QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN TỚI
3.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
3.1.1. Các quan điểm cơ bản
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng nghĩa với việc phát triển toàn
diện con người.
Phát triển toàn diện con người là phát triển hài hòa, cân đối trí lực, thể
lực, đức và tài; phát triển cá tính, sự phong phú của con người một cách tự do,
đầy đủ và làm chủ, thích ứng với sự di động chức năng của con người. Xuất
phát từ tư tưởng này, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã
khẳng định: “ ... xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí
kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt
Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri
thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực
hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe,
là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “ hồng” vừa “ chuyên”
như lời căn dặn của Bác Hồ”. Đây chính là mục tiêu phát triển toàn diện con
người Việt Nam. Giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt
Nam diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế kinh tế tri thức đang dần
trở thành hiện thực ở một số nước trên thế giới làm thay đổi các quan niệm
truyền thống trong nhiều lĩnh vực là một thách thức rất lớn. Điều này đòi hỏi
phải nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với phát triển toàn
1
diện con người vì đây là nhân tố quyết định hàng đầu đối với sự phát triển
kinh tế – xã hội, chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tránh được nguy
cơ tụt hậu.
Hệ thống GD-ĐT giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng
công nghệ mới để phát triển đất nước. Các trường đại học, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề là nơi cung cấp dịch vụ tư vấn, ứng dụng và triển khai
tiến bộ khoa học công nghệ vào đời sống. Chú ý đến chất lượng và hiệu quả
đào tạo là góp phần tiết kiệm chi phí mà vẫn tạo ra đội ngũ lao động khoa học
– công nghệ và quản lý trình độ cao phục vụ phát triển kinh tế, khoa học –
công nghệ và an ninh, quốc phòng của đất nước.
3.1.2. Phương hướng trong giai đoạn hiện nay
Phương hướng chủ yếu trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe.
Những phân tích thực trạng và nguyên nhân tác động cho thấy vấn đề
đặt ra đối với sức khỏe của nguồn nhân lực và hệ thống y tế ở Việt Nam. Do
vậy phương hướng trong giai đoạn hiện nay là khắc phục những hạn chế này,
góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Thứ nhất, cải thiện điều kiện dinh dưỡng thông qua nâng cao mức sống
của người dân. Để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng được các yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc nâng cao sức khỏe
trong đó yếu tố nền tảng là cải thiện dinh dưỡng rất cần thiết và cấp bách. Bên
cạnh các biện pháp can thiệp trực tiếp thì phương hướng quan trọng để thực
hiện điều đó là nâng cao mức sống của người dân bằng việc đảm bảo an ninh
3
lương thực quốc gia, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo và cải thiện cơ sở hạ tầng
như cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường.
Thứ hai, đổi mới hệ thống y tế theo hướng công bằng và hiệu quả.
Những thành tựu kinh tế đạt được nhờ quá trình đổi mới làm cho đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe tăng nhanh
cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, những thay đổi và xu hướng thực
tiễn trong ngành y tế thời gian qua bộc lộ nhiều hạn chế như tình trạng thiếu
công bằng trong cung cấp tài chính, khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức
khỏe ngày càng nghiêm trọng, hiệu quả kinh tế đạt được so với mục tiêu đã đề
ra rất hạn chế. Do đó cần phải đổi mới hệ thống y tế theo hướng công bằng và
hiệu quả để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân
phải có chính sách khuyến khích tạo điều kiện cho những học sinh giỏi, người
có năng lực được học tập thuận lợi ở tất cả các bậc học không bị chi phối bởi
khả năng tài chính cá nhân. Do vậy cần chú ý các biện pháp về tài chính, giáo
viên, huy động sự tham gia của địa phương, gia đình vào giáo dục nhằm thực
hiện tốt công bằng xã hội trong giáo dục.
Thứ ba, coi trọng hướng nghiệp, dạy nghề, tập trung vào mục tiêu nhân lực.
