Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
viện bảo vệ thực vật báo cáo tổng kết đề tài kh&cn cấp nhà nớc
nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý
dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giảI pháp
nông học để nâng cao năng suất cà phê
bền vững ở đắklắk
chủ nhiệm đề tài: phạm thị vợng
góp trên 60% GDP của tỉnh và trên 1/4 số dân trong tỉnh sống nhờ vào cây cà phê.
Ngành cà phê Việt Nam nói chung, Đaklak nói riêng đang đứng trớc các thử thách là
suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế nh: chất lợng sản phẩm chế
biến còn nhiều điểm bị khách hàng chê trách. Giá bán cà phê của Đaklak thờng thấp
hơn từ 50-150 USD/tấn so với sản phẩm cùng loại của các n
ớc khác. Theo tổ chức cà
phê thế giới (ICO) từ tháng 10/2006 đến 6/2007) cà phê bị loại thải trên thị trờng LIFE
là 958,667 bao trong đó 74 % là của Việt Nam (Ne
stor Osorio-Giám đốc điều hành-
ICO- hội thảo triển vọng thị trờng cà phê Việt Nam-26-27/3/2008 tại Hà Nội). Những
lý do dẫn đến yếu kém nêu trên là: diện tích cà phê phát triển với tốc độ quá nhanh
trong khi cơ sở phục vụ cho sản xuất cha phát triển một cách tơng xứng nh: các hoạt
động khoa học công nghệ bao gồm nghiên cứu về giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực
vật, đến các cơ sở hạ tầng. Ngoài ra do mở rộng diện tích cà phê nhanh chóng đã đa
đến nạn phá rừng, khai thác nguồn nớc ngầm và nớc mặt một cách bừa bãi dẫn đến
cạn kiệt các nguồn tài nguyên, giảm dần độ che phủ thực vật, dẫn đến suy thoái môi
trờng, các yếu tố khí hậu, đất đai thay đổi theo chiều hớng bất lợi cho sản xuất nông
nghiệp nh hạn hán, lũ lụt, ngoài ra các dịch hại trên cà phê phát triển nhanh, với nhiều
chủng loài, mức độ và tỷ lệ gây hại ngày càng lớn. Để phòng chống dịch hại, ngời
trồng cà phê chủ yếu vẫn dựa vào thuốc hoá học, liều lợng và số lần phun năm sau cao
hơn năm trớc, việc làm đó đã dẫn đến nhiều vấn đề mới nẩy sinh, rất phức tạp và
không thể giải quyết đợc, nh nhiễm độc môi trờng, nhiều loại sâu hại mới phát triển
tái phát với mức độ trầm trọng hơn sau một thời gian sử dụng thuốc hoá học. Chỉ tính
riêng vùng cà phê ĐakLak hàng năm có hàng chục ngàn ha bị hại do rệp sáp, gỉ sắt,
tuyến trùng, đục thân mức hại từ trung bình đến nặng.
2
Trong các dịch hại quan trọng cho cà phê tại Đăk Lăk từ 1998 đến nay là do
tập đoàn rệp sáp: Rệp sáp hại tất cả các bộ phận trên mặt đất và dới mặt đất của cây
3
Chơng I
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nớc
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nớc
Cà phê là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, là một mặt hàng thơng mại quan
trọng ở trên thị trờng quốc tế. Nếu so sánh với những mặt hàng đợc buôn bán nhiều
nhất thì mặt hàng cà phê chỉ đứng sau sản phẩm dầu hoả. Theo tài liệu của Tổ chức Cà
phê Quốc tế (ICO) trên thế giới hiện nay có khoảng 80 nớc trồng cà phê với tổng diện
tích trên 10 triệu ha và giá trị hàng hoá xuất khẩu hàng năm khoảng 55 tỷ đô la. Ngày
nay có tới hàng trăm triệu ngời trên thế giới uống cà phê, và ở các nớc trồng cà phê
đã sử dụng tới 20 triệu ngời lao động.
+ Cà phê vối (Coffea canephora): từ Tây Phi và Madagascar đa sang Nam Mỹ và
Amsterdam vào năm 1899. Sau đó từ Amsterdam (Hà Lan) đa sang Java vào năm
1900 và sau đó từ Java lại trở về châu phi vào năm 1912. Cà phê vối có chiều cao từ 8-
12 m, nhiều thân, ít cành thứ cấp. Cà phê vối Coffea canephora var. robusta là giống
đợc trồng nhiều nhất, chiếm trên 90% diện tích cà phê vối trên thế giới. Các nớc
trồng nhiều cà phê vối gồm có Camaroon, Côte dIvoire. Uganda, Madagascar, ấn Độ,
Indonexia, Philippines, Brazil Tại Việt Nam giống cà phê vối Coffea canephora var.
robusta đợc trồng trên 95% diện tích.
