Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam - Pdf 76

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Nguồn lực con người nói chung và nguồn nhân lực, xét trên khía cạnh
độ tuổi lao động là nguồn lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội. Trên
phạm vi rộng hơn thì “ Con người đứng ở trung tâm của sự phát triển, là tác
nhân và là mục đích của sự phát triển” [48]. Nhận thức được vai trò của
nguồn nhân lực, Đại hội Đảng VIII đã khẳng định: “ Lấy việc phát huy nguồn
lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, “ nâng
cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam
là nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa”.
Mỗi một giai đoạn lịch sử, một trình độ phát triển đòi hỏi một nguồn
nhân lực phù hợp. Trong xu thế kinh tế tri thức và toàn cầu hoá, nguồn nhân
lực có sức khoẻ, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được coi là một
điều kiện để tăng trưởng nhanh, rút ngắn khoảng cách tụt hậu. Việt Nam hiện
nay vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu với nguồn nhân lực có qui mô lớn,
cơ cấu trẻ nhưng chưa thực sự là động lực để phát triển kinh tế. Do vậy việc
nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực sự là một đòi hỏi vừa
cấp bách, vừa cơ bản, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay cũng đã có nhiều nghiên cứu về con người, nguồn lực con
người như:“ Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” _ Phạm Minh Hạc ( chủ biên ), Nxb CTQG, HN, 1996; “ Bồi dưỡng và
đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” _ Nguyễn Minh Đường
( chủ biên ); “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” của
1
Phan Huy Lê... Nói chung đây là những nghiên cứu xã hội học thuộc Chương
trình khoa học – công nghệ cấp Nhà nước KX-07: “ Con người Việt Nam –
mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” do GS.VS Phạm Minh
Hạc làm chủ nhiệm với sự tham gia của gần 300 nhà khoa học thuộc nhiều
chuyên ngành khác nhau. Ngoài ra còn có những ấn phẩm đề cập đến kinh

- Góp phần làm rõ khái niệm , vai trò và sự cần thiết phải nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế – xã hội .
- Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực hiện nay.
- Góp phần làm rõ những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất
lượng nguồn nhân lực và đề xuất giải pháp cơ bản có tính định
hướng nâng cao chất lượng về mặt thể lực, trí lực nguồn nhân lực ở
Việt Nam hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong ba
chương:
Chương 1: Nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực.
Chương 2: Thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Chương 3 : Quan điểm và một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thời gian tới.
3
Chương 1: NGUỒN NHÂN LỰC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. KHÁI NIỆM, CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT
LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC.
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của
một quốc gia, vùng lãnh thổ có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào
quá trình phát triển kinh tế xã hội. Theo nghĩa hẹp có thể lượng hóa được là
một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi qui định, có khả
năng lao động, không kể đến trạng thái có hay không làm việc.
Độ tuổi người lao động là giới hạn về những điều kiện cơ thể, tâm sinh
lý xã hội mà con người tham gia vào quá trình lao động. Giới hạn độ tuổi lao
động được qui định tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của từng nước và
trong từng thời kỳ. Tại Điều 6 và Điều 145 của Bộ Luật lao động nước Cộng

lao động cao hơn.
- Trình độ xã hội hóa các hoạt động dịch vụ phục vụ đời sống và sự
phát triển kinh tế – xã hội. Dịch vụ nuôi dạy trẻ, nội trợ gia đình
được xã hội hóa cao và cơ hội việc làm dễ dàng hơn thì phụ nữ sẽ
tham gia vào thị trường lao động và làm các hoạt động xã hội nhiều
hơn.
5
- Mức và nguồn thu nhập. Khi có nguồn thu nhập khác bảo đảm thỏa
mãn mọi nhu cầu, các cá nhân này sẽ không có nhu cầu làm việc và
do đó không tham gia vào nguồn lao động.
- Di dân và nhập cư. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự di dân
và nhập cư cũng là nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động. Tuy
chiếm tỷ trọng không lớn nhưng đây là một nguồn lao động đặc biệt
trên thị trường, có ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế – xã hội.
Sự gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng số lượng nguồn
nhân lực cũng như nguồn lao động. Nhưng nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng
không làm giảm ngay lập tức nhịp độ tăng nguồn nhân lực. Quan điểm dân số
tối ưu cho rằng: “ Một quốc gia muốn nền kinh tế phát triển cân đối và tốc độ
cao phải có qui mô, cơ cấu dân số thích hợp, phân bố hợp lý giữa các vùng”.
Điều đó có nghĩa là:
- Số lượng dân phù hợp với điều kiện thiên nhiên và trình độ phát
triển kinh tế – xã hội của đất nước.
- Đảm bảo một tỷ lệ cân đối giữa số người trong độ tuổi với số người
quá tuổi và chưa đến tuổi lao động. Theo các nhà dân số học thế
giới, một cơ cấu thích hợp đảm bảo cho dân số ổn định tương ứng là
60-64%, 10-12% và 26-28%.
- Phân bố dân cư trên các vùng đảm bảo đủ nhân lực khai thác tài
nguyên và phát triển kinh tế – xã hội có hiệu quả. Có thể điều tiết
phân bố dân cư thông qua chính sách dân số và các chính sách kinh
tế – xã hội.