Phương hướng hiện nay là phải làm cho toàn bộ nền giáo dục thích ứng
với nhu cầu và đòi hỏi của sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước, giải quyết
tốt mối quan hệ giữa phát triển giáo dục theo kế hoạch và theo yêu cầu của thị
trường lao động. Do đó, hệ thống giáo dục cần coi trọng hướng nghiệp, dạy
nghề, tập trung vào mục tiêu nhân lực.
3.2. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
5
3.2.1. Đổi mới chính sách y tế
Như đã phân tích ở trên, do nhiều lý do chính sách y tế của Việt Nam
hiện nay còn khiếm khuyết, ảnh hưởng đến việc nâng cao sức khỏe của nguồn
nhân lực. Do vậy một nội dung quan trọng của việc đổi mới ngành y tế theo
hướng công bằng, hiệu quả là hoàn thiện và xây dựng chính sách phù hợp với
điều kiện kinh tế – xã hội, đáp ứng các yêu cầu phát triển.
Hoàn thiện chính sách tài chính cho công tác chăm sóc sức khỏe
Các chiến lược tài chính cho y tế là một trong những công cụ quan
trọng nhất để đạt được các mục tiêu đã đề ra về hiệu quả kinh tế, công bằng
trong cung cấp tài chính và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết
yếu theo nhu cầu. Dưới đây là những phân tích và đề xuất giải pháp cơ bản
hoàn thiện chính sách tài chính cho công tác chăm sóc sức khỏe trên các mặt:
Thứ nhất, các nguồn lực tài chính
Hiện tại kinh phí của hệ thống y tế công của Việt Nam được cung cấp
từ các nguồn chủ yếu là thuế ( ngân sách nhà nước ), bảo hiểm y tế bắt buộc,
viện phí và viện trợ nước ngoài. Trong đó thuế chiếm tỷ trọng lớn nhất
khoảng 60%, tiếp theo là bảo hiểm y tế trên 15% và viện phí, viện trợ đều trên
khía cạnh “ai là người phải trả” và “ ai là đối tượng có thể sử dụng các quĩ
huy động được”. Trái với hệ thống cấp tài chính qua thuế, giữa việc thanh
toán phí bảo hiểm và tiếp nhận dịch vụ có mối liên hệ trực tiếp. Có nghĩa là
thường chỉ những người mua bảo hiểm mới có thể được sử dụng các quĩ huy
động được qua hình thức bảo hiểm y tế bắt buộc. Do vậy như đã nêu ở
chương 2, hình thức này hiện nay trước hết là phục vụ cho cán bộ, công nhân
viên Nhà nước và người có biên chế tại các doanh nghiệp lớn. Những khả
7
năng phân bổ lại các quĩ này cho nhóm dân cư khác như nông dân nghèo là
rất hạn chế. Hiện nay, Nhà nước đã tìm cách giải quyết vấn đề trên bằng cách
cấp thẻ bảo hiểm y tế không mất tiền cho trên 4 triệu người nghèo. Hệ thống
cấp tài chính từ thuế này sẽ được mở rộng và phát triển. Theo hướng này, Nhà
nước có thể mở rộng hệ thống bảo hiểm y tế cho những đối tượng có điều
kiện kinh tế khó khăn như nông dân, người làm nghề phụ thông qua việc cấp
thẻ khám chữa bệnh bao cấp với một mức phí rất thấp. Lợi ích mà nhóm này
được hưởng là họ sẽ được hỗ trợ khoảng 70-75% mệnh giá. Điểm tốt của hình
thức này so với cơ chế viện phí trả trực tiếp là dựa vào các khoản thanh toán
định sẵn, do đó khuyến khích người dân tiết kiệm đủ số tiền cần thiết hơn là
khi cần sử dụng dịch vụ y tế thì buộc phải thanh toán các khoản phí sử dụng
dịch vụ không dự tính. Hơn nữa, hệ thống thẻ bảo hiểm y tế bao cấp phục vụ
cả người khỏe mạnh và ốm đau nên có khả năng chia sẻ rủi ro trong khi điều
này không thể có trong cơ chế phí dịch vụ thu trực tiếp. Xét ở khía cạnh kinh
phí thu được từ cá nhân thì hệ thống bảo hiểm y tế có bao cấp có khả năng
huy động được lượng kinh phí nhiều hơn hệ thống chi trả trực tiếp mà lại
tránh được các tác động tiêu cực như thiếu công bằng trong khả năng tiếp cận
và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng. Tuy nhiên áp dụng hình
thức có hai trở ngại là: (i) làm thế nào huy động được các quĩ công cần thiết;
và (ii) so với hệ thống y tế công được nhà nước trực tiếp cấp ngân sách thì nó
tương đối phức tạp và khó triển khai hơn do chỉ có người hay đau ốm mới
quan tâm đến việc mua bảo hiểm. Nói tóm lại, so với hệ thống cấp ngân sách
nhất định giữa hai bên cũng như xây dựng các chính sách để sử dụng viện trợ
nước ngoài một cách hữu hiệu nhất đạt được các mục tiêu chung trong chăm
sóc sức khỏe.
