Giới thiệu về IPM trên cây
có múi
Dr. Nguyen Thi
Thu Cuc
Chiều 15 và
16/03
ĐH Cần
Thơ
4 Bệnh hại trong đất và biện Ths Duong Sáng 17/03 ĐH Cần

14
Sáng
pháp phòng trừ sinh học-
phương pháp ủ phân hữu cơ
Minh Thơ

Quản lý bệnh Greening và
bệnh Tristeza trên cây có
múi
Dr. Nguyen Van
Hoa
Sáng
20/03
SOFRI
Chiều
Thực tập “Greening Test-
Kit”. Phương pháp – giám
đònh nhanh bệnh
Greening
Dr. Nguyen Van
Hoa
Chiều 20/03 SOFRI
8 Kỹ thuật bảo quản sau thu
hoạch
Ths. Lam Thi My
Nuong
21/03 SRPPC
9 Phương pháp khảo sát và
phân tích hiệu quả của
huấn luyện “IPM trên cây
có múi” qua KAP bằng
việc sử dụng SPSS
Ths. Le Van
Thiet
22/03 SRPPC
10

Ông Oleg đã tham dự ngày cuối cùng của khoá học thứ 3 TOT được tổ chức rất tốt
tại Trung tâm BVTV phía Nam (SRPPC). Cả 3 lớp TOT đã được tổ chức tại Trung
tâm BVTV phía Nam (SRPPC), TOT lần thứ 1 từ ngày: 13/02/ đến 24/02/06; TOT
lần thứ 2 từ ngày 27/02 đến 10/03/06 và TOT lần thứ 3 từ ngày 13/03/ đến
23/03/06. Tổng số gồm 113 huấn luyện viên từ 10 tỉnh đã được tập huấn, trong đó
có 8 tỉnh từ ĐBSCL và 2 tỉnh từ miền Trung. Trong cuộc họp các đối tác được tổ
chức vào tháng giêng năm 2006 đã quyết đònh trong năm nay không mở các FFS ở
tỉnh Quảng Nam bởi vì diện tích trồng cây có múi tại đây rất ít và số FFS đã được
tập huấn trong năm rồi đã dđđ cho tỉnh Quảng Nam.Trong năm nay cũng không có
tập huấn thêm cho các huấn luyện viên của tỉnh Bình Đònh mặc dù ông Chiến đã
hết sức cố gắng vận động ông Chi cục trưởng Chi cục BVTV tỉnh này. Dù vậy, số
FFS vẫn được mở thêm cho tỉnh này với các huấn luyện viên đã được tập huấn
trong năm 2005.
Từ những kinh nghiệm và các thông tin phản hồi qua cuộc hội thảo đánh giá hiệu
quả của dự án sau 1 năm hoạt động (Xem phụ lục 3) mà nội dung tập huấn trong
năm nay đã được chỉnh sửa lại. Trong nội dung tập huấn của năm nay có sự cân đối
giữa lý thuyết và thực hành. Những học viên các TOT năm nay đã xây dựng một đề
cương thực hiện những thí nghiệm trình diễn cho mùa này. Các học viên đã được
chia ra làm 3 nhóm và mỗi nhóm đã xây dựng một đề cương về một trong 3 chủng
loại trái cây có múi chủ yếu theo từng đòa phương đó là bưởi, quýt và cam.Những
đề cương này được xây dựng không chỉ để quản lý các dòch hại chính mà nó còn
bao gồm cả kỹ thuật canh tác, xén tỉa và quản lý dinh dưỡng cho cây. Oleg đã
tham dự buổi trình bày này của các học viên qua phần trình bày của đại diện từng
nhóm qua PowerPoint. Ông đã bò gây ấn tượng mạnh với chất lượng của phần trình
bày và sự thảo luận nhiệt tình, sống động của các tham dự viên TOT. Kết quả đạt
được này rõ ràng là nhờ vào phương pháp tham gia tiếp cận đã được sử dụng suốt
trong khoá huấn luyện. Trong bài phát biểu kết thúc lớp học, ông Oleg đã hết sức
nhấn mạnh vai trò quan trọng của các huấn luyện viên trong làm việc với nông dân
để cải thiện hơn nữa các chiến lược IPM mà sẽ được sử dụng năm nay qua những
thí nghiệm trình diễn ở các FFS với đề cương IPM mà họ đã xây dựng và những