7
nghèo. Xuất phát từ điều kiện đặc thù, ở Việt Nam các chính sách
an sinh xã hội bao gồm: việc làm, bảo hiểm xã hội, xóa đói giảm
nghèo, người có công, trợ giúp xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội.
Với mức tăng dân số và nguồn nhân lực cao, ngân sách dành cho
các chính sách xã hội và tạo việc làm trong các nước đang phát triển
đã thấp về giá trị tuyệt đối lại càng trở nên thấp hơn không đáp ứng
được yêu cầu.
Nguồn nhân lực không chỉ được xem xét dưới góc độ số lượng mà còn
ở khía cạnh chất lượng. Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng
hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và
phẩm chất. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách
vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh
tế và các quan hệ xã hội. Trong đó:
- Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự
chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể. Một cơ thể
khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó
sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực
có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người.
Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ
của mình trong xã hội.
- Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học, trình độ kiến
thức chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư
duy xét đoán của mỗi con người. Trí lực thực tế là một hệ thống
thông tin đã được xử lý và lưu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân
con người, được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau. Nó được hình
8
thành và phát triển thông qua giáo dục đào tạo cũng như quá trình
lao động sản xuất.
- Đạo đức, phẩm chất là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã

IA + IE + IW
3
( 0 < HDI < 1 )
Trong đó:
IA là chỉ số tuổi thọ
Với Amax là tuổi thọ trung bình cao nhất Thế giói; Amin là tuổi thọ
trung bình thấp nhất Thế giới; Ai là tuổi thọ trung bình của nước i.
IE là chỉ số kiến thức
Với a1 =
Tỷ lệ biết chữ của dân cư nước i – Tỷ lệ biết chữ thấp nhất của TG
Tỷ lệ biết chữ cao nhất của TG – Tỷ lệ biết chữ thấp nhất của TG
Với a2 =
Tỷ lệ huy động đi học của nước i – Tỷ lệ huy động đi học thấp nhất TG
Tỷ lệ huy động đi học cao nhất TG- Tỷ lệ huy động đi học thấp nhất TG
IA =
Ai – Amin
Amax – Amin
IE =
2a1 + a2
3
10
IW là chỉ số thu nhập
Với Wmax là mức thu nhập theo đầu người cao nhất Thế giới, Wmin là
mức thu nhập theo đầu người thấp nhất Thế giới. Wi là mức thu nhập theo
đầu người của nước i.
Trong báo cáo phát triển con người (Hunman Development Report)
2001 quy định các chỉ số thấp nhất và cao nhất Thế giới như sau:
Tuổi thọ : 25 năm và 85 năm.
Tỷ lệ biết chữ của người lớn : 0% và 100%.
Tỷ lệ huy động đi học : 0% và 100%