+ Cà phê chè (Coffea arabica): từ Ethiopia đem đến Yêmen sang Java (1690) đến
Amsterdam năm 1706, sang Trung Mỹ năm 1724, đến Colombia năm 1724. Cà phê chè
có nhiều giống nh Typica, Bourbon, Caturra (Brazil, Colombia), Mundo Novo (Brazil),
Tica (Trung Mỹ), giống lùn San Ramon và giống Blue Mountain ở Jamaica.
Cà phê chè và cà phê vối là hai giống quan trọng nhất về mặt kinh tế, chiếm trên
90% sản lợng cà phê toàn thế giới. Ngoài ra còn 2 loài cà phê khác đợc trồng với quy
mô nhỏ hơn là Coffea liberica Bull var liberica (đợc gọi là cà phê dâu da) và Coffea
deweira var Excelsa ( đợc gọi là cà phê mít).
- Sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới: căn cứ vào loại cà phê xuất khẩu ICO
đã chia các nớc sản xuất cà phê thành các nhóm: nhóm sản xuất cà phê Arabica, nhóm
sản xuất cà phê Robusta. Tuy nhiên cũng có nớc thuộc nhóm Arabica cũng sản xuất
năm, sản lợng đạt 409 000 tấn vào 2010. Việt Nam, theo dự tính diện tích trồng cà phê
hàng năm tăng 2,0% và
ớc tính sản lợng đạt 561. 000 tấn vào năm 2010.
Có thể thấy sản lợng cà phê thế giới phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết khí
hậu, các diễn biến khí hậu bất thờng nh hạn hán, ma bão, sơng muối ảnh hởng
rất lớn không những đến sản lợng cà phê ngay ở vụ đó mà còn ảnh hởng đến viễn
cảnh của sản xuất cà phê. Khu vực Châu á - Thái Bình Dơng bị hạn hán nghiêm trọng,
đáng kể là Indonesia, Papua New Guinea và Philippines. Nắng hạn đã gây ra nhiều vụ
cháy rừng, huỷ hoại môi trờng. Nhiều diện tích cà phê đã bị ca bỏ, trong đó Việt
Nam đã từng chịu ảnh hởng nghiêm trọng do thời tiết hạn hán gây ra cho cà phê.
Ngoài ra ma lớn cũng gây tổn thất cà phê, nhất là vào giai đoạn thu hoạch và chế biến.
Phân bón: cà phê là loại cây lâu năm, vì vậy việc bón phân không chỉ để nuôi quả
mà còn để tại cành lá dự trữ cho năm sau. Tại ấn Độ lợng phân bón bình quân cho 1 ha
có năng suất dới 1 tấn là 80kg N, 60 kg P2O5, 80 kg K2O và trên 1 tấn cần là 120 kg
N, 90 kg P2O5, 120 kg K2O ( Bheemaiah, 1992). Cũng theo tác giả cho biết, lợng dinh
dỡng lấy đi từ sản phẩm thu hoạch chỉ bằng 1/3 tổng số dinh dỡng mà cây cần để nuôi
quả và bộ khung tán.
Nớc tới: caramori (1996) đã thông báo kết quả thực nghiệm từ 1957-1961 tại
Ruiru, Kenya, tổng lợng nớc tới cho cà phê trong 4 năm (không kể năm 1958) là
5
1900 mm. Nhờ vậy tổng sản lợng cà phê tăng 370kg/ha (tăng 12%), trung bình mỗi
năm tăng 0,77kg/ha trên 1 mm nớc tới.
Gathaara và Kiara (1988) đã thông báo kết quả thực nghiệm từ 1984-1987 cho việc tới
nớc cho cà phê ở vùng Ruiri, Kenya thấy rằng nếu cà phê đợc tới nớc trong suốt hai
mùa khô đã làm sản lợng cà phê hạt tăng, cũng nh tăng chất lợng cà phê loại A lên
đáng kể từ 30-43%. Ngoài ra tác giả còn khuyến cáo là lợng nớc tới nên là 38 mm
chu kỳ tới là 21 ngày. Còn Akunda và Kuma (1981) đề nghị quyết định thời điểm tới
dựa vào lúc giấy clorua coban khô chuyển từ màu xanh sang màu hồng khi áp tờ giấy
vào mặt lá từ 4-5 phút lúc giữa tra nắng ở Kenya. Lợng nớc tới trong lá có khoảng
6
vờn là Kent, do vậy ngời ta gọi là cây cà phê Kent. Cây cà phê Kent sau đó đã đợc
gửi tới ấn Độ, Đông á, và nhiều khu vực khác nơi mà nấm Hemileia vastatrix gây hại
nặng. Các cây cà phê thuộc loài cà phê Kent có thể chống chịu với nấm gỉ sắt rất tốt.
