Thực trạng cầu lao động nước ta và các biện pháp kích cầu - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với việc phát triển của các loại thị trường khác nhau, việc phát triển của thị
trường lao động hiện đang được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những hướng
đi không thể thiếu để thực hiện chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay,
việc định ra các giải pháp nhằm thúc đẩy và hoàn thiện hoạt động của thị trường lao
động còn đang là điều mới mẻ. Thêm nữa, do tính đặc biệt ( vừa mang đặc điểm kinh
tế, vừa mang đặc điểm xã hội ) của loại hàng hoá sức lao động, nên các biện pháp
thúc đẩy sự phát triển của loại thị trường này cần phải được xác định sao cho vừa
đảm bảo được tính hiệu quả kinh tế ( phân bổ tối ưu nguồn lực lao động ) vừa đảm
bảo tính công bằng xã hội ( quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao
động). Tất cả những điều đó cho thấy rằng đây là một bài toán khó không dễ dàng
tìm ngay ra lời giải.
Cầu lao động là một trong những yếu tố cấu thành nên thị trường lao động. Cầu
lao động có sự ảnh hưởng rất lớn đến cân bằng cung cầu trên thị trường. Để tìm ra
các giải pháp thúc đẩy và hoàn thiện thị trường lao động trước hết phải tìm ra các giải
pháp về phía cầu lao động nhằm kích cầu lao động. Bằng biện pháp trên, thị trường
lao động đã phần nào được ổn định và phát triển trong những năm vừa qua.
Các biện pháp kích cầu không chỉ có tác dụng đến thị trường lao động, mặt khác
còn tạo cơ hội việc làm, phát triển kinh tế, đảm bảo điều kiện làm việc cho người lao
động....
Từ những lý do trên, tôi xin chọn đề tài đề án của môn học là: “Thực trạng cầu
lao động nước ta và các biện pháp kích cầu.”
2. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng của đề án chính là người sử dụng lao động, cụ thể ở đây chính là các
doanh nghiệp, các công ty, xí nghiệp, nhà máy...đối tượng có nhu cầu thuê mướn lao
động.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Về không gian: cầu lao động của tất cả các doanh nghiệp trên toàn quốc, các

CHƯƠNG I
Cơ sở lý luận về cầu lao động và các giải pháp kích cầu lao động.
1.1. Khái niệm
1.1.1 Kh¸i niÖm cÇu lao ®éng
- Cầu lao động: Là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có
thể chấp nhận được. Cầu lao động được coi là cầu dẫn xuất hoặc cầu gián tiếp. Bởi
lẽ, xuất phát từ nhu cầu về sản phẩm mới có nhu cầu về lao động để sản xuất ra sản
phẩm đó. Cầu lao động khác với lượng cầu về lao động. Cầu về lao động mô tả toàn
bộ hành vi của người mua có thể mua được hàng hoá sức lao động hoặc ở tất cả các
mức giá có thể đặt ra. Ở mỗi mức giá có một lượng cầu xác định. Cầu về sức lao
động có liên quan chặt chẽ đến giá cả sức lao động ( tiền lương), khi giá cả tăng hoặc
giảm sẽ làm cho cầu lao động giảm và ngược lại ( tức là cầu về sức lao động tỷ lệ
nghịch với giá cả sức lao động.
- Tổng cầu lao động: là tổng hợp cầu sức lao động của toàn bộ nền kinh tế. ở
một thời kỳ nhất định, và bao gômg cả một số lượng và chất lượng, thường được xác
định thông qua chỉ tiêu việc làm.
- Phân loại cầu lao động:
• Theo thời gian : cầu ngắn hạn, cầu dài hạn.