dân.
Thứ hai, các chỉ tiêu y tế cơ bản
- Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi
- Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi
- Tỷ lệ trẻ em đẻ dưới 2500g
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
- Tỷ suất chết mẹ
Thứ ba, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật
- Tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm
- Tỷ lệ mắc các bệnh có tiêm chủng,
12
- Tỷ lệ chết so với người mắc các bệnh.
Chỉ tiêu đánh giá trình độ văn hoá
Trình độ văn hoá là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu
những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống.
Trình độ văn hoá được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không
chính quy, qua quá trình học tậo suốt đời của mỗi cá nhân và được đánh giá
qua hệ thống chỉ tiêu:
Thứ nhất, tỷ lệ dân số biết chữ là số % những người 10 tuổi trở lên có
thể dọc viết và hiểu được những câu đơn giản của tiếng Việt, tiếng dân tộc
hoặc tiếng nước ngoài so với tổng dân số 10 tuổi trở lên. Phương pháp tính:
Tỷ lệ biết chữ của dân
số từ 10 tuổi trở lên
=
Số người 10 tuổi trở lên biết chữ trong năm xác định
Tổng dân số 10 tuổi trở lên trong cùng năm
x 100
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá trình độ văn hoá ở mức tối thiểu
của một quốc gia. Các thống kê giáo dục trong nước và Thế giới hiện nay đều
sử dụng chỉ tiêu này.

tiểu học (cấp I)
=
Số học sinh cấp tiểu học trong năm xác định
Dân số trong độ tuổi cấp tiểu học (6-10 tuổi)
trong cùng năm
x 100
Các cấp THCS và THPT tính tương tự.
Những chỉ tiêu này dùng để đánh giá trình độ phát triển giáo dục của
các quốc gia. Các chỉ tiêu này cũng dùng để xây dựng mục tiêu phát triển giáo
dục trong công tác kế hoạch. Ví dụ, định hướng phát triển giáo dục đến năm
2010 của Việt Nam, mục tiêu là tỷ lệ đi học chung cấp tiểu học là 100%, cấp
THCS là 80%, cấp THPT là 45%.
Thứ tư, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học và trung học.
Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học biểu thị số % trẻ em trong độ
tuổi cấp tiểu học, tức là những em từ 6 - 10 tuổi học cấp tiểu học trong tổng
số trẻ em trong độ tuổi cấp tiểu học của dân số. Tương tự như vậy đối với các
nhóm tuổi THCS và THPT .
14
Phương pháp tính:
Tỷ lệ đi học đúng tuổi
cấp tiểu học
=
Số học sinh cấp tiểu học từ 6-10 tuổi
Dân số trong độ tuổi cấp tiểu học (6-10 tuổi)
trong cùng năm
x 100
Các tỷ lệ cấp THCS và THPT tính tương tự.
Các chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả của hệ thống giáo dục. Hệ
thống giáo dục hiệu quả cao có tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cao vì tỷ lệ học sinh
lưu ban, bỏ học thấp, và ngược lại. Ví dụ, ở nước ta, trong khi tỷ lệ đi học

LV
x 100
T
LV
ĐT
: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng lao động đang làm việc.
L
LV
ĐT
: Số lao động đang làm việc đã qua đào tạo.
L
LV
: Số lao động đang làm việc.
Thứ hai, tỷ lệ lao động theo cấp bậc đào tạo được tính toán cho Quốc
gia, vùng, ngành kinh tế dùng để xem cơ cấu này có cân đối với nhu cầu nhân
lực của nền kinh tế ở từng giai đoạn phát triển.
Là % số lao động có trình độ CMKT theo bậc đào tạo so với tổng số
lao động đang làm việc:
T
LV
ĐT
ij =
∑L
LV
ĐT
ij
∑L
LV
j
x 100