Bệnh đốm lá do nấm: bệnh này làm chết cây nhanh hơn bệnh gỉ sắt. Lá rụng, héo úa
và tách rời. Bệnh phổ biến ở châu Mỹ. Nhiều vùng ở Mehico, Guatelama, Costa Rica,
Colombia và Brazil có những vờn cà phê bị xoá sổ bởi loài bệnh này. Bệnh đốm lá do
nấm gây hại cả trên các cây trồng khác nh cacao, cam quýt, chúng chỉ hại cà phê chè
arabica. Phơng pháp hiệu quả trừ bệnh đốm lá là sử dụng Perenox, Captan, pha chế với
7 kg sunphat đồng, 7 kg vôi, và khoảng 140 lít nớc phun mù để ngăn chặn bệnh.
Bệnh trên quả : bệnh do nấm Colletotrichum coffeanum loài nấm này thuộc giống
Colletotrichum và đợc coi nh là nòi hoạt động tích cực so với hai loài nấm trên.
Nấm Colletotrichum coffeanum chỉ gây hại trên quả. Bệnh gây hại ở nhiều thời
điểm khác nhau, khi nấm Colletotrichum coffeanum tấn công vào những mô màu xanh
ở giai đoạn bắt đầu hình thành quả và xâm nhập vào bên trong quả gây hại hạt. Bệnh
gây hại nghiêm trọng ở Kenya và Congo. Các giống cà phê nh Jamaican Blue
Mountain có khả năng chống chịu với bệnh tốt. Phòng trừ bệnh bằng phun Perenox và
những thuốc trừ nấm có chứa đồng khác phun 4 lần trong 1 năm.
Bệnh héo Tracheomycosis: bệnh do nấm Fusarium xylorioides. Đây là bệnh do vi
sinh vật gây ra, chúng ở trong đất và xâm nhập vào các vết thơng ở tầng thấp hoặc ở
dới rễ. Bệnh lan qua thân vào các sợi mạch. Triệu chứng của bệnh là làm vàng và
rụng lá. Bệnh thờng gây hại cây cà phê ở các vùng đất khô và ấm ở các khu vực gần
xích đạo Châu Phi. Bệnh tấn công cà phê vối robusta và làm xoá sổ hàng vạn ha cà phê
ở các vùng nói trên.
Sâu hại chính trên cà phê
-Tuyến trùng (TT) hại cà phê: đây là loài dịch hại nguy hiểm trên cà phê của nhiều
nớc trên thế giới. Chiến lợc quản lý tuyến trùng là làm giảm quần thể tuyến trùng
dới mức có thể gây ra thiệt hại, các biện pháp cần áp dụng nh sau
Trớc trồng
: điều tra định kỳ để phát hiện kịp thời, xác định sự phân bố và sự nghiêm
trọng của những triệu chứng làm suy giảm năng suất.
Biện pháp canh tác
Tránh việc tới nớc và bón phân quá nhiều trên những khu ruộng bị nhiễm bệnh và
TT nặng. Tới nớc quá nhiều sẽ làm tăng nốt sng và giúp cho TT sinh sản mạnh hơn
và cũng làm tăng cờng sự di chuyển của chúng trong đất. Vờn cà phê cần có hệ thống
thoát nớc để tránh xói mòn và sự di chuyển của TT trên vờn.
Thờng xuyên phân tích mẫu đất và mô lá để đánh giá tình trạng dinh dỡng đất.
Những cây cà phê bị hại do TT điển hình là những cây bị mất cân bằng về dinh dỡng.
Để đất hoang tới tận khi mật độ quần thể TT dới mức gây ra những thiệt hại có thể
xác định đợc. Một số thao tác giúp làm giảm quần thể TT một cách nhanh chóng đó
là:
ắ Không để cỏ dại mọc
ắ Tạo điều kiện để đẩy nhanh sự phân huỷ của rễ cà phê
ắ Lấy mẫu để xác định quần thể TT
- Sâu đục lá cà phê: thờng xuất hiện vào lúc thời tiết khô, có đỉnh cao vào tháng 1-2
và nghiêm trọng hơn là vào tháng 6-7 ở Puerto Rico. Sâu đục lá hại đã tạo ra các vết
thơng ngoằn nghèo trên lá, lá bị hại sớm bị rụng. Nếu sâu đục lá không đợc phòng
trừ đúng sẽ làm giảm 50% khả năng quang hợp, làm giảm đáng kể trọng lợng của
8
cành (70%), rễ (60%). Sâu non ăn phần thịt lá tạo ra những đốm nâu và làm giảm năng
suất cà phê nghiêm trọng.
- Rệp sáp: các nghiên cứu về rệp sáp và rệp sáp mềm hại cà phê trên thế giới cho thấy,
loài rệp sáp xanh (Coccus viridis), Rệp hình bán cầu (Saissetia coffeae), rệp sáp
(Plannococcus sp.) thờng gây hại nặng vào mùa khô trên cả vờn ơm, cây nhỏ và cây
đã lớn. Rệp hại làm cho lá vàng, rụng và làm chết cây.
Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng nh sau:
chúng sống thành quần tụ ở mặt dới của lá, cành và thân. Quần thể lớn làm cho cây
của các vùng này phải phù hợp cho việc thiết lập quần thể những loài nhập nội và bất cứ
loại thuốc hoá học nào đợc sử dụng phải ít ảnh hởng tới chúng.
Chơng trình PTTH sâu đục quả cà phê đợc tài trợ bởi tổ chức cà phê quốc tế ở
Mỹ Latin, ấn Độ và Caribe với mục đích là kết hợp và đa vào những ong ký sinh của
sâu đục quả cà phê từ các nớc Tây phi với việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học, các
biện pháp canh tác có hiệu quả và sử dụng thuốc trừ sâu chọn lọc khi cần thiết. Việc tập
huấn nông dân về lựa chọn và thích nghi với những phơng pháp này là rất cần thiết để
tiến hành chơng trình.
- Chiến lợc bảo tồn
Chiến lợc tiếp theo là việc bảo tồn những loài có ích đã có trong tự nhiên
(KTTN). Thuốc trừ sâu chỉ sử dụng nh là liệu pháp cuối cùng khi mà các biện pháp
khác không thu đợc kết quả cần thiết, tuy nhiên khi sử dụng thuốc trừ sâu, cần sử dụng
ở mức tối thiểu, có hiệu quả và đúng đối tợng. Ngoài ra cần sử dụng các loại thuốc trừ
sâu sinh học an toàn cho các loài có ích trong tự nhiên.
Thuốc hoá học cũng có thể đợc dùng hiệu quả hơn nhờ phơng pháp sử dụng
chúng. Một ví dụ điển hình là sử lý đoạn thân cà phê ở dới để trừ kiến. Hầu hết kiến là
những loài bắt mồi quan trọng, song có những loài nhất định nh loài Pheidole
punctulata, chúng sử dụng chất thải của rệp làm thức ăn và bảo vệ rệp khỏi nhiều
KTTN. Vì vậy, trừ kiến là một phần trong công tác phòng trừ rệp hại.
- Chiến lợc nhân số lợng thiên địch
Biện pháp này là chủ động thúc đẩy quần thể KTTN vốn đã có trong hệ sinh thái
nhng cha thể ngăn chặn dich hại đạt tới mức thiệt hại kinh tế. Tại Colombia, ngời
dân đã phun chế phẩm nấm Beauveria bassiana để nhiễm và tiêu diệt sâu đục quả cà
phê lên vờn cà phê để làm tăng cờng sự có mặt của chúng trong môi trờng tự nhiên.
b) Phòng trừ bằng biện pháp canh tác
Có một vài biện pháp canh tác cụ thể cho từng loài sâu hại. Đối với sâu hại quan
trọng là sâu đục quả cà phê, do loài sâu này có thể sống sót từ vụ này sang vụ khác ở
trong quả cà phê rơi xuống đất hoặc quả còn sót trên cây. Vì vậy một biện pháp quan
trọng là vệ sinh, nhặt bỏ những quả chín, quả khô ở dới đất và ở trên cây vào cuối mỗi
vụ.
những bớc khởi đầu rầm rộ, chủ yếu là tại địa bàn hai tỉnh Đăklăk và Gia lai, Kontum
ở Tây Nguyên. Vào thời gian này cả nớc mới chỉ có không đầy 20 ngàn hécta phát
triển kém, năng suất thấp, với sản lợng chỉ khoảng 4.000-5.000 tấn. Đến năm 2000 cả
nớc đã có 500.000ha cà phê hầu hết sinh trởng khoẻ, năng suất cao, tổng sản lợng
đạt tới 80 vạn tấn. Những con số đó vợt xa tất cả mọi suy nghĩ, mọi mục tiêu chiến
lợc của ngành. Sau 32 năm ngành cà phê từ chỗ chỉ có trên dới 20 ngàn hecta với sản
lợng khoảng 5000 tấn, đến cuối thế kỷ XX cả nớc đã có trên nửa triệu hecta sản
lợng vụ cao nhất gần 1 triệu tấn (Đoàn Triệu Nhạn, 2004). Đặc biệt, năm 2006 cà phê
Việt Nam đã có bớc tăng trởng rất đáng kể về kim ngạch xuất khu (hn 1,1 t USD)
và tr thành mt hàng nông sản chủ lực có lợi thế cnh tranh trong nhóm hàng nông sản
xuất khẩu của Việt Nam. Thành tựu đó đợc ngành cà phê thế giới ca ngợi và chúng ta
đã từng tự hào vì nó. Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây do kích thích mạnh mẽ của giá
cả thị trờng, cà phê đã từng mang lại cho các nhà sản xuất lợi nhuận siêu ngạch. Tình
hình phát triển cà phê đã ra khỏi tầm kiểm soát của ngành cũng nh của Nhà nớc,
chính vì sự tăng trởng nhanh chóng với mức độ lớn đã dẫn đến một số tác động xấu
đến sản xuất cụ thể là: một số năm giá cả xuống thấp, các tài nguyên đất và nớc bị
11
khai thác cạn kiệt, sâu bệnh phát triển đa dạng, tàn phá trên diện rộng nh rệp sáp,
tuyến trùng, gỉ sắt, rệp sáp và gần đây lại là ve sầu.
