009102069
Báo cáo: "thực trạng nguồn nhân lực nước ta và nhửng giải pháp
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực"
Trang 1
009102069
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài;
Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải có nguồn
nhân lực, vốn và tài nguyên. Đối với Việt Nam, cả hai nguồn tài chính và tài
nguyên đều rất hạn chế nên nguồn lực con người đương nhiên đóng vai trò
quyết định. So với các nước láng giềng chúng ta có lợi thế đông dân, tuy nhiên
nếu không được qua đào tạo thì dân đông sẽ là gánh nặng dân số còn nếu được
qua đào tạo chu đáo thì đó sẽ là nguồn nhân lực lành nghề, có tác động trực tiếp
đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Một đội ngũ nhân lực lành nghề và
Trang 2
009102069
đồng bộ cũng tạo nên sức hấp dẫn to lớn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam. Vì thế báo cáo chính trị đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: “Giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phương hướng chung trong nhiều năm
tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước”, “ nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con
người Viêt Nam là nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa”. báo cáo chính trị đại hội Đảng toàn quốc lần IX cũng nêu:
“Phải tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước
ta có thể và cần rút ngắn thời gian”. Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế_xã
hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ
thuộc vào con người. điều khẳng định trên lại càng đúng với hoàn cảnh nước ta
đất nước; Vận dụng những lý luận đó để luận giải, đánh giá về nội dung, thực
trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực nước ta từ đó đề xuất những phương
hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Đối tượng nghiên cứu ;
Đề tài nghiên cứu về thực trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực ở
nước ta hiện nay từ đó dề ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ;
Thu thập những thông tin, số liệu cụ thể về thực trạng nguồn lao động
nước ta trong những năm qua. Phân tích, so sánh với các năm trước để đưa ra
những nhận định chung về thực trạng nguồn nhân lực hiện nay và từ đó đề ra
một số giải pháp để nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
5. Phạm vi nghiên cứu ;
Trang 4
009102069
Đề tài nghiên cứu các vấn đề về nguồn nhân lực ở Việt Nam trong
khoảng thời gian từ năm 2006 đến nay.
6. Phương pháp nghiên cứu ;
Trong đề tài có sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê,
tổng hợp và dự báo.
7. Đóng góp của đề tài ;
- Góp phần làm rõ khái niệm, vai trò và sự cần thiết phải nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa để phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích thực trạng nguồn nhân lực hiện nay.
- Nêu một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng nguồn nhân
lực ở Việt Nam.
đường lối công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Phân tích những tác động cơ bản của công nghiệp hóa đối với
nền kinh tế đất nước hiện nay càng làm rõ được ý nghĩa, vị trí, vai trò trung tâm
của công nghiệp hóa.
Công nghiệp hóa ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây
dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thực hiện chiến lược
phát triển kinh tế xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội
công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày
càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới – xã hội chủ
nghĩa.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm là nền nông nghiệp
lạc hậu, bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư nông thôn có mức thu nhập rất
thấp, sức mua hạn chế. Vì vậy công nghiệp hóa là quá trình tạo ra những điều
Trang 6
009102069
kiện vật chất kỹ thuật cần thiết về con người và khoa hoc – công nghệ, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn
lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng
nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân, thực hiện công
bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Quá trình công nghiệp hóa tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất
lực lượng sản xuất, nhờ đó mà nâng cao vai trò của con người lao động – nhân
tố trung tâm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện vật chất cho việc
xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hóa
mang lại, là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức trong sự
nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là góp phần tăng cường quyền
lực, sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế nhà nước.
Quá trình công nghiệp hóa tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ
thể tham gia vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao
gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên.
Nguồn nhân lực được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng. Số
lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng
trưởng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có mối quan hệ mật thiết với các chỉ
tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số
càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược
lại. Tuy nhiên, mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một
thời gian nhất định ( vì đến lúc đó con người muốn phát triển đầy đủ, mới có
khả năng lao động ).
Khi tham gia vào các quá trình phát trển kinh tế - xã hội, con người đóng
vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó
tới mục tiêu nhất định. Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng
lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể
Trang 8
009102069
lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc … tất cả các yếu
tố đó ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá là
một chỉ tiêu tổng hợp là văn hóa lao động. Ngoài ra, khi xem xét nguồn nhân
lực, cơ cấu của lao động – bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề
cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng.
