QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP (IPM) TRÊN CÂY MÍA - Pdf 11

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG BIÊN HÒA

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN MÍA ĐƯỜNG

QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP (IPM)
TRÊN CÂY MÍA

(Tài liệu lưu hành nội bộ)

ĐỒNG NAI, THÁNG 6/2011

Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
1/46

LỜI GIỚI THIỆU

Mía là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao đang được chú trọng
đầu tư phát triển. Nhiệm vụ chính của cây mía là sản xuất đường. Một trong những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất đường là tình hình sâu bệnh trên cây mía.
Đặc điểm của cây mía là khi cây bị sâu bệnh hại, ngoài thiệt hại trực tiếp đến sự phát
triển và khối lượng của cây, phản ứng của cây mía sẽ chuyển đường từ thân mía ra dự
trữ ở lá (và sau đó sẽ bị loại bỏ trên ruộng. Như vậy, cây mía mang về nhà máy để chế
biến sẽ có hàm lượng đường thấp.

Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
2/46

Phần thứ nhất
ĐỊNH NGHĨA, NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG
QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP

1. Định nghĩa về dịch hại cây trồng và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
1.1 Dịch hại là gì?
Dịch hại là tất cả động vật, thực vật và các vật sống gây thiệt hại hoặc truyền
bệnh tật cho cây trồng, các sinh vật khác thậm chí cả người.
Các loại dịch hại chính của cây trồng gồm:
- Sâu: Tên gọi chung cho nhóm côn trùng, có nhiều loại sâu thay đổi hình dạng
một lần hay nhiều lần trong vòng đời của chúng.
- Nhện: Các loại nhện rất nhỏ, màu đỏ hoặc xanh, có 8 chân.
- Ốc và sên: Là loại có thân mềm và nhớt. Thân ốc được bao bọc lớp vỏ cứng,
còn loài sên thì không có vỏ bao. Ban ngày chúng nghỉ, ban đêm đi kiếm ăn.
- Tuyến trùng: Là loại rất nhỏ, không màu, không thấy được bằng mắt thường.
Tuyến trùng chích, hút rễ thân, đỉnh sinh trưởng và gây hại làm cho cây kém phát
triển. Rất khó phòng trừ tuyến trùng
- Gậm nhấm: Là loài chuột, sóc, thỏ có thể gây hại cho cây trồng, hoa quả và
sản phẩm trong kho. Chuột sinh sản nhanh và có thể phòng trừ có hiệu quả bằng nhiều
biện pháp kết hợp với nông dân.
- Cỏ dại: Là những loại thực vật mà ở một thời điểm hay một nơi nào đó, con
người không mong muốn có sự hiện diện của chúng. Cỏ dại làm cản trở việc sử dụng
nguồn tài nguyên đất, nước.
1.2 Quản lý dịch hại tổng hợp là gì?
Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM, viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Integrated Pest

quan hệ với sinh vật có ích và có hại. Phải nghiên cứu khả năng đề kháng của môi
trường đối với sâu, bệnh và cỏ dại.
- Bước 2: Nghiên cứu những biện pháp làm giàu thêm hệ sinh vật có ích trong
quần xã.
- Bước 3: Tách được các giống cây chịu sâu bệnh và sử dụng chúng với từng
khu vực, từng phân vùng (phù hợp với khí hậu, đất đai, có ưu thế hoặc có khả năng
kháng một số loài sâu bệnh phổ biến ở vùng đó).
- Bước 4: Sản xuất và vận dụng các chế phẩm sinh học, chế phẩm từ thảo mộc.
Nghiên cứu sử dụng các loại thuốc hoá học ít độc đặc biệt cho các vùng trồng rau.
- Bước 5: Nghiên cứu các loại thuốc trừ sâu với có tính chọn lọc cao tác động
nhanh và mạnh ít ảnh hưởng tới côn trùng có ích.
- Bước 6: Nghiên cứu thời điểm phù hợp sử dụng thuốc với liều lượng phù hợp,
phương pháp phù hơp.
- Bước 7: Nghiên cứu các kỹ thuật sử dụng thuốc mới nhằm làm đơn giản các
thao tác pha chế ảnh hưởng tới môi trường.
- Bước 8: Nghiên cứu các phương pháp dự tính, dự báo sâu bệnh có hiệu quả.
- Bước 9: Theo dõi và đánh giá tình hình phát triển sâu bênh thường xuyên để
đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả. Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
4/46

Phần thứ hai
KỸ THUẬT THĂM ĐỒNG VÀ ĐIỀU TRA SÂU BỆNH HẠI MÍA

Trong IPM, kỹ thuật thăm đồng và điều tra sâu bệnh đóng vai trò cực kỳ quan
trọng. Việc thường xuyên thăm đồng, kiểm tra tình hình dịch hại và điều tra đúng

