Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Đánh giá hiệu quả của các lớp huấn luyện nông dân FFS trong việc quản lý dịch hại tổng hợp IPM trên cây có múi tại Việt Nam - ms4 " - Pdf 15

Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Chính Phủ Úc
Tổ chức tài trợ AusAID
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ
036/04VIE: Đánh giá hiệu quả của các lớp huấn
luyện nông dân FFS trong việc quản lý dòch hại tổng
hợp IPM trên cây có múi tại Việt Nam MS4: Báo cáo 6 tháng lần thứ hai
1
1. Tóm lược dự án:

Cây có múi là một chủng loại cây ăn trái quan trọng tại Việt Nam nhưng hiện
trạng sản xuất và sản lượng cây có múi đang bò trở ngại bởi một loạt các đối tượng
dòch hạiù quan trọng. Việc quản lý dòch hại tổng hợp (IPM) được thừa nhận như một
phương pháp kiểm soát dòch hại có hiệu quả và chấp nhận được. Việt Nam có một

luyện và những hoạt động này được hùng dẫn đồng bộ tại tất cả các FFS. Các thí
nghiệm trình diễn cũng đã được thực hiện tại 16 FFS. Một cuộc khảo sát trắc
nghiệm về kiến thức thực tiễn cơ bản của nông dân cũng đã được tiến hành tại 15
đòa điểm và tất cả những nông dân mà tham gia trong các FFS đều được trắc
nghiệm bằng 52 câu hỏi trước và sau khi tham dự lớp huấn luyện. Các kết quả của
cuộc phỏng vấn nói trên gồm 727 người trước và 694 người sau khi tham dự các
FFS đang được phân tích. Tất cả các phần đã dự trù của khung dự án cho năm 2005
đã được hoàn tất. Hai đầu ra chính đã được dự trù trong khung dự án cũng đã hoàn
2
tất và chính điều này sẽ làm tăng tính thích ứng của dự án đối với cả huấn luyện
viên và nông dân trồng cây có múi một cách có ý nghóa.
Những chuyến tham quan đã được tổ chức cho các nông dân ở các tỉnh lân cận nhau
qua lại để tham quan học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau được Tổ Chức Úc tài trợ và 3
cuộc hội thảo xem xét lại kết quả những công việc đã thực hiện được trong năm
qua do Công Ty BAYER Việt Nam và Tập đoàn dầu khoáng SK Hàn Quốc tài trợ
giúp cho ban tổ chức có được những phản hồi rất quan trọng về chương trình huấn
luyện trong năm 2005 từ các tham dự viên. Tại các cuộc hội thảo này, mọi người đã
thống nhất rằng chương trình huấn luyện cho năm 2006 phải được điều chỉnh để
làm tăng tính thích ứng và hiệu quả của việc huấn luyện. Các điều chỉnh này gồm
TOT phải được tổ chức sớm trong năm, tăng cường những bài thực hành hơn và FFS
bắt đầu sớm hơn nhưng kết thúc muộn hơn, thời gian mở những lớp học linh động
hơn trong suốt giai đoạn từ lúc cây ra hoa đến thu hoạch nhưng vẫn đảm bảo những
nội dung trong chương trình.

3. Giới thiệu và bối cảnh :
Cây có múi là một trong những chủng loại cây ăn trái chủ lực ở Việt Nam (Bộ NN
& PTNT, 2004) và sản xuất trái cây có múi là một nguồn thu nhập quan trọng của
nhiều nông dân Việt Nam. Tuy nhiên, năng suất và sản lượng trái cây có múi tại
Việt Nam lại khá thấp hơn so với ở Úc và những nước sản xuất cam quýt chủ lực
của thế giới như Braxin và Hoa Kỳ. Bộ Nông nghiệp & PTNT đã chỉ rõ rằng “Nhìn

này là để thu hút trọn vẹn những người tham gia và để cho họ nhằm vào việc học
và nghiên cứu để đạt được những nhu cầu của chính họ.4. Tiến độ thực hiện được cho đến nay:

1. Những điểm nổi bật trong việc thực hiện:
Việc thực hiện thành công của chương trình năm 2005 là đã huấn luyện được 98 Huấn
Luyện Viên huấn luyện rất hiệu quả. Những Huấn Luyện Viên này đã hướng dẫn FFS tại
24 đòa điểm ở 8 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long và 4 tỉnh Duyên Hải Miền Trung của Việt
Nam (Bảng 1). Ngoài ra, Chính Quyền Đòa Phương của tỉnh Tiền Giang còn tài trợ để tổ
chức thêm 2 FFS, và 2 lớp FFS nữa cũng đã được cam kết sẽ tổ chức thêm cho năm 2006.
Đây là một sự minh chứng rất có ý nghóa về tính thích ứng và hữu ích của chương trình
huấn luyện này và người ta mong chương trình FFS này sẽ được tổ chức rộng rãi hơn tại
nhiều đòa phương hơn.