9
Thứ hai, phân bổ nguồn lực.
Trong các nguồn lực tài chính khác nhau thì chỉ có nguồn từ thuế là có
thể phân bổ lại giữa các vùng giàu và nghèo. Các quĩ huy động được từ bảo
hiểm y tế bắt buộc theo lý thuyết chỉ có thể phân bổ lại qua hình thức bao cấp
chéo nhưng cũng không thể thực hiện được trong tình trạng lúc nào cũng
thiếu ngân sách. Các quĩ thu được từ phí dịch vụ có thể được hỗ trợ cho việc
cung cấp dịch vụ y tế cho người nghèo ở tuyến cơ sở và trong chừng mực
nhất định ở tuyến huyện và tỉnh. Vì thế chỉ có nguồn thuế là có hiệu quả phân
bổ cao để giải quyết mức chênh lệch trong phân bổ ngân sách giữa các vùng.
Hiện nay hệ thống phân bổ ngân sách Nhà nước trên cơ sở đầu người và có
một phần theo yêu cầu biểu hiện bằng sức mua nên tạo ra sự ưu tiên cho các
tỉnh và khu vực kinh tế khá giả hơn như đã chỉ ra ở chương 2. Phân bổ theo
đầu người thực chất không công bằng do không phải mọi nhóm dân cư đều có
cùng nhu cầu sử dụng dịch vụ, tức là có cùng gánh nặng bệnh tật. Người
nghèo thường mắc bệnh nặng hơn và khả năng lành bệnh cũng lâu hơn do thể
trạng và điều kiện sống kém. Vì thế kiểu phân bổ theo đầu người sẽ càng mất
công bằng khi tình trạng thiếu công bằng xã hội và kinh tế nói chung gia tăng
trong xã hội. Do vậy việc phân bổ ngân sách nhà nước giữa các tỉnh cần phải
dựa vào đánh giá nhu cầu để đảm bảo sự đồng đều cho những nhu cầu tương
ứng. Phân bổ theo nhu cầu dựa trên dự tính bằng cách xem xét số dân sẽ được
phục vụ, gánh nặng bệnh tật mà các nhóm dân khác nhau phải gánh chịu cũng
như các điều kiện nhất định của từng địa phương như mật độ dân cư thấp làm
tăng đơn giá cho mỗi dịch vụ được cung cấp. Trong điều kiện hiện nay,
phương thức phân bổ nguồn lực nhà nước dựa trên nhu cầu sẽ được xây dựng
và áp dụng cần tính đến cả những quĩ huy động được qua hình thức bảo hiểm
y tế bắt buộc và phí dịch vụ.
viện theo hướng giảm thời gian giảm điều trị nội trú sang ngoại trú dựa trên
các kỹ thuật y tế hiện đại có ý nghĩa rất tích cực cả về khía cạnh y tế và tài
chính. Tuy nhiên, vì hiện nay số giường bệnh là một chỉ tiêu phân bổ ngân
sách nhà nước quan trọng nên điều quan trọng là phải xem xét lại phương
pháp này còn phù hợp hay không căn cứ vào công nghệ y học mới và nhu cầu
cấp thiết phải sử dụng các nguồn lực công khan hiếm cho y tế một cách hiệu
quả.