Cầu ngắn hạn
Hàm sản xuất ngắn hạn: TP = f(L, K)
Từ hàm sx ngắn hạn ta thấy có thể thay đổi mức độ sử dụng yếu tố sản xuất của
nó bằng cách chuyển từ kỹ thuật sản xuất này sang kỹ thuật sản xuất khác. Nếu xem
xét về nhu cầu lao động ta thấy khi tăng lao động đến một mức nào đó theo quy luật
của năng suất cận biên giảm dần bắt đầu hoạt động ( mức sản xuất biên của lao động
là mức sản lượng tăng thêm khi thuê thêm mỗi công nhân). Do đó nhu cầu thuê nhân
công của hãng là hãy mở rộng ( hay thu hẹp) mức thuê nhân công nếu như sản phẩm
giá trị biên của lao động lớn hơn( hoặc nhỏ hơn) tiền công của người nhân công thuê
thêm. Trong điều kiện lao động có thể dễ dàng điều chỉnh được nhu câu cề lao dộng
của hãng phải thoả mãn được điều kiện. Tiền công = sản phẩm giá trị biên của lao
động.

chia ra thành thị trường lao động có chuyên môn kỹ thuật cao ( công nhân kỹ thuật và
những người được đào tạo có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở lên) và thị
trường lao động phổ thông ( lao động giản đơn không qua đào tạo). Theo không gian
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thì có thị trường lao động các vùng, thị trường lao động các địa phương, thị trường
lao động trong nước, trường lao động nông thôn, thị trường lao động thành thị....
- Việc làm theo quy định của Bộ Luật Lao động là những hoạt động có ích không bị
pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động. Người làm việc là người
có việc làm mang lại tiền công hoặc thu nhập, họ phải có việc làm hoặc doanh nghiệp
trong một thời gian nhất định. Như vậy có thể phân biệt thành 2 loại việc làm, một là
việc làm thuê hưởng tiền lương hoặc tiền công, và 2 là việc làm tư nhân có thể là cá
nhân hoặc gia đình, có thể là chủ doanh nghiệp. Việc làm có thể phân chia theo thời
gian như việc làm đầy đủ hoặc không đầy đủ, việc làm tạm thời và việc làm cố định,
việc làm không thường xuyên, việc làm theo thời vụ...
- Thất nghiệp: là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn
làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành. Người
thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trong tuần
lễ tham khảo( tức tuần lễ tiến hành điều tra thông tin) không có việc làm, đang có nhu
cầu tìm việc làm và có đăng kí tìm việc theo quy định. Bên cạnh đó là khái niệm
thiếu việc làm, theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế, thiếu việc làm là hiện
tượng tồn tại khi làm việc không đủ tiêu chuẩn đặc trưng hoặc so với việc làm liên
tục, có tính đến kỹ năng nghề nghiệp.
- Cung lao động: là lượng lao động mà người lao động có thể sẵn sàng cung cấp trên
thị trường trong những điều kiện nhất định. Cũng như cầu lao động và lượng cầu.
Cung lao động mô tả toàn bộ hoành vi của người đi làm thuê khi thoả thuân các mức
giá đặt ra. Cung sức lao động là bộ phận sức lao động được đưa ra trên thị trường nó
phụ thuộc vào không chỉ quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực, nó còn phụ thuộc
vào số người ( tỷ lệ ) tham gia của lực lượng lao động. Cung trên thị trường lao động
phụ thuộc vào tổng số lao động có thể cung cấp.

ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao cho lượng
lao động ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn. Có nhiều
loại chỉ tiêu để tính tăng năng suất lao động, nhưng dùng chỉ tiêu nào, điều đó phụ
thuộc vào việc lựa chọn một thước đo cho phù hợp với đặc điểm của từng doanh
nghiệp, Hiện nay người ta sử dụng 3 loại chi tiêu chủ yếu sao đây: NSLĐ tính bằng
hiện vật, NSLĐ tính bằng tiền( giá trị ) và NSLĐ tính bằng thời gian.
Năng suất lao động tác động đến cầu lao động theo 2 chiều:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Năng suất lao động tăng lên -> doanh nghiệp sẽ phải thuê thêm lao động để mở
rộng quy mô sản xuất-> cầu lao động tăng lên-> sản xuất phát triển-> lợi nhuận tăng
lên-> doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận.