1.1.3. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
Như đã chỉ ra ở trên, chất lượng nguồn nhân lực liên quan đến nhiều
lĩnh vực , do đó nó chịu chi phối của rất nhiều yếu tố và dưới đây là các nhân
tố chủ yếu có ảnh hưởng lớn nhất:
Biến đổi kinh tế – xã hội
Tăng trưởng là nhân tố kinh tế quan trọng tác động đến chất lượng
nguồn nhân lực trên nhiều phương diện. Tăng trưởng kinh tế không chỉ trực
tiếp góp phần cải thiện đời sống nhân dân mà còn tăng tiết kiệm và đầu tư
trong nước, tạo được nhiều việc làm mới với mức thu nhập cao. Ngoài ra nhờ
thành tựu tăng trưởng, thu ngân sách tăng nên đảm bảo nhu cầu chi thường
xuyên cho các chương trình mục tiêu quốc gia, chi cho phát triển giáo dục đào
tạo, y tế, văn hóa... tác động tích cực hơn đến chất lượng nguồn nhân lực.
Sự phát triển kinh tế với cơ cấu biến đổi theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ, giảm nông nghiệp dẫn đến sự phân bổ lao động trong các
lĩnh vực hoạt động đòi hỏi người lao động phải được đào tạo, có khả năng tự
học hỏi, thích ứng với nền sản xuất mới.
17
Bên cạnh mặt tích cực quá trình tăng trưởng kinh tế cũng có một số ảnh
hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn nhân lực. Tăng trưởng kinh tế thường
gắn liền với quá trình đô thị hóa, thay đổi trong lối sống. Các nghiên cứu cho
thấy quá trình đô thị hóa gắn liền với mức độ ô nhiễm môi trường tăng cao, tỷ
lệ tai nạn gia tăng đáng kể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của
người dân. Do thu nhập tăng lên và sự thay đổi trong lối sống nên ở các đô thị
tồn tại phổ biến đồng thời mô hình bệnh tật của nước nghèo và của “mức sống
cao”. Hiện tượng này được gọi bằng thuật ngữ “ gánh nặng gấp đôi”, ám chỉ
những khó khăn mà người dân và hệ thống y tế xã hội ở các nước đang phát
triển đang vấp phải.
Đối với các nước trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế như Việt Nam thì tác
động của những biến đổi kinh tế – xã hội đến chất lượng nguồn nhân lực còn
phức tạp hơn:

tập và rèn luyện để nâng cao kỹ năng, kiến thức. Ngược lại, chế độ
phân phối bình quân sẽ hạn chế tính năng động và sáng tạo của
người lao động.
Tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe
Dinh dưỡng thấp và sức khỏe yếu không chỉ gây ra ốm yếu thể trạng,
khổ ải về tinh thần mà còn làm giảm năng suất lao động. Một bà mẹ suy dinh
dưỡng trong thời kỳ mang thai, sự thiếu thốn lương thực thực phẩm trong giai
đoạn sơ sinh và vào lúc trẻ còn nhỏ là đều có thể dẫn tới các bệnh tật cũng
như sự khiếm khuyết trong quá trình phát triển về thể trạng và thần kinh của
trẻ. Do đó năng suất lao động trong tương lai sẽ bị hạn chế. Hơn nữa sự suy
19
dinh dưỡng và bệnh tật ở người lớn làm suy giảm năng lượng, tính sáng tạo,
sáng kiến, khả năng học tập và làm việc của họ. Các nước đang phát triển
thường mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của nghèo đói, suy dinh dưỡng và năng
suất lao động thấp.
Tình trạng suy dinh dưỡng thường là vấn đề của người nghèo. Nguyên
nhân không chỉ do thu nhập thấp mà còn vì trình độ học vấn thấp, không có
khả năng tiếp cận và thu nhận thông tin cần thiết để thực hiện dinh dưỡng hợp
lý.
Ngoài vấn đề dinh dưỡng, sự phát triển của hệ thống y tế và khả năng
tiếp cận của người dân có ảnh hưởng quan trọng đến việc bảo vệ và chăm sóc
sức khỏe. Do thành tựu tăng trưởng và phát triển kinh tế, qui mô và năng lực
của mạng lưới y tế tăng lên cùng với tiến bộ khoa học công nghệ trong y học
đã góp phần nâng cao sức khỏe, thể hiện ở tuổi thọ bình quân ngày càng tăng
cao. Tuy nhiên như người ta thường nói hệ thống y tế là xã hội thu nhỏ, điều
đó có nghĩa là khả năng tiếp cận của người dân với dịch vụ y tế, đặc biệt là
dịch vụ y tế chất lượng cao là không đồng đều.
Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực thì mức độ
phát triển của giáo dục đào tạo là yếu tố quan trọng nhất vì nó không chỉ ảnh