Bảng 1: Các đòa điểm của FFS
Tỉnh Số FFS
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Tiền Giang
Đồng Tháp
Vónh Long
Cần Tho
Trà Vinh
Hậu Giang
Sóc Trăng
Bến Tre
DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG
Khánh Hòa
Bình Đònh


* Có những khác biệt đáng kể trong các hệ thống sinh thái nông nghiệp và đặc
điểm canh tác cây có múi tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và vùng Duyên Hải
miền Trung (gồm cả Tỉnh Nghệ An).

* Các nông dân cần có nhiều kỹ năng hơn nữa trong việc nhận ra sâu bệnh và mối
liên hệ giữa những sâu bệnh này với sự phát triển của cây có múi.

* Việc phun xòt chủ yếu sử dụng các bình xòt tay (đeo trên vai).

* Từ tình hình kinh tế hiện tại và tính không thực tế của các chiến lược phòng trừ
sâu bệnh trước đó như là dự án ACIAR mã số CS2/2000/043 (Phun dầu khoáng) và
dự án CIRAD (quét imidaclorid lên thân) đã dẫn đến một chiến lược mới mà đang
được chấp nhận đó là kết hợp kết hợp những yếu tố của cả hai chiến lược trên mà
hiện taiï đang được người nông dân áp dụng (một lần dùng imidaclorid và sau đó là
phun hai lần dầu khoáng vào mỗi đợt cây ra chồi).

Những chi tiết về việc điều tra phỏng vấn nông dân được trình bày cụ thể trong phụ
lục 1.

Trong tháng 9, Tổ Chức Úc đã đồng ý tài trợ những chuyến tham quan cho nông
dân trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long từ nguồn khác ngoài ngân sách dự án,
và tổng số là 2,494 đô la đã được chuyển cho Việt Nam (phụ lục 2). Những tham
quan của nông dân được tiến hành từ 24 đến 29 tháng 10 với tổng số 540 nông dân
từ 18 FFS trong 8 Tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long đi tham quan một FFS ở một
tỉnh khác. Các nông dân từ 7 tỉnh đã đến tham quan ở Huyện Lai Vung, Tỉnh Đồng
Tháp và các nông dân của Huyện Lai Vung đã đến tham quan tại Huyện Cái Bè
của Tỉnh Tiền Giang.

Mục tiêu bổ sung thứ hai về việc tổ chức các cuộc hội thảo đánh giá lại kết quả

và trong chương trình huấn luyện của TOT của năm 2005, vấn đề bệnh
Phytophthora chỉ là một phần nhỏ trong chương trình mà thôi. Một dự án CARD
khác mang mã số 052/04VIE “Quản lý bệnh Phytophthora trong nghề làm vườn ở
Việt Nam” hiện tại đang hoạt động, Các thành viên UWS đã làm việc với Giáo Sư
David Guest, người Úc đang điều phối dự án bệnh Phytophthora nói trên, để thảo
luận về vấn đề bệnh Phytopthora trên cây có múi. Giáo sư Guest đã cung cấp
những thông tin rất hữu hiệu và cũng cho danh sách các nhân viên Việt Nam có
tham dự trong dự án Bệnh Phytophthora (Phụ Lục 4). Tất cả những thông tin trên
đã được chuyển đến nhóm điều phối dự án, và Ông Hồ Văn Chiến, người tạo ra
những sự kết hợp giữa các dự án. Ông Dương Minh ở Trường Đại Học Cần Thơ
hiện đã tham dự 2 trong 3 cuộc họp đánh gia kết quả của dự án này được tổ chức
vào tháng 12/2005, và ông sẽ tham dự TOT vào năm 2006.