Thiếu kỹ năng quản lý, trong đó có cả những kiến thức cơ bản về kinh
tế y tế là đánh giá mà các chuyên gia của Bộ y tế đã chỉ ra là rất nghiêm trọng
so với các ngành công cộng khác vì hầu hết các vị trí quản lý then chốt đều do
các bác sĩ được đào tạo rất hạn chế hay không được đào tạo trong lĩnh vực
này nắm giữ. Do vậy việc đào tạo đội ngũ cán bộ y tế nắm giữ các vị trí quản
lý chắc chắn sẽ là giải pháp tốt với chi phí thấp mà hiệu quả đạt được cao.
Những phân tích và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính
nêu trên chắc chắn cần phải cần phải cân nhắc kỹ hơn dựa vào tình hình thực
tế về chính trị, kinh tế và xã hội nhằm khắc phục những tồn tại của hệ thống y
tế đang có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng nguồn nhân lực hiện nay.
Sử dụng chiến lược thúc đẩy sức khỏe để nâng cao sức khỏe cho người dân
Bên cạnh khám chữa bệnh thì việc nâng cao sức khỏe cho người dân
thông qua cung cấp tri thức bằng các chương trình truyền thông thường hay
được áp dụng. Các nghiên cứu đánh giá cho thấy ở Việt Nam những chương
trình như vậy không đem lại nhiều kết quả như mong muốn, do vậy việc vận
dụng những kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này là điều cần được xem xét.
Thúc đẩy sức khoẻ là một phương pháp có thể áp dụng cho nhiều vấn
đề sức khoẻ. Giống như các dịch vụ khám chữa bệnh tập trung vào ốm đau và
12
chẩn đoán các loại bệnh tật, thúc đẩy sức khoẻ tập trung vào sức khoẻ và cách
phòng bệnh. Phương pháp thúc đẩy sức khoẻ có thể được áp dụng vào tất cả
các lĩnh vực nếu không có sự tham gia của cộng đồng và hưởng ứng của từng
cá nhân thì không thể giải quyết được vấn đề như lối sống, môi trường, bệnh
Các Bộ, các cơ quan phải cùng làm việc để đảm bảo xây dựng những chương
trình phù hợp và có thể áp dụng được ở các ngành khách nhau và trong các
điều kiện khác nhau. Ví dụ tham gia vào chương trình chống hút thuốc lá
không chỉ có Bộ Y tế mà phải có các cơ quan khác như Bộ Công an, Bộ Tài
chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ
Văn hoá - Thông tin, Bộ Quốc phòng... cũng như các tổ chức phi Chính phủ
trong và ngoài nước.
Thứ hai, lồng ghép các chương trình dọc
Các chương trình thúc đẩy sức khoẻ có xu hướng chỉ chú trọng vào một
khía cạnh của công tác dự phòng, một loại bệnh, một hành vi nguy cơ, một
thông điệp. Thế nhưng các hành vi nguy cơ lại khu trú trong những hoàn cảnh
có nguy cơ. Phương pháp một vấn đề duy nhất (không đề cập đến các nguyên
nhân ngầm) sẽ trở nên có hiệu quả trong việc đưa một vấn đề quan trọng vào
chương trình nghị sự chính trị, nếu có phương pháp tốt để giành được sự ủng
hộ. Nó cũng có hiệu quả trong việc truyền tải những thông điệp đơn giản tới
đông đảo quần chúng. Tuy nhiên, các phương pháp một vấn đề rất hiếm khi
có hiệu quả đối với nhóm đối tượng khó khăn, những người thường có tình
trạng sức khoẻ kém nhất. Các hành vi, lối sống nguy hại khác nhau đều có
14