Cũng giống như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt là chất lượng
nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật
chất và tinh thần cho xã hội.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động,
những người lao động phải được đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp
lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng. Một quốc gia có lực lượng lao
động đông đảo, nhưng nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ
cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lượng lao động đông
có ý kiến cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong công nghiệp hóa, hiện đại
hóa để làm tiền đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, kinh tế tri thức
không chỉ bao gồm các nghành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, mà còn
cả các nghành truyền thống được cải tạo bằng khoa học công nghệ cao. Do đó
không nên chờ cho đến khi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa kết thúc
mới tiến hành xây dựng kinh tế tri thức, mà ngay trong giai đoạn này, để phát
triển và theo kịp các nước phát triển trên thế giới, chúng ta phải đồng thời quan
tâm tới những lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp cận.
Đối với Việt Nam, một đất nước nông nghiệp, rõ ràng chúng ta không
thể xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức như các nước công nghiệp phát
triển. Thực ra đó là sự tiếp tục quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
ở trình độ cao hơn, dựa trên chất xám của con người. Mặt khác do xuất phát
điểm của lực lượng sản xuất ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam
phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tức mang những đặc thù của mình.
Do đó việc xác định nội dung các nghành kinh tế trrong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, chuẩn bị các điều kiện vật chất và con người để tiếp cận kinh
tế tri thức trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi nghành,
Trang 10
009102069
nhất là các cấp hoạch định chiến lược. Trong việc chuẩn bị ấy, việc nghiên cứu
thực trạng mạnh yếu và tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực là quan
trọng và cấp bách nhất trong giai đoạn hiên nay.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước thì nếu chỉ có lực lượng lao động
đông và rẻ thì không thể tiến hành công nghiệp hóa, mà đòi hỏi phải có một đội
ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao. Chính nhờ lực lượng có trình độ
chuyên môn cao mà Nhật Bản và các nước Nics (Các nước công nghiệp mới)
đã vận hành có hiệu quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sản xuất ra nhiều mặt
hàng có sức cạnh tranh cao với các nước phát triển trên thế giới.
Để đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, phải bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Với tư cách là
nghiệp hóa hiện đại hóa, trong đó phải lấy việc phát huy nguồn lực con người
làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ HIỆU QUẢ CỦA ĐÀO
TẠO, SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM.
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực nước ta:
Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhất
quyết định sức mạnh của một quốc gia. Bởi chúng ta biết rằng mọi của cải vật
chất đều được làm nên từ bàn tay và trí óc con người. Việt Nam chúng ta đang
có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệu người (tính đến
ngày 1/4/2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 người) nước đông dân thứ 13
trên thế giới và thứ 3 trong khu vực. Trong đó số người trong độ tuổi lao động
Trang 12
009102069
tăng nhanh và chiếm một tỷ lệ cao khoảng 67% dân số cả nước. Cơ cấu dân số
vàng ở nước ta bắt đầu xuất hiện từ năm 2010 và kết thúc vào năm 2040, kéo
dài trong khoảng 30 năm. Rõ ràng Việt Nam đang có thế mạnh lớn về nguồn
lao động nhưng tại sao chúng ta vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc thúc đẩy
kinh tế đi lên? Có nhiều nguyên nhân lý giải cho vấn đề này, trong đó chất
lượng nguồn nhân lực hiện nay của nước ta được xem là nguyên nhân mấu
chốt.