Các chương trình huấn luyện

Việc huấn luyện là một thành phần chủ yếu của dự án này và nó đã được thực hiện
ở hai mức độ vào năm 2005. Tổng số 98 nhân viên PPD có kinh nghiệm đã được
huấn luyện về IPM cam quýt và những Huấn Luyện Viên này đã tổ chức triển khai
một cách hiệu quả được 24 FFS trong các đòa phương của họ. Thêm vào số FFS
được tài trợ bởi dự án, Tỉnh Tiền Giang cũng tổ chức thêm 2 FFS do quỹ chính
quyền đòa phương tài trợ. Các chi tiết của các chương trình huấn luyện sẽ được thảo
luận trong “Những Điểm Nổi Bật trong việc thực hiện” của dự án này.

6
Việc quảng bá:

Một phát hiện thông qua việc điều tra nông dân ở đầu khoá đó là nông dân sẽ tiếp
nhận được thông tin một cách tốt nhất đó là qua TV bởi vì hơn 90% nông dân có
một TV tại nhà riêng. Mỗi tỉnh ở Việt Nam có một đài truyền hình đòa phương và vì
70% dân số sống ở các vùng nông thôn, nên nội dung các buổi phát hình liên quan

đề về Nghề
làm vườn
30 31/08 VTV

Các kỹ thuật để
chăm sóc tốt
các vườn cam
quýt vào cuối
mùa mưa (sử
dụng phân hữu
cơ với
Trichoderma,
và thoát nước
nhanh)
Các chuyên
đề về Nghề
làm vườn
30 26/11 VTV
IPM trên cây có
múi- Các kinh
nghiệm để quản
lý vườn cam
quýt bằng cách
Các chuyên
đề về Nghề
làm vườn
30 15/9 VTV
7
tỉa cành trong
suốt mùa mưa.

cơ trong việc
sản xuất nông
nghiệp có xác
nhận
Nhòp cầu nhà
nông.
70 11/12 CVTV
Phòng chống và
xử lý ngập úng
cho các vườn
cam quýt
Chuyên đề
nông nghiệp
15 15/9 CVTV
IPM - tăng
cường hiệu quả
của năng suất
và cải tiến chất
lượng trái cam
quýt bằng cách
sử dụng PSO.
Nhòp cầu nông
gia.
120 9/7 CVTV
IPM trong
chương trình
cam quýt tại
Vónh Long của
PPD và WSU.
Bản tường

phương pháp
cải tiến
Bản tin tức 03.40 30/11 VLTV Bản tóm tắt của một bài báo tựa đề “Khả năng phục hồi của công nghệ trồng cây
có múi ở Việt Nam: Nông dân Việt Nam học cách sống chung với bệnh
Huanglongbing” đã được đệ trình tại Hội Nghò Nghề Làm Vườn Quốc Tế Lần Thứ
27 tại Seoul, Hàn Quốc từ 13-19-2006 (Xin xem Phụ Lục 5.)

Việc quản lý dự án
Nhóm điều phối dự án Việt Nam đã chứng tỏ những kỹ năng quản lý dự án rất đặc
biệt và có tính năng động cao. Ngoài việc hợp tác huấn luyện 98 Huấn Luyện Viên
và thực hiện thành công 24 FFS trong 12 Tỉnh Thành vào năm 2005, ông Hồ Văn
Chiến đã đề xướng một loạt những hoạt động ngoài phạm vi gốc của dự án. Những
việc này bao gồm việc cung cấp kính lúp cho tất cả các FFS, việc chuẩn bò các
chuyến tham quan cho các nông dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đi thăm
viếng các vườn cam quýt ở các tỉnh khác nhau, và tổ chức 3 cuộc hội thảo duyệt xét
vào tháng 11/2006. Việc tài trợ cho tất cả những hoạt động này đều do những
nguồn bên ngoài ngân sách dự án. Viện Nghiên Cứu Ăn Quả Miền Nam cũng đã
đóng góp rất lớn cho chương trình huấn luyện bằng cách cung cấp 3 bài giảng cho
chương trình TOT vào năm 2005. Việc này đã không được dự kiến trong hồ sơ dự
án và như thế thời gian bỏ ra của họ cũng không được kể ra như là một phần trong
việc đóng góp đó. Kinh nghiệm của Các Nhà Nghiên Cứu của SOFRI đã làm tăng
thêm kiến thức cho các Huấn Luyện Viên. Tổ chức Úc cũng đã chứng tỏ sự tận tâm
rất lớn đối với dự án và đã giúp cho những hoạt động huấn luyện tại Việt Nam được
dễ dàng bằng cách chuyển ngân quỹ cho cơ quan phía Việt Nam trước khi họ được
nhận từ tổ chức tài trợ. Tổ chức Úc cũng đã cung cấp thêm những quỹ ngoài ngân
sách để tổ chức các chuyến tham quan cho các Tham Dự Viên FFS tại Đồng Bằng
Sông Cửu Long. Tuy nhiên việc cung cấp thêm những quỹ này không thể chống đở