Chúng ta cùng nhìn nhận những mặt mạnh và những vấn đề khó khăn mà sản xuất
cà phê tại Tây Nguyên hiện nay đang phải đối mặt
Kỹ thuật thâm canh cây cà phê: theo TS. Lê Ngọc Báu, phó Viện trởng Viện
Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, biện pháp tới nớc cho cây cà phê
đã trở thành yếu tố quan trọng trong việc hình thành năng suất kỷ lục của ngành cà phê
Việt Nam. Với năng suất cà phê bình quân khoảng 1,7 tấn/ha, Việt Nam đợc xếp vào
loại cao nhất thế giới (năng suất bình quân của các nớc trồng cà phê thấp hơn 0,7
tấn/ha). Do đó, nhiều nông dân trồng cà phê có khuynh hớng sử dụng một lợng nớc
cao hơn nhiều so với nhu cầu của cây, điều này không những gây lãng phí mà còn làm
mất chất dinh dỡng cần thiết cho cây trồng. Việc sử dụng quá mức lợng phân bón tại
sinh trởng, phát triển tốt và cần bổ sung từ 30- 60 kg S/ha/năm bằng cách dùng phân
ammonnium sulfate (SA).
Việc sử dụng phân chuồng làm tăng năng suất cà phê vối Tây Nguyên, cụ thể là
tác giả Trơng Hồng (1999) cho biết, khi bón bổ sung 20 tấn phân chuồng/ha theo chu
kỳ 3 năm 1 lần có tác dụng nâng cao năng suất trên 15% và có hiệu quả kinh tế cao hơn
so với đối chứng không bón.
12
Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Viện KHKTNLN Tây Nguyên thì lợng
phân hoá học bón theo tỷ lệ 3,2 : 1 : 3,5 tức là 448 kg N, 200 kg SA, 465 kg P
2
O
5
và
455 kg K
2
O đã cho hiệu quả sử dụng phân bón là cao nhất. (Hoàng Thanh Tiệm, 2004).
Theo Trình Công T (1999) cho biết tổ hợp phân khoáng có tác dụng cho sinh
trởng phát triển và năng suất của cà phê vối trên đất đỏ Bazan Tây Nguyên là 400 kg
N, 150 kg P
2
O
5
, 400 kg K
2
O cho 1 ha và đạt năng suất là 3,71 tấn/ha.
Về giống và phơng pháp thu hái:
theo kết quả đánh giá của TS. Hoàng Thanh Tiệm
chủ nhiệm đề tài áp dụng TBKHCN nhằm nâng cao năng suất, chất lợng cà phê
vối của tỉnh Đaklak năm 2004 cho biết: khâu yếu nhất trong ngành cà phê Việt Nam
13
tợng thờng xuyên có mật độ cao và mức độ gây hại kinh tế quan trọng trên vờn cà
phê đó là; sâu đục thân, sâu tiện vỏ, mọt đục quả và tập đoàn rệp sáp.
Nguyễn Huy Phát (2000) khi nghiên cứu về sâu hại cà phê và kẻ thù tự nhiên tại
Đaklak, tác giả cho biết, thành phần sâu hại cà phê tại Buôn Ma Thuột có 16 loài sâu
hại thuộc 12 họ và 4 bộ côn trùng. Trong đó các sâu hại nghiêm trọng là rệp sáp mềm
xanh, rệp sáp hại quả , mọt đục cành. Các loài kẻ thù tự nhiên của sâu hại cà phê gồm
có bọ rùa hồng, bọ rùa nhỏ, bọ mắt vàng.
Theo TS. Trần Thị Kim Loang cho biết có nhiều nhóm sâu và bệnh hại. Một số
sâu hại chính nh rệp hại thân, lá, quả và rễ cà phê, mọt đục cành, đục quả Cũng theo
tác giả tại hội nghị Khoa Học Công Nghệ Cây Trồng của Bộ NN&PTNT tổ chức vào
ngày 10-11/3/2005 tại Hà nội, cho biết cà phê vối tại Đaklak bị nhiều loài bệnh gây hại
nghiêm trọng, trong đó bệnh vàng lá, thối rễ do tuyến trùng Pratylenchus coffeae gây
ra làm chết cây, không thể trồng lại sau khi cây đã chết. Tuy nhiên các biện pháp đã áp
dụng thành công là luân canh cây trồng, sau đó là biện pháp thu gom tàn d thực vật
trớc khi trồng mới. Biện pháp xử lý đất với vôi, đốt, và bón thuốc hoá học nh Viben
C 50 BTN hay Furadan 10H cho hiệu quả trong trờng hợp đã áp dụng tốt hai biện pháp
trên.