mới khởi đầu. Tuy nhiên cũng nên sử dụng thuốc nếu như không có những ngưỡng
thấp hơn những ngưỡng đã được đề xuất.
Tất cả những chi tiết về đầu tư và chăm sóc vườn cây đều được ghi nhận như việc
phun các loại thuốc nào và sử dụng phân bón ra sao là một phần rất quan trọng
trong nội dung của FFS và các huấn luyện viên nên theo dõi mà không chỉ trên
những lô thí nghiệm của FFS mà còn trên cả chính vườn quả của người nông dân
Tất cả các FFS sẽ được cung cấp thuốc imidacloride (confidor) nhờ vào sự tài trợ
của công ty Bayer và dầu khoáng SK qua công ty thuốc trừ sâu Sài gòn.

3. Vật liệu cho huấn luyện TOT and FFS

Quyển sách cho việc huấn luyện các huấn luyện viên đã được in ấn vào năm 2005
và đã được CARD PMU chấp nhận . Tuy nhiên đó chỉ là bước đầu trong việc cung
cấp vật liệu giảng dạy cho các huấn luyện viên và nông dân. Nhóm điều phối dự án
phía Việt Nam, dưới sự giúp đở của ông Oleg và bà Debbie đã chuẩn bò một bản
thảo cho một quyển sách mà sẽ được phân phối cho tất cả các huấn luyện viên
hoàn thành việc huấn luyện trong năm 2005 và 2006. Oleg đã gặp ông Nguyễn
Hữu Huân phó cục trưởng cục BVTV tại văn phòng của ông Huân ở Thành phố
HCM và đã thảo luận với nhau về bản thảo này cũng như thời gian sẽ in ấn tác
phẩm này. Nó đã được chỉnh sửa và sẽ được in ấn vào trước cuối tháng 4 năm 2006.
Quyển sách bao gồm kỹ thuật canh tác, tỉa cành, phân bón, sâu bệnh hại và cỏ dại.

17
Ngoài ra cũng có một chương về sử dụng dầu khoáng với các tác giả là TS. Trần
Văn Hai, bà Nguyễn Ngọc Thùy, ông Oleg và TS. Dabbie Rae. Chương đó vẫn còn
cần phải chỉnh sửa. Những vấn đề cần chỉnh sửa đã được thảo luận với TS Hai vào
ngày 22/03/06 và Oleg và Dabbie đã đưa ra những khuyến cáo về cách sử dụng dầu
để TS Hai là người sẽ dòch sang tiếng Việt Nam sau đó sẽ trình phần hoàn chỉnh
lên cho ông Huân vào cuối tháng.


họp vào tháng 6 bản thảo cho 3 loại dòch hại và bệnh sẽ được phân tích, chỉnh sửa,
điều chỉnh và tạo dáng để sử dụng làm chuẩn cho việc soạn thảo tiếp các loại dòch
hại khác.
Cho các FFS trong năm nay, 2 bộ áp phích được in ấn trên nền vải nhựa chống
thấm nước phục vụ cho việc giảng dạy đã được sản xuất. Bộ thứ nhất gồm 8 tờ áp