+ Tỷ lệ cây bị hại (%) = (số cây bị hại) x 100/tổng số cây điều tra)
+ Tỷ lệ đốt (lóng) bị hại (%) = (số lóng bị hại) x 100/(tổng số lóng điều tra)
+ Chỉ số hại (%) = [Tỷ lệ cây bị hại (%) x Tỷ lệ lóng bị hại (%)]/100
- Phương pháp điều tra:
+ Điều tra trên 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra trên 5 m dài hàng mía.
+ Điều tra thành phần sâu hại: Ghi nhận loài sâu đã biết tên và tần xuất bắt gặp
chúng hoặc thu thập mẫu vật sâu lạ gửi đi định danh
4.1.3 Đối với nhóm sâu hại lá (sâu ăn lá, rệp, rầy…):
- Chỉ tiêu điều tra:
+ Tỷ lệ cây bị hại (%) = (số cây bị hại) x 100/(tổng số cây điều tra)
+ Mật độ sâu hại (con/cây) = số sâu hại (con)/ số cây điều tra (cây)
- Phương pháp điều tra: Điều tra trên 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra trên
10 cây liên tục.
4.2 Chỉ tiêu và phương pháp điều tra bệnh hại:
4.2.1 Đối với bệnh hại trên rễ:
Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
5/46
- Chỉ tiêu điều tra:
+ Tỷ lệ cây bị bệnh (%) = (số cây bị bệnh) x 100/(tổng số cây điều tra).
+ Chỉ số bệnh (%): Phân theo 3 cấp:
• Cấp 1 (nhẹ): Số rễ bị bệnh < 10%
• Cấp 2 (trung bình): Số rễ bị bệnh 10-40%
• Cấp 3 (nặng): Số rễ bị bệnh > 40%
- Phương pháp điều tra: Điều tra trên 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra trên
10 cây liên tục.
4.2.2 Đối với bệnh hại trên thân:
- Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ cây bị bệnh (%) = (số cây bị bệnh) x 100 / (tổng số
cây điều tra).

)
+ Chiều cao cây (cm)
+ Số lá xanh/cây
+ Số lóng/cây
+ Diện tích lá (cm
2
)
+ Chiều dài lóng (cm) (đo ở 3 lóng)
+ Đường kính thân (cm) (đo ở 3 lóng)
4.3.2 Phương pháp điều tra: Điều tra 5 điểm cố định, mỗi điểm điều tra 1 m
2
.
4.4 Ngưỡng kinh tế của sâu hại mía
Việc sử dụng thuốc chỉ thực sự đạt hiệu quả về mặt kinh tế và kỹ thuật khi sinh
vật hại đã phát triển đến ngưỡng gây hại hoặc ngưỡng kinh tế.
Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
6/46
- Ngưỡng gây hại là mức độ của dịch hại bắt đầu làm tổn thương đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất cây trồng.
- Ngưỡng kinh tế (ETL, viết tắt của cùm từ Economic Threshold Level) là mức
độ dịch hại mà khi đó nếu tiến hành các biện pháp phòng trừ thì chi phí bỏ ra phải ít
hơn hoặc bằng với giá trị sản phẩm thu lại được do kết quả của việc phòng trừ.
Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu và xác định được ngưỡng kinh tế
của các loài sâu hại mía. Trong phạm vi tài liệu này, chúng tôi xin trích dẫn ra đây số
liệu tổng hợp về ETL tại Ấn Độ để cùng tham khảo thêm.
Bảng 1. Ngưỡng kinh tế của một số loài sâu hại mía ở Ấn Độ
TT Loài sâu hại Ngưỡng kinh tế (ETL)
1 Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu (đục mầm) - Giống chín muộn: 15-22,8%.


Theo thống kê của Hiệp hội Kỹ thuật Mía Đường Quốc tế (Internatinal Society
of Sugar Cane Technologists – ISSCT, 1999), trong số 324 loài động vật hại mía đã
xác định được trên toàn thế giới, ngành chân khớp (Arthropoda) chiếm số lượng loài
nhiều nhất (84,5%), phần còn lại là động vật gặm nhấm ăn thực vật (5,9%), tuyến
trùng (4,9%) và động vật khác (4,7%). Trong ngành chân khớp, lớp côn trùng
(Hexapoda) chiếm 84,2% tổng số loài, các loài nhện chỉ chiếm 0,3% tổng số loài đã
phát hiện. Trong lớp côn trùng, bộ cánh vảy (Lepidoptera) chiếm số lượng loài nhiều
nhất 50,3% tổng số loài, bộ mối (Isoptera) chiếm 0,9%, bộ cánh tơ (Thysanoptera)
chiếm 0,3%, bộ cánh nửa (Hemiptera) chiếm 16,7%, bộ cánh cứng (Coleoptera) chiếm
11,7%, bộ hai cánh (Diptera) chiếm 0,6% và phần còn lại (3,7%) thuộc các bộ côn
trùng khác. Trong bộ cánh vảy (Lepidoptera, 50,3%), số lượng loài hại lá chỉ chiếm
khoảng 0,6%, phần còn lại (49,7%) là các loài hại thân. Còn theo tổng kết của CIRAD
- Trung tâm Hợp tác Quốc tế về nghiên cứu phát triển nông nghiệp - Pháp (2000), thiệt
hại tổng số do các loài dịch hại gây ra đối với cây mía ước tính chiếm khoảng 54,0%
tổng sản lượng mía của toàn thế giới. Trong đó, riêng thiệt hại do nhóm côn trùng gây
ra chiếm tới 19,5%. Còn nếu chỉ dựa vào các thông tin đại chúng do các viện, cơ quan
nghiên cứu cung cấp thì ta có thể thấy rõ một điều rằng côn trùng là nhóm sâu hại
quan trọng nhất (8 trong 10 trường hợp) và trong nhóm côn trùng thì sâu đục thân
thường xuất hiện nhiều hơn cả (50% thông tin), kế đến là nhóm côn trùng chích hút
(15 – 20% thông tin), sau đó là các loài bọ hung đục gốc (10 – 14% thông tin). Tuyến
trùng và chuột tương ứng là 5 – 10% và 5 – 6% thông tin.
Bảng 2. Tổng hợp về tổn thất do các loại sâu hại mía trên thế giới
TT Loại sâu hại
Thiệt hại
sản lượng (%)
Thiệt hại
chữ đường (%)
1 Sâu đục mầm sớm 22-33 2
2 Sâu đục lóng 34,88 1,7-3,07