Bệnh vàng lá cà phê: hiện nay bệnh vàng lá cà phê là bệnh nguy hiểm cho hầu hết các
vùng trồng cà phê trong cả nớc, trong đó có vùng cà phê Đaklak. Bệnh do nhiều
nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân do sâu và do bệnh. Kết quả nghiên cứu của
Viện BVTV cho biết vàng lá cà phê do nấm, tuyến trùng, sâu và có nơi do thiếu dinh
dỡng và nớc tới Có tới 26 loài tuyến trùng và 6 loài nấm gây hại trên cà phê. Loài
tuyến trùng Meloidogyne, Pratylenchus là loài nguy hiểm cho cà phê. Các loài nấm nh
Fusarium, Pythium và Cylindrrocldium quan trọng cho cà phê. Trong một số trờng
hợp tuyến trùng Meloidogyne, Pratylenchus kết hợp với nấm Fusarium và với rệp sáp
để gây lên hiện tợng vàng lá cà phê. Để phòng trừ bệnh vàng lá cà phê cần một chiến
lợc tổng thể từ xác định đúng nguyên nhân gây vàng lá, đến khâu cung cấp đủ dinh
dỡng, nớc tới, luân xen canh cây trồng đến sử dụng một số loại thuốc hoá học khi
cần thiết.
0
C và có nắng ma xen kẽ. Theo
Nguyễn Thị Chắt thì rệp sáp a độ ẩm, vào mùa khô mật độ rệp sáp trên các đọt non, lá
quả giảm nhiều và di chuyển xuống dới gốc, ma ẩm chúng lại di chuyển lên.
Các loài rệp sáp giả và rệp sáp nâu mềm thờng phát sinh mạnh vào các tháng 7-9
hàng năm tại các tỉnh phía Bắc khi có nắng ma xen kẽ. (Phạm Thị Vợng và CTV,
2004).
Tình hình gây hại của rệp sáp: rệp sáp hại tất cả các bộ phận trên mặt đất và
dới mặt đất của cây cà phê. Chỉ tỉnh riêng vùng cà phê của Đaklak năm 2004 có
14.717 ha bị nhiễm rệp sáp trong đó có 2000 ha bị hại nặng. Theo thông tin từ bộ Nông
nghiệp &PTNT cho biết, các địa phơng của tỉnh Đaklak đã triển khai các biện pháp
phòng trừ rệp sáp, nhng hiệu quả thấp, rệp tái phát lại nhiều lần, có thể rệp đã nhờn
với thuốc hoá học. Khi rệp sáp hại cà phê ở cấp 4 (tức là trên 75% bộ phận của cây có
rệp) thì thiệt hại là 66,6% năng suất cà phê nhân (Phạm Thị Vợng và CTV, 2004).
Ngoài rệp sáp ra, các loài sâu đục thân, sâu gặm vỏ, sâu đục hạt, tuyến trùng, bệnh gỉ
sắt, bệnh khô cành khô quả cũng đang gây hại cho nhiều vùng cà phê chất lợng cao
trong cả nớc, cũng theo thông tin từ Bộ NN&PTNT cho biết năm 2004 hàng trăm ha
cà phê ở Đà Lạt đã chết trụi. Chỉ riêng xã Xuân Trờng có 1.200 ha cà phê chè thì có
đến 300 ha bị chết trắng và hơn 100 ha có nguy cơ phá bỏ do sâu đục thân gây hại.
Các biện pháp phòng trừ rệp sáp và sâu hại khác trên cà phê: rệp sáp phân bố rộng,
phổ biến trên các vờn cà phê trên thế giới cũng nh Việt Nam. Theo nghiên cứu của
Viện BVTV rệp xuất hiện và gây hại trên cà phê từ khi mới trồng, đỉnh cao trong năm
tháng 7- tháng 9 và gây hại trên tất cả các giống cà phê hiện trồng ở các tỉnh phía Bắc.
Rệp có nhiều cây ký chủ quan trọng hiện đang là cây trồng xen chủ lực của vờn cà phê
nh là đậu đỗ. Việc phòng trừ các loài rệp hiện gặp không ít khó khăn do chúng có
15
nhiều loài kiến sống cộng sinh, kiến bảo vệ rệp sáp khỏi thiên địch và giúp chúng phát
tán. Ngoài ra rệp sáp có lớp sáp bao bọc, do vậy các biện pháp phòng trừ thờng có
hiệu quả không cao.
vững. Hội nghị đã thảo luận về hành động và tạo cơ hội cho các chuyên gia có cái nhìn
thực tế hơn đối với khâu thực hành trong canh tác cà phê ở Việt Nam. Chính vì vậy
chơng trình 3 giảm, 3 tăng và 1 chống của ngành cà phê đã đợc thông qua nh sau
3 giảm: giảm đầu t phân hoá học; giảm nớc tới (30%); giảm thuốc trừ sâu.