18
phích trình bày về các loại côn trùng và nhện hại trên cây có múi và bộ thứ 2 gồm 4
tờ áp phích trình bày những loại bệnh chính trên cây có múi. Tổng cộng có 56 bộ áp
phich với mỗi bộ 12 tờ đã được sản xuất với chi phí là 106.400.000 đồng VN. Dự án
hiện tại này không có kinh phí cho việc in ấn này mà nguồn kinh phí được lấy từ dự
án ACIAR, Văn Phòng Giao Dòch và Chính Sách (60.800.000 đồng VN) và từ
Trung tâm Khoa học cây trồng và thực phẩm (UWS) (45.600.000 đồng VN) Chính
các thành viên tham dự TOT của Chi cục BVTV tỉnh Cần Thơ dã sáng tạo ra loại
phương tiện giảng dạy này. Những áp phích này là một minh chứng rõ ràng hơn về
sự thành công của phương pháp tham gia và việc học hỏi kinh nghiệm đã được áp
dụng trong dựa án CARD này.
Những mẫu phiếu để ghi chép về sự hiện diện của các loại dòch hại, bệnh hại và
thiên đòch trong chính khu vườn của người nông dân đã được in ấn và phân phối cho
tất cả nông dân tham gia trong dự án. Mỗi lớp cũng được cung cấp các kính lúp cầm
tay.

4. Thăm FFS từ 11– 23 tháng 6

Oleg sẽ thăm Việt Nam từ 11-23 tháng 6. Suốt tuần lễ đầu tiên ông sẽ thăm FFS ở
ĐBSCL và tuần thứ 2 thì đi các tỉnh miền Trung. Mục đích chính của chuyến thăm
này là để xác đònh vò trí, cũng như tình hình của các xã mà các FFS được tổ chức
tương tự như công việc đã được thực hiện trong năm rồi. Ngoài ra việc xác đònh vò
trí mở lớp FFS Oleg cũng sẽ đánh giá tính chấp hành với những yêu cầu
EurepGAP. Mục đích của việc nghiên cứu thêm này là để xác đònh xem khoảng

Thông tin về tính đáp ứng với GAP đã được thu thập bằng việc phỏng vấn các chi
cục trưởng các chi cục BVTV cùng với các huấn luyện viên trong chương trình
huấn luyện IPM trên cây có múi. Ngoài ra còn có kết hợp với khảo sát vườn khi
đến thăm và phỏng vấn trực tiếp các nông dân tham gia.
Thông tin thu thập được từ cuộc phỏng vấn năm nay đã được bổ sung thâm vào cơ
sở dữ liệu của năm 2005 và những thông tin phụ đã thu thập từ mỗi nông dân tham
gia ở đầu và sau những khảo sát phỏng vấn cũng đã được liệt kê chi tiết. Mục đích
chính của cuộc phỏng vấn này là:
¾ Thông qua một cuộc phỏng vấn để xác đònh vùng cần nghiên cứu
¾ Tư liệu về thực tế cách phun thuốc và tình trạng sử dụng thuốc BVTV
¾ Xác đònh những khoảng trống chính trong kiến thức nông dân để từ đó có
thể xây dựng những tiêu đề phù hợp cho các FFS.
¾ Xác đònh mức độ chấp nhận với GAP ở thời điểm hiện tại này.

Tìm kiếm
Các chủng loại cây có múi nổi trội và tình trạng canh tác cây có múi
Không có thay đổi gì về chủng loại các cây có múi nổi trội (Bảng 1) hay các kỹ
thuật canh tác cây có múi (Bảng 2) so với kết quả khảo sát năm 2005 vì thể chủ
đề này sẽ không thảo luận thêm trong báo cáo này.
Những loài dòch hại và bệnh hại nổi trội
Như kết quả điều tra trong năm 2005, các nông dân đã được phỏng vấn trong năm
2006 có khó khăn lớn trong việc nhận diện các loại dòch hại và bệnh, và trong
nhiều trường hợp không thể phân biệt được thiệt hại do sâu và bệnh hại. Trong
phần lớn các trường hợp nông dân nhận biết khi mà đã quá trễ do đó việc phòng trừ
không đạt được hiệu quả. Ví dụ cụ thể như đối với sâu vẽ bùa. Đôi khi các nông
dân lại áp dụng thuốc trừ dòch hại vào những lúc không cần thiết bởi vì lúc đó nó
chẳng gây thiệt hại gì về kinh tế, chẳng hạn như đối với con rầy mềm.
Hầu như khắp vùng ĐBSCL sâu vẽ bùa, nhện hại được xem là vấn đề chính trong
năm 2006, còn đối với rệp sáp hại rễ thì lại ít hơn so với năm 2005 (bảng 3). Rệp