2.1.1 Nguồn nhân lực từ nông dân :
Như chúng ta đã biết, trong số gần 86 triệu người ở Việt Nam thì nông
dân chiếm khoảng 73% dân số của cả nước. Số liệu trên đây phản ánh một thực
tế là nông dân nước ta chiếm tỷ lệ cao về lực lượng lao động xã hội. Theo các
nguồn số liệu thống kê có được. hiện nay, cả nước có khoảng 113.700 trang
trại, 7.240 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làng nghề và 40% sản
phẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn 100 nước. Như
vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai
Về số lượng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có khoảng dưới 5
triệu người, chiếm 6% dân số của cả nước, trong đó, công nhân trong các doanh
nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ thấp, khoảng gần 2 triệu người, bằng khoảng 40%
so với lực lượng công nhân nói chung của cả nước; lực lượng công nhân của
khu vực ngoài nhà nước có khoảng 2,70 triệu, chiếm gần 60%. Xu hướng
chung là lực lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước ngày càng ít đi,
trong khi đó, lực lượng công nhân của khu vực ngoài nhà nước ngày càng tăng
lên. Công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ rất thấp so với đội ngũ công nhân
nói chung. Trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ thuật của công nhân còn thấp. Số
công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn
người, chiếm khoảng 3,3% so với đội ngũ công nhân nói chung ở Việt Nam. Số
công nhân xuất khẩu lao động tiếp tục tăng, tuy gần đây có chững lại. Từ năm
2001 đến năm 2006, Việt Nam đã đưa được gần 375 nghìn người lao động đi
Trang 14
009102069
làm việc tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ, tăng gấp 4 lần so với thời kỳ 1996-
2000 (95 nghìn người). Hiện nay, lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài
có khoảng 500 nghìn người, làm việc tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn
30 nhóm ngành nghề.
Vì đồng lương rẻ mạt, công nhân không thể sống trọn đời với nghề, mà
phải kiêm thêm nghề phụ khác như đi làm xe ôm trong buổi tối và ngày nghỉ,
làm nghề thủ công, buôn bán thêm, cho nên đã dẫn đến tình trạng nhiều người
vừa là công nhân, vừa không phải là công nhân. Trong các ngành nghề của
công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí và công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng
20% trong tổng số công nhân của cả nước, trong khi đó, công nhân trong các
ngành công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40%.
Sự già đi và ít đi của đội ngũ công nhân Việt Nam đã thấy xuất hiện. Với tình
hình này, công nhân khó có thể đóng vai trò chủ yếu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Về mặt chính trị, thực chất, công nhân Việt
Nam chưa có địa vị bằng trí thức, công chức, viên chức, rất khó vươn lên vị trí
tướng Chính phủ Việt Nam dự án đào tạo 20 nghìn tiến sĩ trong giai đoạn 2007-
2020 ở cả trong nước và ngoài nước.
Nhà nước đã dành một khoản ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo là
76.200 tỷ đồng, chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 14,1% so với
thực hiện năm 2007.
Bên cạnh nguồn nhân lực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công
chức, viên chức (cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngành của đất nước
cũng tăng nhanh:
Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5 nghìn
người làm việc tại 54 nhà xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa phương
12).
Tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viên chuyên nghiệp và
hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo
chí và hàng chục nghìn người khác là cộng tác viên, nhân viên, lao động tham
Trang 16
009102069
gia các công đoạn in ấn, tiếp thị quảng cáo, phát hành, làm việc tại 687 cơ quan
báo chí, hơn 800 báo, tạp chí, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình.
Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có gần 39
nghìn người; ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành kho bạc là
13.536 người.
Tính đến tháng 6-2005, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính
sách pháp luật của các cơ quan trung ương là 824 người, trong đó có 43 tiến sĩ
luật (chiếm 5,22%), 35 tiến sĩ khác (chiếm 4,25%), 89 thạc sĩ luật (chiếm
10,08%), 43 thạc sĩ khác (chiếm 5,22%), 459 đại học luật (chiếm 55,70%), 223
đại học khác (chiếm 27,06%), 64 người có 2 bằng vừa chuyên môn luật, vừa
chuyên môn khác (chiếm 7,77%),… Cả nước có 4.000 luật sư (tính ra cứ 1 luật
sư trên 24 nghìn người dân).
Trí thức, công chức, viên chức trong các ngành nghề khác của các cơ
quan trung ương và địa phương cũng tăng nhanh.
- Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan
tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, còn đào tạo thì nửa
vời, nhiều người chưa được đào tạo.
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn
giữa lượng và chất.
- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công
nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực
hiện mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ đất nước.
2.2 Hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực nước ta hiện nay:
Trong hầu hết các Đại hội Đảng và trong nhiều văn kiện quan trọng khác
nhau của Đảng đã khẳng định:
Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu
phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát
huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi
công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa; khẳng định con người Việt Nam phát
triển toàn diện cả về thể lực, trí lực, cả về khả năng lao động, năng lực sáng tạo
Trang 18
009102069
và tính tích cực chính trị - xã hội, cả về đạo đức, tâm hồn và tình cảm chính là
mục tiêu, là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa…Mọi chủ
trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm quán triệt tư
tưởng chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, hướng tới mục tiêu
phát triển toàn diện con người Việt Nam…
Tuy nhiên, từ ý tưởng trên đi tới đường lối, chính sách và tổ chức thực
hiện là cả một cuộc trường chinh gian khổ.