- Có 1 loài nhện: Nhện đỏ
- Có có 9 loài bệnh hại chính: 3 bệnh nấm (than đen, thối đỏ thân, thối ngọn), 3
bệnh vi khuẩn (cằn gốc, thân chồi đâm ngọn, chảy gôm), 2 bệnh phytoplasma (trắng
lá, chồi cỏ xanh) và 1 bệnh vi rút (vàng gân lá).
- Có 1 loài chuột hại chính: Chuột đồng.
- Có 7 loài cỏ dại phổ biến trên ruộng mía gồm: Cỏ chỉ, mần trầu, trinh nữ, dền
gai, cứt lợn, cỏ gấu và cỏ tranh.
Theo kết quả điều tra của Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa và Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường (2010), ở vùng Đông Nam bộ nói chung, vùng
nguyên liệu mía của Công ty nói riêng hiện đang có 16 loài dịch hại chính và có nguy
cơ phát sinh thành dịch cần phải tập trung phòng trừ (Bảng 1), chúng bao gồm:
- 8 loài sâu hại: Sâu đục thân 4 vạch, sâu đục thân 5 vạch đầu nâu, sâu đục thân
mình tím, sâu đục thân mình hồng lớn, sâu đục thân mình trắng, rầy đầu vàng, rệp sáp
đỏ và bọ phấn trắng.
- 1 loài nhện hại: Nhện đỏ
- 7 loại bệnh hại: Bệnh than, bệnh thối đỏ, thối ngọn, cằn gốc, thân chồi đâm
ngọn, trắng lá và khảm lá vi rút.
Bảng 3. Danh mục các dịch hại chính trên cây mía ở vùng Đông Nam bộ
TT Tên tiếng Việt Tên khoa học
Giai đoạn sinh trưởng
bị hại chủ yếu
Bộ phân cây
bị hại chủ yếu

1 Sâu đục thân 4 vạch

Chilo sacchariphagus
Bojer
Mọc mầm, đẻ nhánh,
vươn lóng, mía chín

7 Rệp sáp đỏ Saccharicoccus sacchari
Cock.
Vươn lóng Đốt thân
8 Bọ phấn trắng Aleurolobus barodensis
Maskell
Vươn lóng, mía chín Lá mía
9 Nhện đỏ Oligonychus simus Baker
& Pritchard
Vươn lóng, mía chín Lá mía
Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
9/46
10 Bệnh than đen Ustilago scitamenia
Sydow
Mọc mầm, đẻ nhánh Đỉnh sinh
trưởng
11 Bệnh thối đỏ Glomerella tucumanensis
Muller
Vươn lóng, mía chín Lá, bẹ lá, lóng
thân
12 Bệnh thối ngọn Fusarium moniliforme
Sheldon
Vươn lóng Lóng ngọn, lá
đọt
13 Bệnh cằn mía gốc
(RSD)
Leifsonia xyli subsp. xyli
Davis
Vươn lóng, mía chín Toàn thân cây,

Đường Bến Cát (2006), thiệt hại do chúng gây ra ước tính chiếm khoảng 20-40% năng
suất mía trong vùng.
Điều rất may là trong tự nhiên luôn tồn tại một lực lượng đông đảo các loài thiên
địch của các dịch hại nêu trên. Nếu không có chúng, cân bằng sinh học trong tự nhiện sẽ
bị phá vỡ, dịch bệnh sẽ phát sinh thường xuyên và gây thiệt hại rất lớn. Kết quả điều tra
của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường (2009) cho thấy, riêng đối với
nhóm sâu đục thân ở vùng Đông Nam bộ, có tới 21 loài côn trùng ký sinh và 16 loài côn
trùng ăn thịt (Bảng 2), trong đó, ong mắt đỏ màu vàng kí sinh trứng Trichogramma
chilonis Ishii, ong kén trắng kí sinh sâu non Cotesia flavipes Cameron, ong nhỏ râu ngắn
kí sinh nhộng Tetrastichus howardi Olliff và bọ đuôi kìm ăn thịt Euborellia annulipes
Lucas là những loài thiên địch có vai trò quan trọng nhất cần được bảo vệ và lợi dụng có
hiệu quả hơn nữa trong công tác phòng trừ sâu đục thân mía ở miền Đông Nam bộ.
Bảng 4. Thành phần thiên địch của sâu đục thân mía ở vùng Đông Nam bộ
TT

Loài thiên địch Họ - Bộ
Loài kí chủ
(vật mồi)
Mức độ
bắt gặp
A-

Côn trùng kí sinh:
1. Ong mắt đỏ màu vàng kí sinh trứng
Trichogramma chilonis Ishii
Trichogrammatidae

- Hymenoptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu ĐT 5 vạch


Trichogrammatidae

- Hymenoptera
- Sâu ĐT 5 vạch
- Sâu ĐT mình tím
-
-
5. Ong đen kí sinh trứng
Telenomus rowani Gahan
Scelionidae
- Hymenoptera
- Sâu đục ngọn +
6. Ong đen kí sinh trứng
Telenomus beneficiens Zehntner
Scelionidae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT 4 vạch

+++

7. Ong đen kí sinh trứng
Telenomus daobochongus Walker
Scelionidae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT 5 vạch
- Sâu ĐT mình hồng
-
-
8. Ong đen lớn kí sinh trứng

-
11.