+ Năng suất lao động tăng lên-> nhưng giá cả của sản phẩm không tăng lên-> doanh
nghiệp không mở rộng quy mô sản xuất, doanh nghiệp sử dụng các trang thiết bị máy
móc hiện đại, hiện đại hoá các trang thiết bị sản xuất-> cầu lao động trong trường
hợp này giảm xuống.
1.2.1.3 Nhân tố tình hình phát triển kinh tế.
Đó là những khả năng tiềm tàng của đất nước, có thể là nguồn tài nguyên
thiên nhiên, những điều kiện thuận lợi. Như ta đã biết hàm sản xuất được viết: Q =
f(K,L), trong đó Q là sản lượng, K là vốn, f là biểu thị công nghệ. Nếu công nghệ và
giá cả là cố định thì tăng trưởng kinh tế sẽ tăng cầu lao động. Tuy nhiên, tăng trưởng
kinh tế thường theo sự thay đổi này thường làm cho nhu cầu giáo dục, đào tạo nguồn
nhân lực, tăng nhu cầu có trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Tình hình kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp sản
xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cạnh tranh, môi trường thuận lợi để mở
rộng sản xuất. Vậy tình hình phát triển kinh tế có sự thay đổi cùng chiều với cầu lao
động. Điều đó có nghĩa là: nếu tình hình kinh tế giảm sút kéo theo cầu lao động giảm
và ngược lại.
1.2.1.4 Nhân tố tiền lương.
Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động ( người mua sức lao động)

hoạch định và xúc tiến các dự án đầu tư. Sự ổn định này đòi hỏi trên hai phương diện.
Một là, hệ thống luật lệ điều tiết hoạt động kinh tế tư nhân không được thay đổi
thường xuyên, trừ các hành vi tháo gỡ vướng mắc và nâng cao hoạt động của thị
trường. Cụ thể là việc thành lập các công ty tư nhân, quyền sở hữu, điều tiết thu nhập
từ hoạt động kinh tế tư nhân, hệ thống thuế, các điều khoản thực thi các hợp đồng.
Hai là về tổng thể nền kinh tế phải ổn định để đảm bảo không lạm phát ( hoặc dự báo
trước), về tiết kiệm, tích luỹ, sự thay thế có hiệu quả nguồn nhân lực giữa các thành
phần và khu vực kinh tế( cổ phần hoá). Các chính sách tài chính và tiền tệ không làm
tổn hại, làm suy yếu khu vực tư nhân, chẳng hạn do thâm hụt ngân sách nhà nước.
Chính phủ chuyển các nguồn đầu tư đáng lẽ cho kinh tế tư nhân để chi tiêu cho Nhà
nước. Tương tự, sự thâm hụt cán cân thanh toán sẽ làm mất ổn định kinh tế vĩ mô,
làm suy yếu tỷ giá hối đoái. Mất ổn định kinh tế làm giảm tốc độ tăng trưởng, do đó
cản trở tự tạo việc làm, cũng như cải thiện tiền công.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cầu lao động.
1.2.2.1 Nhân tố chất lượng công việc.
Chất lượng công việc có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cầu lao động. Chất
lượng công việc càng cao thì yêu cầu chất lượng cầu lao động cũng phải cao. Vậy
chất lượng công việc và chất lượng cầu công việc tỷ lệ thuận với nhau. Công việc đòi
hỏi trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao, yêu cầu người lao động
phải đáp ứng được yêu cầu đó, người lao động mới chấp nhận tuyển dụng lao động.
Chất lượng công việc thể hiện sự quản lý chặt chẽ, tổ chức lao động khoa học, năng
suất lao động.
1.2.2.2 Nhân tố quy mô trình độ kĩ thuật, trình độ quản lý, quan hệ kinh doanh quốc tế.
Quy mô trình độ kĩ thuật càng cao, yêu cầu công việc càng lớn, trình độ của
người lao động càng cao, chất lượng cầu lao động tăng. Trình độ kĩ thuật bao gồm
máy móc kỹ thuật hiện đại, trang bị cơ sở vật chất, phương tiện liên lạc, phương tiện
vận chuyển...Điều đó đặt ra yêu cầu chất lượng cầu lao động phải tăng.