6. Thực hiện dự án

Những thành quả và những hạn chế
Một hạn chế quan trọng của dự án là những nguồn vốn có sẳn ở đòa phương thì có
giới hạn cho các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và huấn luyện viên của Việt Nam
đi lại để tìm hiểu hoặc cung cấp kinh nghiệm và chuyển giao thông tin. Có một vài
trở ngại đối với sự trao đổi thông tin giữa những vùng, chẳn hạn như sử dụng từ ngữ
đòa phương khác nhau song đây chỉ là những hạn chế thứ yếu. Những hạn chế
chính là các ngân sách đòa phương rất ít ỏi cho việc đi lại giữa các nơi, và thậm chí
để gọi điện thoại nội hạt ở Việt Nam. Việc đi lại bằng xe lửa và xe buýt thì tương
đối rẽ so với máy bay, nhưng hệ thống đường xá nghèo nàn và thường dừng lại làm
cho việc đi lại tốn mất nhiều thời gian. Việc cung cấp thêm các ngân sách cho
thành viên của dự án Việt Nam để đi lại bằng đường hàng không giữa các vùng sẽ
10
làm dễ dàng rất nhiều cho việc thiết lập những quan hệ chuyên môn mà sau đó có
thể được duy trì bằng cách sử dụng Email.

Việc chuyển giao thông tin giữa các nông dân ở một số đòa phương đôi khi cũng bò
hạn chế. Các chuyến tham quan của nông dân đã được tài trợ từ những nguồn bên
ngoài ngân sách dự án giúp cho việc trao đổi thông tin giữa các nông dân ở các tỉnh
khác nhau được thuận tiện hơn. Các chuyến tham quan này cũng được các nông
dân nhiệt liệt hoan nghênh, và các huấn luyện viên tham dự các cuộc hội thảo đánh
giá kết quả dự án cho biết rằng hầu hết các nông dân đều muốn có thêm nhiều cuộc
tham quan học hỏi khác. Các nguồn quỹ bổ sung đang được xem xét, nhưng vào
giai đoạn này khả năng được tài trợ thì vẫn chưa được biết tới.

Các Sự lựa chọn
Tại các cuộc hội thảo đánh giá kết quả dự án, đề nghò gia tăng con số của FFS lên
50% (tức là từ 24 ở năm 2005 lên 36 lớp cho năm 2006) thì ít hơn là tăng lên 100%

Phụ Lục 1:
Khảo sát trình độ thực tiễn của nông dân

Từ ngày 06/06 tới ngày 19/06 những nhân viên, phụ trách dự án gồm có OLEG
NICETIC, Hồ Văn Chiến, Tiến Só Nguyễn Thò Thu Cúc, Tiến Só Trần Văn Hai và
ông Cường đã viếng thăm 16 FFS tại Đồng Bằng Sông Cửu Long và các vùng
Duyên Hải miền Trung của Việt Nam (Bảng 1). Tại mỗi đòa điểm, những nông dân
đã được hướng dẫn làm thí nghiệm trình diễn FFS trên khu vườn của họ đã được
phỏng vấn, và các cuộc thảo luận đã được tổ chức với những nông dân khác đang
tham dự trong các FFS về những kỹ thuật trồng cây cam quýt, đặc biệt là về việc
kiểm soát sâu bệnh. Họ cũng đã đến thăm một đại lý bán vật tư nông nghiệp đòa
phương và phỏng vấn người bán vật tư để xem những thuốc trừ sâu quan trọng nhất
nào đã được bán cho những nhà trồng cây cam quýt đòa phương.