Ong kén nhỏ kí sinh sâu non
Stenobracon nicevillei Bingham
Braconidae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT 5 vạch

-

12.

Ong kén nhỏ kí sinh sâu non
Rhaconotus rosliensis Lal
Braconidae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT mình tím -
13.

Ong kí sinh sâu non
Elasmus zehntneri Ferrière
Elasmidae
- Hymenoptera
- Sâu đục ngọn +
14.

Ong cự đen kí sinh sâu non
Melaboris sinicus Holmgren
Ichneumonidae

Ong cự vàng chấm đen kí sinh
nhộng
Xanthopimpla stemmator Thunberg
Ichneumonidae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu ĐT mình hồng
- Sâu ĐT mình tím
-
-
-
19.

Ong nhỏ râu ngắn kí sinh nhộng
Tetrastichus howardi Olliff
Eulophidae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu đục ngọn
- Sâu ĐT mình hồng
-
++
-
20.

Ong đùi to kí sinh nhộng
Brachymeria sp.
Chalcididae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT mình hồng -

+++
23.

Bọ đuôi kìm nâu đen lớn
Euborellia annulata Fabricius
Carcinophoridae
- Dermaptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu ĐT mình hồng
-
+
24.

Bọ đuôi kìm cánh vàng
Doru sp.
Forficulidae
- Dermaptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu ĐT mình hồng
-
-
25.

Bọ xít bắt mồi
Rhinocoris marginellus Thunberg
Reduviidae
- Hemiptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu ĐT 5 vạch
-

Cicindela sexpunctata Fabricius
Cicindelidae
- Coleoptera
- Sâu ĐT mình hồng
- Sâu ĐT 5 vạch
-
-
30.

Bọ hổ trùng 2 sọc thẳng
Cicindela striolata Illiger
Cicindelidae
- Coleoptera
- Sâu ĐT mình hồng -
31.

Bọ cánh cộc
Paederus fuscipes Curtis
Staphilinidae
- Coleoptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu ĐT 5 vạch
- Sâu ĐT mình hồng
+
-
-
32.

Bọ rùa nhỏ ăn thịt
Brumus saturalis Fabricius

36.

Kiến ăn thịt
Pheidole sp.
Formicidae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu ĐT mình vàng
- Sâu ĐT mình hồng
+
-
-
37.

Kiến ăn thịt
Solenopsis sp.
Formicidae
- Hymenoptera
- Sâu ĐT 4 vạch
- Sâu ĐT mình vàng
-
-

Ghi chú: +++ bắt gặp nhiều (>50% số lần bắt gặp)
++ bắt gặp trung bình (26 - 50% số lần bắt gặp)
+ bắt gặp ít (6 - 25% số lần bắt gặp)
- bắt gặp rất ít (0 - 5% số lần bắt gặp).Ngoài các loài thiên địch kể trên, trong tự nhiên cũng luôn tồn tại các loài nấm,

xuất hiện triệu chứng gây hại, thả 2.000 kén/ha/lần.
+ Có thể dùng các loại thuốc Diaphos (50 ND, 10 H), Padan (95 SP, 4 H) v.v…
phun hoặc rải cục bộ, có chọn lọc lên bộ lá những cây bị hại lốm đốm trắng, phun 2
tuần/1 lần, phun liên tục 3 – 5 lần trong khoảng thời gian từ lúc mía 4 – 6 tháng tuổi.
2. Sâu đục thân mình tím: Phragmataecia castaneae Hŭbner
- Triệu chứng gây hại và đặc điểm hình thái các pha phát dục: Xem Hình 2.
- Đặc điểm sinh học, sinh thái: Sâu phát sinh 2-3 đợt trong năm. Vòng đời sâu:
trứng 9-11 ngày, sâu non 55-71 ngày, nhộng 11-15 ngày, trưởng thành 3-5 ngày; mùa
đông vòng đời sâu dài hơn. Ngài cái đẻ 2-3 ổ trứng, 300-700 trứng/ổ. Sâu phá hại cả
mùa khô lẫn mùa mưa. Sâu non có 8 tuổi, sau khi nở ra khỏi trứng khoảng 15 phút là
sâu non phân tán ngay, thường mỗi cây có từ 1 – 2 con tấn công gây hại. Sâu non tuổi
nhỏ đục ăn trong bẹ lá theo kiểu vịng trịn (gy ra triệu chứng ho l bn trước), đến cuối
tuổi 2, đầu tuổi 3, sâu mới đục vào phần thịt lóng theo 1 đường đục rất thắng từ dưới
lên trên (gây ra triệu chứng ngọn teo). Trong quá trình gây hại, sâu rất ít khi đục ra
ngoài, phân sâu nén trong đường đục, chỉ đến khi gần hoá nhộng, sâu mới đục 1 lỗ vũ
hoá ở phần thân ngọn và chui trở lại đáy đường đục để hoá nhộng.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Giai đoạn cây con 4 – 6 tháng sau trồng hoặc thu hoạch, có thể dùng các loại
thuốc Diaphos 50 ND, Vibasu 40 ND, Padan 95 SP, Diaphos 10 H, Padan 4 H v.v…
phun hoặc rải cục bộ, có chọn lọc cho những đoạn mía bị hại (triệu chứng héo lá bên),
từ 3 - 5 lần cách nhau 14 ngày. Làm như vậy vừa có thể tiết kiệm thuốc trừ sâu, tập
trung thuốc đủ liều lượng có thể giết chết sâu ẩn chứa trong thân, vừa chừa lại những
khoảng không gian nhất định cho các loài thiên địch cư trú và thực hiện thiên chức của
mình.
+ Dùng bẩy đèn bắt trưởng thành vào 2 thời điểm rộ: Tháng 3, 4 và tháng 8, 9.
Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
13/46
3. Sâu đục thân mình hồng lớn (cú mèo): Sesamia sp.