phân bố rộng rãi hơn ở các tỉnh khác. Các nông dân đều nhện biết rằng rầy chổng
cánh truyền bệnh huanglongbing, và việc sử dụng cây giống sạch bệnh thì phổ biến
hơn ở phía Nam Việt Nam, nhưng có một khái niệm nhầm lẫn chung là việc phòng
trừ rầy chổng cánh chỉ cần vào lúc cây ra lộc xuân (tức là lộc mà sẽ mang quả vào
mùa thu sau đó) là đủ. Để ngăn chặn sự truyền bệnh huanglongbing, rầy chổng
cánh cần được kiểm soát quanh năm trên tất cả các lộc. Quan điểm này sẽ được
nhấn mạnh trong quá trình tập huấn su6ốt năm thứ hai của dự án.

Thuốc hóa học nhìn chung không đã không có sử dụng quá mức ở những vùng và
tỉnh đã đến thăm thậm chí số lần phun được ghi nhận qua khảo sát thì cao hơn số
lần phun được ghi nhận ở năm rồi. Tuy nhiên, thời gian phun thuốc và loại thuốc đã
sử dụng cần phù hợp hơn. Nông dân thường dùng loại thuốc rẽ tiền, thế hệ cũ hơn
(Bảng 3). Song việc sử dụng thuốc thiamethoxam và imidacloprid dường như có
gia tăng và sử dụng các thuốc cúc tổng hợp thì giảm hơn so với kết quả khảo sát
năm rồi. Việc sử dụng dầu khoáng thì vẫn còn thấp nhưng sẽ gia tăng hơn nhờ vào

21
những nổ lực tiếp thò của công ty thuốc trừ sâu Sài Gòn và sự hổ trợ của Cục BVTV
và dự án của chúng ta. Lý do chính của việc sử dụng dầu vẫn còn thấp đó là tình
trạng bò ngộ độc cho cây xảy được xác đònh bởi các người trồng cây trong thời gian
qua. Để hạn chế vấn đề ngộ này, Công ty thuốc trừ sâu Sài Gòn đã đưa ra khuyến
cáo về cách sử dụng dầu khoáng là chỉ sử dụng vào 2 đợt ra chồi chính trong năm
và với nồng độ thấp. Nếu như người nông dân áp dụng theo những khuyến cáo này
thì không có vấn đề ngộ độc cho cây xảy ra và rồi nhận thức của họ về dầu khoáng
sẽ thay đổi trong các mùa sau. Một vấn đề khó khăn hơn nữa là hiệu quả của dầu
thường không cao là do các phương áp dụng nghèo nàn. Kết quả điều tra cho thấy
ngoại trừ Đồng Tháp và Nghệ An, phần lớn nông dân sử dụng bình phun tay (Bảng
3). Không chỉ phần lớn nông dân sử dụng bình phun tay mà chất lượng bình phun
còn rất nghèo không đủ tạo ra áp lực để phun lượng dầu trải đều lên toàn bộ lá cây.
Dầu khoáng sẽ không thể thể hiện hết tiềm lực của nó nếu như không cải thiện

sản suất. Họ cũng không biết đánh dấu sản phẩm như thế nào để đạt yêu cầu về

22
khái niệm của GAP. Những gì đã được phản ảnh như là thành phần của GAP thì rất
khác nhau giữa các tỉnh và những câu trả lời được đề cập dưới đây:

1. Chứng nhận việc sản xuất cây giống sạch bệnh .
2. Quản lý bệnh huanglongbing.
3. Tập huấn nông dân .
4. Đề cương chi tiết cho việc sản xuất trên một vùng rộng lớn mà đòi hỏi phải có sự
hợp tác giữa các nông dân.
5. Tổ chức những nhóm nông dân để thực hiện GAP tốt hơn .
6. Huấn luyện nông dân, trình diễn kỹ thuật mới, giới thiệu những giống mới.
7. Huấn luyện, sử dụng phân hữu cơ và cải tiến thò trường
8. Kiến thức và giáo dục, đầu tư và thò trường.