Những thông tin thu thập được từ những cuộc phỏng vấn này đã bổ sung cho những
thông tin chi tiết thu lượm được từ mỗi người nông dân tham dự trong những cuộc
điều tra trước và sau khi tham dự chương trình . Những mục tiêu chủ yếu của các
cuộc phỏng vấn này là:
* Nhận được một bản mô tả ngắn gọn về kỹ thuật trồng cây cam quýt hiện
tại ở các nơi được khảo sát
* Những cuộc thực hành về phun thuốc và sử dụng thuốc trừ sâu.
* Xác đònh xem nếu các chiến lược IPM dựa trên dầu khoáng (mục tiêu
chính của dự án ACIAR CS2/2000/043) và imidacloprid (mục tiêu chính của
chương trình nghiên cứu CIRAD) có dễ dàng áp dụng cho những người nông dân
với hoàn cảnh kinh tế của họ.
* Xác đònh những khoảng trống trong kiến thức của nông dân để có thể đưa
những đề tài này vào FFS.

Những phát hiện


cao hơn và đất có thể chòu đựng được cũng như quan điểm về quản ly ùnhững bệnh
hại trong đất. Từ khảo sát của chúng tôi, các tiểu nông với mảnh đất chỉ vài ngàn
mét vuông có khuynh hướng trồng cây với mật độ cao hơn, trong khi những nông
dân có từ một hecta đất trở lên lại có khuynh hướng trồng cây ít dày hơn. Thu nhập
thuần của những đại gia được xem là do những yếu tố khác chứ không phải là do
mật độ cây dầy hơn, chẳn hạn như bón phân nhiều hơn, kiểm soát được dòch bệnh
tốt hơn, sử dụng bình xòt máy và cây giống sạch bệnh. Những vấn đề có tính khoa
học cần phải được trả lời trong tương lai là nên có những mật độ cây trồng tốí ưu
khác nhau liên quan đến diện tích đất nông trại hay không.

Để tạo thuận tiện cho việc tranh luận về mật độ cây trồng tối ưu, những chuyến
tham quan bằng xe buýt đã được tổ chức cho các thành viên FFS từ tất cả các tỉnh
mà áp dụng việc trồng cây với mật độ cao đi đến tỉnh Đồng Tháp để học tập và
trao đổi kinh nghiệm với những nông dân trồng cây với mật độ thấp hơn.

Những sâu bệnh quan trọng nhất

Các nông dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận dạng sâu bệnh, và trong
nhiều trường hợp, lại không thể phân biệt được những thiệt hại gây ra bởi sâu hoặc
bệnh hay đã can thiệp quá trễ khi có sâu hay bệnh tấn công chẳn hạn như đối với
sâu vẽ bùa. Đôi khi họ cũng phun những loại thuốc trừ sâu khi không cần thiết lắm
để phòng trò những côn trùng mà họ phát hiện được nhưng không gây thiệt hại về
kinh tế ví dụ như đối với rầy mềm.

Tất cả nông dân trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đều cho rằng loài rệp sáp ở
rễ cây là vấn đề chính (Bảng 3). Loại rệp sáp này trước đây là loài dòch hại không
quan trọng vì chúng được kiểm soát một cách tự nhiên khi cây bò ngập nước. Việc
khống chế nước ngập khiến rệp sáp phát triển quanh năm và đến nay, nông dân đã
13
coi nó là một vấn đề nghiêm trọng. Loài rệp sáp này hiện chưa được đònh danh do


Tại tỉnh Nghệ An, những nông dân được phỏng vấn đều coi nhện hại và bệnh
Phytophthora là những vấn đề chính, nhưng bệnh huanglongbing được thấy là trầm
trọng và phổ biến hơn bất kỳ tỉnh nào được khảo sát. Nông dân biết rằng rầy chổng
cánh truyền bệnh huanglongbing, và việc sử dụng vật liệu trồng sạch bệnh thì
nhiều hơn ở các tỉnh phía Nam, nhưng có một quan niệm sai lầm rất lớn đó là chỉ
cần kiểm soát rầy chổng cánh vào đợt lộc mùa xuân (mà sẽ mang quả vào mùa thu
tiếp theo) là đủ. Thực ra, để ngăn ngừa bệnh huanglongbing, cần phải kiểm soát
rầy chổng cánh quanh năm. Điểm này sẽ được nhấn mạnh trong việc huấn luyện
vào năm thứ hai của dự án.