– 3 lần giai đoạn đầu vươn lóng, không đốt lá sau thu hoạch, tưới nước trong mùa khô
hạn.
+ Rút bỏ đọt héo và giết sâu non, nhộng trong cây héo ngọn bằng xiên nhọn
hoặc cắt mầm héo sâu 5 cm dưới mắt đất (tháng 3-4).
+ Thả ong mắt đỏ định kỳ 1 lần/tháng, mỗi lần thả 50 ngàn ong/ha, thả từ tháng
thứ 1,5 đến tháng thứ 6 sau trồng (hoặc tái sinh gốc) ở những vùng khô hạn kéo dài.
+ Xử lý hom giống trước khi trồng bằng thuốc trừ sâu Diaphosọ 50 EC hoặc
bón lót Padan 4 G, Diaphos 10 H, liều lượng 30 – 45 kg/ha ngay khi trồng.
5.
Sâu đục thân mình trắng (đục ngọn): Scirpophaga nivella Fabr.
- Triệu chứng gây hại và đặc điểm hình thái các pha phát dục: Xem Hình 5.
- Đặc điểm sinh học, sinh thái: Mỗi năm phát sinh 6 đợt. Vòng đời sâu: trứng 7-
15 ngày, sâu non 31-61 ngày, nhộng 12-18 ngày, trưởng thành 3-13 ngày. Mỗi ngài cái
đẻ từ 70-100 trứng. Sâu phá hại trên mía cây, đặc biệt là ở đốt ngọn. Sâu non đục từ
ngọn mía xuống dưới ăn điểm sinh trưởng làm cho ngọn mía bị héo, lá xung quanh
ngọn mía xoè ra không bình thường, các mầm nhánh đâm ra thành hình ngọn chồi.
- Biện pháp phòng trừ:
Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
14/46
+ Ngắt ổ trứng trên lá thu bắt trưởng thành vào buổi sáng sớm.
+ Chặt cây sâu giết sâu non nhộng trong thân.
+ Bón thêm đạm thúc đẩy cây sinh trưởng nhanh.
+ Tiêu úng.
+ Thả ong mắt đỏ Trichograma chilonis Ishii
+ Phun Diaphos 50 EC, Padan 95 SP vào giai đoạn sâu non nở rộ hoặc rắc
Diaphos 10 H, Padan 4 H vào đọt cây bị hại.
6. Rầy đầu vàng: Eoeurysa flavocapitata Muir.
- Triệu chứng gây hại và đặc điểm hình thái các pha phát dục: Xem Hình 6.