Sau 22 năm đổi mới, nước ta đứng trước thực tế:
Kinh tế tăng trưởng và phát triển liên tục, 10 năm qua tăng trưởng trung
bình 7%; 5 năm qua tăng trưởng trung bình 7,5%. Năm 2007 – năm đầu tiên là
thành viên của WTO, chỉ số tăng trưởng GDP là 8,5%, của xuất khẩu 20,5%,
thu hút FDI tăng 17%. Năm 2007, Việt Nam được đánh giá là nước thứ 6 trong
Giáo dục, đào tạo, và khoa học 22 năm qua phát triển mạnh, góp phần
quan trọng vào những thành tựu của đất nước đã nêu trên. Nhìn chung chất
lượng nguồn nhân lực được nâng cao hơn trước, thể hiện rõ nét nhất ở năng
xuất lao động của toàn xã hội đã thay đổi hẳn cục diện phát triển kinh tế nước
ta kể từ khi tiến hành đổi mới, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng thứ nhì
thế giới trong những năm gần đây, trình độ giáo dục phổ cập và số lượng học
sinh, lực lượng lao động có đào tạo, số người tốt nghiệp các bậc học tăng nhanh
so với nhiều nước, đặc biệt trong vòng 10 năm 1993 -2002 tỷ lệ đói nghèo giảm
còn một nửa (từ 57% xuống còn 28%).
Trên đây là so sánh ta hôm nay với ta cách đây 22 năm, Đấy là chuyện ta
so với ta.
Nếu so kết quả đạt được với công sức bỏ ra, có lẽ phải nói lãng phí
phạm phải trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo và phát triển con người là tổn thất
lớn nhất so với bất kỳ lãng phí nào khác đã phạm phải trong 22 năm đổi mới,
với nhiều hệ quả lâu dài nhất.
Nước ta còn phải làm hai so sánh nữa:
Một là, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động so với các
nước chung quanh, khoảng cách phát triển không thu hẹp được bao nhiêu; nếu
lấy chỉ số thu nhập tính theo đầu người làm thước đo chung nhất, khoảng cách
này có xu hướng đang rộng thêm.
Trang 20
009102069
Sau 20 năm đổi mới GDP danh nghĩa tính theo đầu người năm 2006
tăng gấp 4 lần năm 1986. Số liệu này khẳng định tất cả những gì đã làm được.
Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của IMF năm 2006:
GDP danh nghĩa toàn thế giới tính theo đầu người năm 2005 là 7263
USD, của Việt Nam là 650 USD, nghĩa là gần bằng 9% mức của thế giới –
nghĩa là khoảng cách của nước ta so với thế giới bên ngoài là rất lớn.
So sánh với các nước láng giềng chung quanh, cùng nguồn thống kê
nêu trên cho thấy: Mặc dù gần một thập kỷ liên tiếp Việt Nam có tốc độ tăng
năng lượng hạt nhân đang được đề cập), phát triển toàn diện ngành dầu khí,
phát triển những khu công nghệ cao, phát triển thị trường tài chính, phát triển
thị trường địa ốc, mở rộng ngành công nghiệp du lịch ; ngay trong nước thị
trường tài chính có triển vọng thu hút những nguồn vốn lớn… Lần đầu tiên
nước ta đứng trước tình hình không thiếu vốn và cơ hội, có nhiều dự án lớn,
nhưng lại thiếu trầm trọng năng lực quy hoạch và quản lý, thiếu trầm trọng
nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng những dự án lớn này. Tiến độ nhiều
dự án lớn đã triển khai thường chậm một, hai năm so với kế hoạch hoặc hơn
nữa. Trên hết cả, khoảng 2/3 GDP của nước ta dành cho xuất khẩu, cạnh tranh
hàng giá rẻ với chất lượng thấp và dịch vụ thấp ngày càng không còn đất sống
trước những làn sóng hàng hóa rẻ Trung Quốc khắp thế giới, chỉ còn một con
đường cạnh tranh bằng hàng hóa chất lượng cao và dịch vụ cao. Trong khi đó
cơ hội không biết chờ đợi. Nói riêng về điện: năm 2006 ta thiếu 1,1tỷ kwh; năm
2007 thiếu 6,6 tỷ kwh, năm 2008 Tập đoàn Điện (EVN) dự báo thiếu 8,6 tỷ
kwh, mọi kế hoach sản xuất điện EVN đã cam kết với Chính phủ đều chậm vài
năm, thế nhưng từ nhiều năm nay không một dự án đầu tư nhiệt điện nào của
nước ngoài dù khả thi về mọi mặt, kể cả dự án BOT, có thể vào VN; một ví dụ
này nói lên nhiều điều.