chi đi lại đến trường…
- Chi phí xã hội là chi phí công cộng để đào tạo và trả lương cho giáo
viên, chi quản lý hành chính (công tác phí, điện, nước…), chi mua
21
sách, đồ dùng học tập các thiết bị dạy học, thiết bị văn phòng, tiền
thuê đất, nhà cửa…
- Lợi ích tư nhân của giáo dục là lợi ích mà các cá nhân được đào tạo
nhận được từ giáo dục đào tạo. Nó bao gồm: Được chuẩn bị tốt hơn
cho công việc từ những kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc, tinh
thần thái độ… qua đào tạo; tăng cơ hội tìm nghề, được việc làm với
mức lương cao; khả năng "tự vệ" tốt hơn trước nguy cơ thất nghiệp
trong xã hội, dễ dàng thích nghi với những thay đổi trong nghề
nghiệp.
- Lợi ích xã hội của giáo dục. Những người được giáo dục là thành
viên của xã hội nên các lợi ích tư nhân cũng tạo nên lợi ích xã hội
cuả giáo dục. Không chỉ có thế, những lợi ích khác phát sinh từ cá
nhân được giáo dục nhưng không trực tiếp nhận được mà đem lại
cho người khác và cả cộng đồng như: (i) Đối với nền kinh tế, qua
giáo dục đào tạo phát hiện, bồi dưỡng tài năng các nhà lãnh đạo,
quản lý, giúp họ có tư duy, tri thức để vạch đường lối, xây dựng và
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Nó cũng cung cấp lực
lượng lao động chất lượng, cơ cấu loại hình lao động phù hợp với
kiến thức thích hợp và hiện đại, có kỹ năng và phong thái làm việc
đáp ứng mọi yêu cầu đòi hỏi của một nền kinh tế thị trường khắc
nghiệt và năng động. Đội ngũ này sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
quốc gia một cách mạnh mẽ; (ii) Đối với các vấn đề xã hội, ở
những người được giáo dục thì mức độ phạm tội, mất an toàn giao
thông, trật tự xã hội thấp.
Có thể nói, phân tích lợi ích "cá nhân" và "xã hội" trên cơ sở lý thuyết
về "vốn nhân lực", chi phí giáo dục đã khắc hoạ rõ nét vai trò của giáo dục

hội học vấn, nhưng chưa đủ để các quốc gia cạnh tranh trên thị trường toàn
cầu. Giáo dục đại học mới có khả năng đào tạo những người có khả năng theo
dõi các khuynh hướng công nghệ, đánh giá được sự thích ứng của chúng đối
với những triển vọng của đất nước và giúp xây dựng triển khai một chiến lược
phát triển công nghệ quốc gia thích hợp. Chiến lược thích hợp cho phần lớn
các quốc gia đang phát triển là thu nhận được công nghệ nước ngoài với giá
rẻ và có thể sử dụng nó hiệu quả nhất bằng cách thích nghi nó với các điều
kiện của địa phương. Những khám phá khoa học và các phát minh không chỉ
đòi hỏi nguồn tài chính dồi dào mà còn cần lực lượng lao động có chất lượng
cao với năng lực tinh vi của con người và sự nhạy bén kinh doanh để thắng
lợi trong cạnh tranh. Tuy là những nước đi sau về công nghệ, nhưng các nền
kinh tế Đông Á đã rất thành công trong phát triển kinh tế nhờ thích nghi rất
tốt công nghệ nước ngoài do các nước này có một lực lượng lao động kỹ thuật
cao, đặc biệt khi các công nghệ thay đổi nhanh chóng. Nghiên cứu của Ngân
hàng Thế giới cho thấy "trong 1000 nhà phát minh của Ấn Độ có 90% tốt
nghiệp đại học, hơn 50% được đào tạo sau đại học và gần 30% có bằng tiến
sỹ" [28, 80]. Trong các nước công nghiệp, việc nghiên cứu của các trường đại
học chiếm một phần lớn nghiên cứu và triển khai (R & D) và ở các nước đang
phát triển cũng như vậy nhưng có quy mô nhỏ hơn. Các trường đại học nông
nghiệp ở Ấn Độ, Malaixia, Thái Lan đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong
việc nâng cao năng suất sản phẩm nông nghiệp. Sự phát triển các trường đại
học đã tạo khả năng cho các nước Đông Á duy trì được các ngành công
nghiệp mới. Những ngành công nghiệp này đã tạo ra những "cầu" lớn về kỹ
sư và công nhân kỹ thuật cao. Ở nước ta, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long
đã góp phần quan trọng vào nâng cao năng suất lúa ở khu vực này.
24
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
1.2.1. Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất hiện đại
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
con người, phát triển toàn diện con người là cơ sở lý luận chủ yếu nhất, quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status