Trình độ quản lý của bộ máy quản lý của doanh nghiệp có tác động cùng chiều

hình đã đưa đến những thành công. Tuy nhiên, về kinh tế, khi nghiên cứu, lựa chọn
mô hình tăng trưởng, phát triển có đến nguồn nhân lực cần xem xét các yếu tố về vốn
đầu tư và mối quan hệ của vốn đầu tư với việc thu hút nguồn nhân lực. Vì lẽ, không
có vốn đầu tư đưa vào sản xuất, các nguồn nhân lực sẽ bị ứ đọng, không có tiền đề
vật chất để hoạt động. Vốn đầu tư nhiều, tăng nhanh, chứng tỏ khả năng tái sản xuất
mở rộng, khả năng tích luỹ của một nền kinh tế. Nói cách khác, đó là điều kiện có
tính chất quyết định dể thu hút các nguồn nhân lực vào tăng trưởng. Kỹ thuật và công
nghệ của sản xuất có liên quan dến sử dụng nhiều hay ít nhân lực. Có loại kỹ thuật,
công nghệ đòi hỏi vốn cao( hàm lượng vốn lớn), nhưng lại sử dụng ít nhân lực ( hàm
lượng lao động thấp). Ngược lại, có kỹ thuật, công nghệ vốn ít nhưng sử dụng nhiều
nhân lực.
Áp dụng các biện pháp hiện đại, cơ giới hoá quá trình sản xuất, đầu tư các trang
thiết bị hiện đại, cơ sỏ vật chất hạ tầng kĩ thuật cao nhằm mục đích nâng cao năng
suất lao động, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển doanh nghiệp về chiều rộng -> tác
động đến cầu lao động về số lượng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhà nước có các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế, ban hành hệ thống hành
lang pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư. Tiếp tục cải cách khu vực
Nhà nước, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các khu vực, các thành phần
kinh tế. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và các công ty được hình thành và phát
triển -> tăng cầu về lao động.
Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường nhằm hoàn thiện kênh giao dịch giữa
cung và cầu lao động, cân bằng cung cầu trên thị trường lao động. Mặt khác nhằm
đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực.
Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tham gia vào thị trường lao động khu vực và
quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Cần sớm nhận thức rõ rằng xuất khẩu lao
dộng phải được coi là một chiến lược quốc gia giải quyết việc làm và là một kênh để
đào tạo tay nghề cho người lao động. Vì vậy, cần sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật
về xuất khẩu lao động, ban hành, sửa đổi và bổ sung những cơ chế chính sách cho

tế - xã hội về lâu dài. Vậy cần phải có các giải pháp như thế nào để tăng cầu lao động
ở nước ta. Trước hết, chúng ta xem xét hiện trạng và xu hướng thay đổi việc làm
trong những năm gần đây.
2.1 Cầu lao động theo nhóm ngành
2.1.1 Kết quả:
Theo nhóm ngành, cầu lao động được chia theo 3 tiêu chí: Nông, lâm, ngư
nghiệp; xây dựng, công nghiệp; dịch vụ.
Bảng 1: Bảng số người từ 15 tuổi trở lên làm việc thường xuyên theo nhóm
ngành
Các tiêu chí 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Nông , lâm,
ngư nghiệp
23431 22589 23018 22861 22670 22813 23835
Xây dựng,
công nghiệp
3698 4170 4049 4435 4744 5428 5942
Dịch vụ 6849 7593 7734 8382 8791 8426 9509
TỔNG SỐ 33978 34352 34801 35679 36205 37677 39286
Theo số liệu bảng trên, chúng ta thấy rằng số người có việc làm thường xuyên
tăng lên liên tục trong thời kỳ 1996 – 2002, mỗi năm trung bình tăng khoảng
740nghìn, trong đó tăng nhiều nhất là năm 2002 so với 2001 với số tuyệt đối là 1609
nghìn, và năm tăng ít nhất là 1998 so với 1997. Và các năm sau cũng có xu hướng
Website: Email : Tel : 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status