Phải chăng đất nước đứng trước một nghịch cảnh: Kinh tế phát triển
mạnh và cơ hội đang đến với đất nước rất lớn, nhưng trong khi đó giáo dục –
đào tạo – khoa học và vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung sau thời kỳ
giành được những một số thành tựu ban đầu theo xu hướng phát triển đại trà,
Trang 22
009102069
ngày nay đang đi tới một điểm nóng, với nhiều hệ quả trầm trọng. Trong phát
triển con người và nguồn nhân lực, nhiều yếu kém và tiêu cực tích tụ lâu năm
đang dồn nén lại thành nguy cơ có thể làm cho đất nước bó tay trước cơ hội
lớn. Bản thân ngành giáo dục - đào tạo - khoa học, và nhìn chung là toàn hệ
thống phát triển nguồn nhân lực đang có nguy cơ rơi vào khủng hoảng: đào tạo
nhiều mà dùng được ít, số người được đào tạo thất nghiệp cao, chi phí của toàn
- họ không tin tưởng vào hệ thống đại học và các viện nghiên cứu của
trong nước, vì chất lượng giảng dạy thấp; nội dung thấp và lạc hậu; khả năng
nghiên cứu nghèo nàn; sách vở và thiết bị đều thiếu, không đồng bộ, cũ kỹ, rất
yếu về ngoại ngữ, năng lực tổ chức và quản lý thấp…
Tình hình chung nguồn nhân lực của nước ta hiện nay là: Sau 30 năm
công nghiệp hóa, vẫn còn khoảng 70% lao động cả nước trong lĩnh vực nông
nghiệp; tỷ lệ học sinh trên triệu dân, tỷ lệ số trường các loại trên triệu dân, tỷ lệ
số trường đại học trên triệu dân; tỷ lệ tốt nghiệp đại học trên triệu dân, tỷ lệ có
học vị tiến sỹ trên triệu dân của nước ta đều cao hơn tất cả các nước có mức thu
nhập bình quân theo đầu người tương đương như Thái Lan, nhưng chất lượng
đang có nhiều vấn đề. Điều tra của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2006 cho thấy
cả nước có tới 63% số sinh viên ra trường không có việc làm, 37% số còn lại có
việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại và có nhiều người không làm đúng nghề
mình đã học, trong khi đó nhiều doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp có
FDI và nhiều dự án kinh tế quan trọng khác rất thiếu lực nguồn lực chuyên
nghiệp. Khoảng 2/3 số người có học vị tiến sỹ trong cả nước không làm khoa
học mà đang làm công tác quản lý; số bài báo khoa học được công bố hàng
năm chỉ bằng khoảng ¼ của Thái Lan và bằng 0,00043% của thế giới, mặc dù
số tiến sĩ của ta hàng năm nhận bằng thường nhiều hơn của Thái Lan, có năm
cao gần gấp đôi…
Nguồn nhân lực nước ta đứng trước tình hình: trẻ (tính theo tuổi đời
trung bình – một ưu thế lớn), đông (một ưu thế lớn khác, nước có dân số đứng
thứ 13 trên thế giới), nhưng tỷ lệ tính trên triệu dân của số người có nghề và có
trình độ chuyên môn rất thấp so với tất các nước trong nhóm ASEAN và Trung
Trang 24
009102069
Quốc; số cán bộ kỹ trị và có trình độ quản lý cao rất ít so với dân số cũng như
so với quy mô nền kinh tế.
Nền tảng khoa học để phát triển các đội ngũ nguồn nhân lực nước nhà
được giáo sư Phạm Duy Hiển đánh giá khái quát: “Với năng lực KHCN như