và nhiều loại kiến ăn mật cùng cộng sinh với rệp và giúp rệp phát tán.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Sử dụng hom giống sạch hoặc đã ngâm trong nước vôi 2 giờ.
+ Chăm sóc bón phân cân đối N-P-K, mật độ trồng thích hợp, vệ sinh đồng
ruộng sau thu hoạch và khi cây mía non có lóng, ruộng sạch cỏ dại
+ Chọn giống có tán lá gọn, có sức đề kháng tốt, bố trí mùa vụ để các vụ mía
không liền kề trong năm, thu hoạch gọn từng vùng nguyên liệu.
Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
15/46
+ Thăm đồng thường xuyên để phát hiện ổ rệp tiêu diệt ngay từ khi còn là
những ổ nhỏ, trồng xen canh với cây họ đậu để phát triển và bảo vệ thiên địch của rệp.
- Khi mật độ cao phải dùng thuốc hoá học đặc hiệu để phòng trừ. Có thể dùng
thuốc Supracide 40 EC pha với nước, nồng độ 0,1-0,15% phun ướt đẫm đều thân, bẹ lá.
8. Bọ phấn trắng: Aleurolobus barodensis Maskell
- Triệu chứng gây hại và đặc điểm hình thái các pha phát dục: Xem Hình 8.
- Đặc điểm sinh học, sinh thái: Vòng đời từ 32 đến 44 ngày. Lá non chưa hoàn
chỉnh (chưa mở) là nơi con cái ưa thích để đẻ trứng. Thời gian pha trứng từ 8 đến 31
ngày. Mỗi con cái có thể đẻ 80 trứng, số lượng trứng thay đổi theo mùa. Ấu trùng từ 1
đến 3 tuổi có thể di chuyển và gây hại trong phạm vi ngắn; đến tuổi thứ 4 thường được
gọi là nhộng. Khi ấu trùng phát triển, chúng phủ một lớp bọc bằng sáp trắng giúp bảo
vệ khỏi các tác động bên ngoài, nhất là thuốc trừ sâu, đây là đặc điểm riêng biệt của bọ
phấn trắng ở các pha phát dục, trừ pha trứng. Ấu trùng bọ phấn trắng chích hút nhựa
của lá mía dẫn đến lá bị chuyển vàng và hồng nhạt, cuối cùng làm khô cháy lá. Các ấu
trùng bài tiết lượng đường lớn trong phân tích tụ trên lá, đây là nguyên nhân làm xuất
hiện nấm muội đen tạo các vết đen trên lá, làm ảnh hưởng đến quang hợp của cây. Bọ
phấn trắng gây hại nhiều trên những ruộng mía lưu gốc năm thứ 2 và 3, đặc biệt là
trong khu vực ngập nước, nghèo hàm lượng đạm. Điều kiện thích hợp để mật độ bọ
phấn trắng gây cháy là thiếu đạm, ngập úng (độ ẩm cao và nhiệt độ thuận lợi cho sự

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
16/46
+ Nhện non có 3 tuổi: Tuổi 1 có 3 đôi chân màu trắng nhạt, tuổi 2 có 4 đôi chân
màu thẫm hơn và tuổi 3 có 4 đôi chân kích thước gần bằng trưởng thành, màu nâu đỏ.
+ Nhện đỏ hại mía có vòng đời khá ngắn từ 7-8 ngày và thời gian sống của
trưởng thành tương đối dài, con đực thường sống lâu hơn con cái. Nhện đỏ có mặt
quanh năm trên các ruộng mía, hàng năm chúng thường xuất hiện vào 2 cao điểm là
các tháng 2-4 và 8-9.
+ Nhện đỏ hại mía thường sống tập trung ở mặt trên lá bánh tẻ và nhất là lá già,
rất ít khi thấy sống trên lá non và ngọn. Trên lá, chúng tập trung thành từng đám xung
quanh gân chính hoặc bên cạnh mép lá. Chúng dùng kìm chích vào lá, hút dịch, tạo
nên các vết châm nhỏ gần bằng đầu tăm. Lúc đầu có màu trắng trong sau chuyển sang
màu nâu hồng hoặc trắng bạc. Khi các vết châm dày đặc tạo nên các đốm màu nâu đỏ,
trên 1 lá có thể thấy rất nhiều đốm như vậy. Khi bị hại nặng toàn bộ lá mất màu xanh
và chuyển sang màu nâu đỏ, mép lá không trải phẳng mà cong lên làm cho lá dường
như bị nhỏ lại, biến dạng. Trên lá còn thấy các vết bụi trắng, đó là xác lột của nhện và
vỏ trứng. Nhện hại mang tính cục bộ rõ rệt. Chúng hại từng đám lá rồi lan sang cả bụi
mía. Sau đó lan rộng cả lô ruộng. Trong thời kỳ khô hạn, toàn bộ bụi mía hoặc cả
ruộng mía có thể chuyển sàng màu nâu đỏ. Cây mía bị kiệt quệ và hồi phục rất chậm.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Sử dụng biện pháp phòng trừ sâu hại tổng hợp (IPM), trong đó các thao tác
nhự: trồng đúng thời vụ, mật độ trồng hợp lý, bón phân cân đối và đặc biệt là tưới
nước đầy đủ, nhất là tưới phun sẽ kìm hãm sự phát triển của nhện đỏ.
+ Khi mật độ nhện trên 10-15 con/lá thì tiến hành phun thuốc hóa học để diệt
trừ. Các loại thuốc có thể sử dụng là Nissorun 5 EC, Rufast 3EC, Ortus 5SC, Danitol
10 EC với liều lượng nước phun là 500 lít/ha
10. Bệnh than đen: Ustilago scitamenia Sydow
- Tác nhân: Do nấm Ustilago scitaminea H. Sydow.
- Triệu chứng: Roi được hình thành từ mô ngọn hay chồi tận cùng của cây bị
nhiễm, phủ đầy bao tử màu đen (teliospore: đông bào tử). Chồi bị nhiễm trở nên mảnh