Khi được hỏi để đánh giá phần trăm nông dân ứng dụng một số thành phần chính
về khái niệm của GAP như là: đánh dấu sản phẩm, nhãn mác, nguồn gốc giống và
gốc ghép, lòch sử nơi trồng và biện pháp canh tác, quản lý về đất và phụ phẩm; tất
cả những người được phỏng vấn thì đồng ý rằng không có qui đònh chung nào cho
tất cả. Phần lớn nông dân sử dụng phân hữu cơ thì nó cũng là sự ứng dụng qua yêu
cuầu của GAP, tuy nhiên đòi hỏi họ phải sửng dụng nguồn nước sạch để tưới tiêu
thì hệ thống thuỷ nông hiện tại của Đồng Bằng Sông Cửu Long không thể đáp ứng
được với yêu cầu của EUREP GAP.
Những người được phỏng vấn về các chi tiết theo yêu cầu của EUREP GAP trong
bảo vệ thực vật được thể hiện ở bảng 4. Có rất nhiều người khi sử dụng thuốc thì họ
đọc nhãn thuốc và thuốc phải được đăng ký và biết về thời gian cách ly của thuốc.
Tuy nhiên cán bộ kỹ thuật của Chi cục Bảo vệ thực vật thì chưa hiểu hết rằng yêu
cầu của GAP là phải đăng ký sản phẩm. Yêu cầu của GAP là thuốc Bảo vệ thực vật
phải được đăng ký và đặc biệt nhất là đăng ký sử dụng cho đối tượng cây trồng

phun xòt thì dựa trên bình phun xòt bằng tay, không xác đònh được số bình cần phun
xòt hay tính toán số lượng phun xòt cho từng bình riêng hoặc nồng độ thuốc phun.
Tuy nhiên, một cách chung nhất thì nông dân sử dụng theo nồng độ khuyến cáo
trên nhãn của từng sản phẩm thuốc. Đây được xem như là kiến thức cho chiến lược
đơn giản để phòng trừ sâu bệnh hại dựa trên hệ thống dự tính cơ bản là liên hệ tới
các lần ra tượt non đã được nông dân chấp nhận. Chương trình IPM đã được phát
triển qua các lớp FFSs trong năm 2005 và thông qua các lần họp đánh giá có sự tiếp
thu khá tốt.
Hiện nay, hầu như không có tác động ứng dụng theo yêu cầu của EUREP GAP.
Cần có nhiều sự thay đổi về cấu trúc hạ tầng (như hệ thống nước thải và cấu trúc
nhà kho đóng gói) những nhu cầu nầy cần được tiến hành trước khi ứng dụng thực
hiện theo EUREP GAP thì mới có thể được. Cần có sự cải tiến về hệ thống đăng ký
thuốc Bảo vệ thực vật như đăng ký thuốc sử dụng trên cây có múi cho phù hợp.
Vấn đề nẩy sinh ra là có sự khác nhau giữa thực tiễn canh tác cây có múi và công
nghiệp cây có múi ở Việt Nam. Nhu cầu đòi hỏi của EUREP GAP thì còn quá xa
vời với điều kiện, mô hình thực tiễn đối với GAP trong việc trồng cây có múi tại
Việt Nam. Một mô hình đơn giản hơn là phải chắc chắn rằng những sản phẩm cây
có múi thì an toàn hơn cho những người tiêu dùng và làm giảm sự ảnh hưởng đến
môi trường để thích hợp cho sự phát triển về kinh tế xã hội và điều kiện môi trường
của người Việt Nam.

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status