3 tăng: tăng đầu t phân hữu cơ; tăng tạo hình tỉa cành tạo tán cho cà phê; tăng
bóng mát cho cà phê.
16
1 chống: chống hái quả xanh.
Tóm lại: cây cà phê là một trong những cây công nghiệp xuất khẩu chủ lực,
đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Ngành cà phê đã tham gia có
hiệu quả vào các chơng trình kinh tế xã hội của các tỉnh Tây Nguyên nh định canh
định c, xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, trong đó có
một phần đồng bào dân tộc và đóng góp một tỷ trọng nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu
hằng năm của đất nớc. Bên cạnh những thành công trên thì vấn đề sâu bệnh hại cà
phê là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ảnh hởng lớn đến năng suất, chất
lợng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. Những kết quả nổi bật của đề tài đang đợc áp
dụng có hiệu quả trên diện rộng, ổn định diện tích, năng suất, nâng cao chất lợng và
giảm lợng thuốc trừ sâu sử dụng
18
2.3.2.2. Thu thập và định loại thành phần rệp sáp hại cà phê, tình hình và mức độ gây
hại của chúng ở các vùng sinh thái.
2.3.2.3. Nghiên cứu xác định vai trò gây hại của các loài trong quần thể dịch hại cà phê
ở các hệ thống canh tác khác nhau tại Đak Lak.
2.3.2.4. Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, hình thái của những loài rệp sáp quan trọng
đặt cơ sở cho nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phòng trừ.
2.3.2.5. Nghiên cứu biến động quần thể của rệp sáp trong năm và qua các năm trong
mối liên quan với các điều kiện sinh thái khác nhau, từ đó tìm ra quy luật duy trì, phát
triển và bùng phát quần thể. Trên cơ sở đó đề xuất và chủ động triển khai biện pháp
quản lý chúng có hiệu quả cho sản xuất.
2.3.2.6. Xác định đợc thành phần ký chủ phụ của những loài rệp sáp quan trọng, từ đó
định hớng cho việc giới thiệu hoặc chọn lựa loại cây trồng luân xen canh phù hợp cho
sinh trởng phát triển cà phê, phục vụ mục tiêu 3 tăng, cũng nh hạn chế việc bùng
phát quần thể rệp sáp từ nguồn các loài cây ký chủ phụ.
2.3.2.7. Xác định thành phần ký sinh thiên địch của rệp sáp, vai trò tự nhiên của chúng
trong quản lý dịch hại và hớng sử dụng chúng trong việc điều khiển quần thể rệp sáp,
góp phần giảm thiệt hại và giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu.
2.3.3. Nghiên cứu ứng dụng thực tế các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
phòng trừ rệp sáp và các dịch hại quan trọng khác trên cà phê.
2.3.3.1. Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ rệp sáp bằng biện pháp sinh học.
2.3.3.2. Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ rệp sáp bằng biện pháp thủ công và biện pháp
canh tác.
2. 3.3.3. Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ rệp sáp bằng biện pháp hoá học phù hợp. (hiệu
quả cao, đúng chủng loại, ít độc, đúng lúc và đúng cách )
2.3.3.4. Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ các dịch hại quan trọng khác trên cà phê nh;
tuyến trùng, mọt hại quả, gỉ sắt bằng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp.
2.3.3.5.Từ kết quả nghiên cứu ứng dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
tổng kết thành quy trình áp dụng xây dựng mô hình trình diễn.
cà phê hiệu quả, bền vững.
- Mô hình sẽ áp dụng các biện pháp chăm sóc (tỉa cành, tạo tán) theo quy trình đã ban
hành của viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên.
2.3.6) Chuyển giao kết quả vào sản xuất
2.4. Phơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Nội dung 1
20
- Thu thập thông tin chung về tình hình sản xuất cà phê từ các kết quả điều tra
nghiên cứu của các cơ quan có liên quan tại Việt Nam.
- Điều tra điều kiện tự nhiên bằng phơng pháp thu thập tài liệu từ các cơ quan
địa phơng sau đó tổng hợp và xử lý các thông tin, kết hợp với điều tra thực tế tại các
vùng sản xuất cà phê trọng điểm trên địa bàn tỉnh.
- Điều tra thực trạng sản xuất theo phơng pháp phỏng vấn nông dân tại các
huyện có diện tích, sản lợng cà phê lớn nhất tại Đak Lak nh: Krông Pác, Krông Buk,
Krông Ana, CM gar và Thành phố Buôn Ma Thuật. Mỗi huyện điều tra 100-150 hộ.
- Điều tra thực trạng sản xuất cà phê tại một số vùng có đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống, mỗi vùng điều tra 10-15 hộ.
2.4.2. Nội dung 2
- Theo phơng pháp chuẩn của Viện BVTV đã tiến hành nghiên cứu cho các
dịch hại trên cây trồng nói chung, cho cà phê nói riêng trong nhiều năm qua, cả trong
phòng, nhà lới và ngoài thực địa sản xuất.