ngang màu trắng, đặc điểm dễ nhận biết là có mùi rượu. Thỉnh thoảng những vệt này
nhiều đến nỗi tạo ra hình thể lốm đốm trên mô. Sự biến màu cũng xuất hiện trên vỏ,
thường ở đốt nhưng cũng ở lóng. Ở giai đoạn sau, cả cây bị nhiễm trở nên lõm và teo
tóp dọc theo chiều dài thân. Triệu chứng tiếp theo có thể gồm lá bị vàng, tàn lụi và
khô, và cuối cùng chết thân, chết chồi, tái sinh mùa gốc bấp bênh và thối hom. Nấm có
thể nhiễm trên lá, tạo màu đỏ ở gân chính và đôi khi gây đốm trên phiến lá (Hình 11).
- Sự lan truyền: Bào tử một phần được phát tán nhờ gió và nhiễm vào chồi qua
vết thương, vảy mầm, sẹo lá, mầm rễ và vết đục của sâu đục thân. Tác nhân gây bệnh
cũng được lan truyền qua vết cắt, mưa dập, hạt sương rơi và lan truyền trong đất. Điều
kiện mát và khô là thuận lợi để truyền bệnh. Cấu trúc vô tính và hữu tính được tạo ra
trên cây mía thối nhũng hoặc xác bã và gây nhiễm mía sau khi trồng.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Xử lý hom trong không khí nóng ẩm 54
o
C trong 2 giờ, hay xử lý dòng khí
lưu ở 52
o
C từ 4 – 5 giờ, hay xử lý không khí nóng ở 54
o
C trong 8 giờ hạn chế tác
nhân gây bệnh từ hom nhiễm.
+ Ngâm hom trong nước lạnh đang chảy 48 giờ sau đó xử lý nước nóng (50
o
C
từ 150 – 180 phút) cũng sẽ hạn chế tác nhân gây bệnh từ hom nhiễm.
+ Dùng giống kháng.
+ Thu hoạch sớm trong trường hợp bị bệnh tấn công nghiêm trọng.
+ Nên tránh các điều kiện gây sốc trong ruộng mía lớn cũng như trong lúc trồng.
+ Dùng hom sạch bệnh.
12. Bệnh thối ngọn: Fusarium moniliforme Sheldon

đặc tính của tác nhân gây bệnh, sự nghiên cứu về bệnh và những chiến lược cần thiết
để kiểm soát bệnh có hiệu quả. Do vậy, bệnh cằn mía gốc hiện đang là một trong
những bệnh đang gây hậu quả nghiêm trọng cho các vùng trồng mía trên thế giới.
- Triệu chứng:
+ Triệu chứng bên ngoài: Hầu như không có triệu chứng bên ngoài có thể nhận
ra được từ cây mía bị bệnh ngoại trừ sự cằn cọc và phát triển kém của cây. Tuy nhiên
những đặc điểm trên đều có thể thấy được ở những vùng đất trồng kém dinh dưỡng, độ
ẩm không thích hợp hay cây bị thiếu dinh dưỡng. Về sự phát triển của chồi thì cây bị
bệnh phát triển chậm hơn cây sạch bệnh đặc biệt là trong mùa khô khi mà các gốc mía
dường như không phát triển trong vài tuần hay cả khi cả tháng. Những gốc mía này
thường rất khỏe và không có sự bất thường nào ở hệ thống rễ cũng như ở thân hay chồi
ở dưới đất. Sự cằn cỗi biểu hiện không đồng nhất giữa các chồi nhiễm bệnh và ruộng
nhiễm bệnh biểu hiện cả sự đi lên và đi xuống của sự phát triển, ngay cả khi tất cả các
cây đều bị nhiễm bệnh (Hình 13).
+ Triệu chứng bên trong cây: Khi chẻ đôi thân cây bị nhiễm bệnh bằng một con
dao sắc thì sẽ thấy ở phần dưới các mắt mía có những chấm đổi màu hình dấu chấm
hay dấu phẩy. Sự đổi màu thường diễn ra từ đốt dưới rồi mới lên đến các nốt bên trên,
thường định vị ở những vùng dưới bẹ lá ngay tại vị trí của nơi xuất dịch cây. Trong
vùng này là nơi phát sinh ra lá và các nhánh của các bó mạch. Sự đổi màu do RSD
không diễn ra ở phẩn giữa đốt. Màu của mô nhiễm bệnh khác nhau về mức độ đậm
nhạt và cường độ phụ thuộc vào mức độ nhiễm bệnh và các giống mía khác nhau và nó
cũng có thể khác nhau bên trong các giống. Một vài giống thì không biểu hiện các
triệu chứng này. Các vùng bị biến đổi màu này rất đa dạng có thể là màu vàng, cam,
hồng, đỏ và hơi đỏ nâu và những màu này thường nổi bật lên trên trên nền màu trắng
sáng của mô tế bào. Có trường hợp bệnh tạo ra những vết đổi màu kem, khó có thể
phân biệt trong toàn bộ đốt khi so sánh với mô của cây khỏe mạnh. Nhưng khi các vệt
này xuất hiện tại một nốt mà nốt kế cận lại không biểu hiện thì vẫn không chắc là nó
có bị bệnh cằn mía gốc hay không. Để chẩn đoán chính xác, thì các vệt đổi màu phải
xuất hiện trên tất cả các nốt của cây. Triệu chứng của RSD trên chồi mía 1 - 2 tháng
tuổi là sự chuyển hồng tại các đốt còn non, nhưng nó diễn ra chỉ trong vài dòng mía và