Bệnh phytophthora đã được thấy ở mỗi vùng và mỗi tỉnh mà chúng tôi đến khảo sát
và mặc dầu dường như đây cũng là một bệnh hại quan trọng như bệnh
14
huanglongbing, phần đông nông dân đã không biết gì về bệnh này. Việc tăng thêm
nhiều hiểu biết về bệnh này và tìm những phương pháp hiệu quả để khống chế
bệnh là rất cần thiết và phải được coi là một tiêu điểm trong việc huấn luyện của
năm 2006. Vì một dự án CARD mang mã số 05204VIE khác “quản lý bệnh
phytophthora cho nghề vườn tại Việt Nam” hiện đang được triển khai, ban điều
phối UWS đã làm việc với người điều phối dự án - Giáo Sư David Guest – người
Úc, để thảo luận về vấn đề bệnh phytophthora trên cây cam quýt. Những mối liên
kết đã được thực hiện giữa các dự án bằng cách liên hệ với các thành viên Việt
Nam tham dự trong dự án và ông Dương Minh thuộc Đại Học Cần Thơ hiện nay đã
tham dự 2 trong 3 cuộc hội thảo đánh giá kết quả cho dự án này vào tháng 11/2005.

Các loại thuốc trừ sâu nhìn chung không có sử dụng quá liều ở những vùng và
những tỉnh mà chúng tôi đã đến. Tuy nhiên thời gian phun thuốc và các loại thuốc
trừ sâu đã được sử dụng thì cần phải được đánh giá một cách khách quan . Tại tỉnh
Nghệ An, số lần phun thuốc có thể nên giảm đi, nhưng ở vùng duyên hải miền
Trung, số lần phun cần phải tăng thêm để việc kiểm soát sâu bệnh có hiệu quả hơn.

Nông dân cần có được nhiều kỹ năng hơn để nhận ra được sâu bệnh và sự liên hệ
giữa các loại sâu bệnh này với các giai đoạn phát triển của cây có múi. Trong năm
2005, các chiến lược IPM đã thử và giảng dạy dựa trên những giả đònh của các dự
án ACIAR CS2/2000/043 và CIRAD. Từ những phản hồi của nông dân và huấn
luyện viên đã đi đến kết luận rằng không có chiến lược nào có thể hoàn thiện được
trong kiểu canh tác và tình trạng kinh tế hiện tại của người nông dân vì những sự
thiếu thực tế và chi phí cao. Chiến lược mới được chấp nhận trong năm 2006 kết
hợp với những yếu tố của cả hai dự án, nhưng cũng phải dựa trên kiểu canh tác hiện
hành của nông dân vốn chấp nhận rằng bệnh huanglongbing không thể trừ tiệt
được, nhưng việc sản xuất vẫn có thể đạt được. Chiến lược mới thật giản đơn, tiếp
theo những chu kỳ ra chồi non và sẽ sử dụng một lần quết gốc bằng imidaclopid,
tiếp theo đó là hai lần phun dầu khoáng có nồng độ 0.25%. Những loại thuốc trừ
sâu khác sẽ được sử dụng khi cần, dựa trên những kết quả điều tra.
Việc phun thuốc bằng bình xòt tay đeo trên vai là chủ yếu còn việc sử dụng những
máy phun tự chế gồm có thêm một cái bơm dầu, một bình để trộn và một cái cần
dài gắn với một cái que và một miệng vòi hình nón rỗng có thể điều chỉnh được thì
rất hạn chế. Sự chấp nhận dùng bình xòt bằng máy thì chậm và có lẽ sẽ còn chậm
hơn trên các khu vườn có diện tích nhỏ vì người ta cho rằng chỉ cần một bình xòt
đeo trên vai là đủ và chỉ tốn có một người phun thuốc trong khi dùng máy phun
phải cần đến hai người. Chất lượng của bình xòt tay đeo trên vai cũng thay đổi tuỳ
loại và tiếc là chỉ có một số nhỏ người trồng trọt sử dụng những bình xòt tay bằng
kim loại có chất lượng tốt mà có thể cho áp suất đạt theo yêu cầu. Người dùng
những bình xòt rẻ tiền bằng nhựa thì rất là phổ biến. Những nổ lực nên làm đối với
dự án này là chỉ cho người nông dân hiểu được lợi ích của một bình phun thuốc chất
lượng cao.
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status