- Phơng pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài rệp sáp trên cà phê
theo phơng pháp nghiên cứu côn trùng của Viện bảo vệ thực vật và theo phơng pháp
của M. Kosztarab và F. Kozar, 1988.
- Thu thập, xử lý mẫu tiến hành theo qui trình D. J. Borror, D. M. Delong, C. A.
Triplehorn, 1981 và M. Kosztarab, F. Kozar, 1988.
- Các mẫu sâu bệnh hại thu đợc định loại nhờ các chuyên gia trong nớc và
nớc ngoài.
- Đánh giá mức độ gây hại theo thang 5 cấp:
. Thí nghiệm tới nớc
CT1: tới theo quy trình Viện KHKTNLN Tây Nguyên
CT2: tới theo nông dân
. Thí nghiệm phân bón
CT1: bón theo quy trình Viện KHKTNLN Tây Nguyên
CT2: theo tập quán của nông dân.
2.4.5. Nội dung 5
- Lựa chọn vùng trồng cà phê trọng điểm của Đaklak
22
- Lựa chọn vùng bị hại do rệp sáp nghiêm trọng trong các năm qua.
- Lựa chọn các vùng sản xuất cà phê hiệu quả thấp.
Mỗi mô hình là 1- 2 ha.
Vờn xây dựng mô hình thực nghiệm diện hẹp và trình diễn thực hiện trên những
vờn đã có sẵn của các hộ nông dân và là vùng có dịch rệp sáp hại nặng trong thời gian
qua: CMga, Krông Pák và thành phố Buôn Mê Thuột.
- Vờn đang trồng các giống phổ biến ngoài sản xuất. Giống có chất lợng cao,
có thị trờng tiêu thụ, có tiềm năng xuất khẩu.
- áp dụng đồng bộ tất cả các kết quả thích hợp nhất rút ra từ những nghiên cứu,
thực nghiệm của đề tài và kết hợp với nghiên cứu tổng quan trong nớc, nớc ngoài.
- áp dụng quy trình bón phân hiệu quả nhất theo kết quả của đề tài áp dụng tiến
bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lợng cà phê vối của tỉnh
Đak lak do TS. Hoàng Thanh Tiệm của Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên
(Viện KHKTNL Tây Nguyên) thực hiện kết thúc vào năm 2004.
- Cải tạo vờn cà phê bằng việc trồng bổ sung cây che tán, cây trồng xen hiệu quả
và giảm rệp hại theo kết quả nghiên cứu của đề tài.
-áp dụng quy trình đốn tỉa hàng năm của Viện KHKTNLN Tây Nguyên để duy trì
năng suất và chất lợng và sinh trởng của cây.
- áp dụng quy trình giữ độ ẩm và tới nớc tối u theo kết quả nghiên cứu của đề
tài.
3 Nùng 3,94
4 Mơ Nông 3,4
5 Tày 3,12
6 Thái 1,08
7 Mông 0,99
8 Dao 0,92
9 Mờng 0,67
10 Gia Rai 0,66
11 Xơ Đăng 0,32
12 Ma 0,3
13 Hoa 0,27
14 Sán chay 0,19
15 Vân Kiều 0,15
16 Các dân tộc thiểu số khác 0,55
(Theo số liệu thống kê năm 2002 của Uỷ ban dân tộc tỉnh)
3.1.2. Điều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất cà phê tại Đak lak
3.12.1. Điều kiện tự nhiên24
Đak Lak nằm ở độ cao 600 - 650m so với mực nớc biển, phía Bắc giáp với Gia
Lai, phía Nam giáp với Lâm Đồng, phía Đông giáp với Khánh Hoà và phía Tây giáp với
Cam Pu Chia, hệ thống giao thông phát triển. Do vậy việc giao thơng với các tỉnh nhìn
chung thuận lợi. Đak Lak là một tỉnh có vị trí chiến lợc đặc biệt quan trọng về quốc
phòng và an ninh, về kinh tế và môi trờng sinh thái. Chính vì vậy, Nhà nớc quan tâm
và đầu t phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng, vật chất và con ngời để dần xây dựng Đak
Lak trở thành trung tâm kinh tế lớn mạnh của khu vực Tây Nguyên và của cả nớc.
Điều kiện khí hậu: Một năm có 2 mùa rõ rệt; mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau) và mùa ma (đầu tháng 5 đến hết tháng 11). Tổng nhiệt độ hàng năm khoảng
8.500 8.800
1999
180,294 20,37 240,082
2000
181,319 18,38 296,719
2001
180,992 19,2 348,289
2002
167,214 19,4 325,408
2003
166,619 17,0 284,349
2004
165,100 21,97 360,000
2005
170,403 19,9 330.600
2006
174,740 25,57 435.025
2007
178.903 19,03 325.344
( Theo số liệu thống ke của chi cục BVTV tỉnh Đắk Lắk)