thân có nhiều vết màu đỏ tươi (Hình 14).
- Sự lan truyền: Bệnh được lan truyền trong điều kiện thiên nhiên khi vết gãy
giữa các lá gây ra vết thương, qua đó tác nhân gây bệnh có thể đi vào lá. Sự phân tán
bệnh là do hom giống, mưa gió và các dụng cụ chặt.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Không để vườn mía bị ngập úng.
+ Ngâm hom mía vào nước nóng 50°C trong 2-3 giờ hoặc 52°C trong nửa giờ
hoặc trong hơi nóng 54°C trong 8 giờ trước khi đem ra trồng. Dùng hơi nóng sẽ ít gây
hại cho hom mía non hơn là dùng nước nóng (do dễ bị hư chồi mầm).
+ Dùng giống kháng bệnh.
15. Bệnh chảy gôm: Sugarcane gumming disease
- Tác nhân: Do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. vasculorum (Cobb 1894
Vauterin et al. (1995).
- Triệu chứng: Giai đoạn ở lá của bệnh này bắt đầu bằng những sọc vàng từ
ngọn lá và tiến triển vào trong dọc theo các gân phụ, từ góc lá đến gân chính, sọc trở
thành hoại tử hướng lên ngọn lá. Ở giống mẫn cảm, sọc kéo dài dần, cuối cùng xâm
nhập bẹ lá và thân để khởi đầu giai đoạn hệ thống của bệnh. Triệu chứng bên ngoài
liên quan với giai đoạn này là một phần hay toàn thể các lá bị vàng hoại tử. Triệu
chứng bên trong gồm sự biến màu của mạch dẫn truyền ở đốt và lóng, các túi mủ, đặc
biệt ở đốt, ở trong mô của lóng và ngay cả ở điểm sinh trưởng. Nếu điểm sinh trưởng
bị ảnh hưởng, cây chết. Một chất mủ vàng tiết ra từ vết cắt ngang thân hay giữa bẹ và
những lá non vẫn không cuộn vào trong đọt. Triệu chứng khác là sự biến dạng lá và
chồi, sọc đỏ ở lá và những vết thương như “vết cắt bằng dao” (Hình 15).
- Sự lan truyền: Bệnh được lan truyền trong điều kiện thiên nhiên khi vết gãy
giữa các lá gây ra vết thương, qua đó tác nhân gây bệnh có thể đi vào lá. Sự phân tán
bệnh là do hom giống, mưa gió và các dụng cụ chặt.
- Biện pháp phòng trừ: Chưa có cách phòng trừ hữu hiệu, tuy nhiên trước mắt
có thể áp dụng các cách sau:
+ Dùng giống kháng.
+ Dùng hom sạch bệnh lấy từ vườn ươm đã hủy sạch các bụi mía bị nhiễm.

bằng nuôi cấy mô có thể hạn chế được SCMV trong nhà kiểm dịch.
+ Dùng giống kháng.
+ Dùng hom sạch bệnh, gồm chuỗi xử lý nước nóng đến việc tạo dựng nên
những vườn ươm giống sạch bệnh.
+ Hủy bỏ bụi mía nhiễm và cày phá gốc ruộng mía bệnh.
+ Không trồng xen bắp trong ruộng mía.
18. Cỏ dại:
- Tác hại của cỏ dại:
+ Ảnh hưởng trực tiếp: Cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, nước, dinh dưỡng với cây
trồng và là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất cây trồng.
+ Ảnh hưởng gián tiếp: Cỏ dại là ký chủ của nhiều loại dịch hại (sâu, rầy); làm
ảnh hưởng đến độ màu mỡ của đất (trừ cây họ đậu); làm tăng chi phí sản xuất (phòng
trừ cỏ); làm cản trở quá trình chăm sóc, thu hoạch mía. Từ đó làm ảnh hưởng đến chất
lượng mía nguyên liệu.
- Phân loại cỏ dại: Thông thường thuốc trừ cỏ thường có tác dụng chọn lọc do
đó việc biết nhận dạng phân loại cỏ có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại trong việc
phòng trừ cỏ bằng thuốc hoá học. Có nhiều cách phân loại như:
+ Phân loại theo thời gian sống: Cỏ hằng niên: Rau dền, cỏ tràn đồng…; Cỏ đa
niên: Cỏ chỉ, cỏ ống…
+ Phân loại theo điều kiện sống: Cỏ ngập nước: Cỏ năng, rau bợ…; Cỏ trên
cạn: Cỏ hôi, rau dền …
+ Phân loại theo hình thái: Trong các cách phân loại trên, phân loại theo đặc
điểm hình thái rất quan trọng trong việc chọn đúng thuốc trừ cỏ.Theo cách phân loại
này cỏ dại chia làm 3 nhóm chính như sau: cỏ hoà bản, cỏ cói lác, cỏ lá rộng
Phân biệt cỏ theo hình thái
Loại cỏ
TT Nhận dạng
Hòa bản Cỏ lác Lá rộng
1
Cách mọc

Tên cỏ
dại diện
Cỏ ống, cỏ bông
Cỏ chỉ, cỏ mần trầu…

Cỏ năng, cỏ cháo
Cỏ gấu, cỏ lác…
Cỏ hôi, rau dền
Rau mương, cỏ mần
ri…
- Biện pháp phòng trừ:
1/ Biện pháp thủ công: Làm cỏ tay bằng cuốc. Ưu điểm là dễ thực hiện. Nhược
điểm là chậm, tốn nhiều công, không hiệu quả trong mùa mưa và dễ bị động nhân
công khi vào vụ chăm sóc.
2/ Biện pháp cơ giới: Dùng máy (hoặc trâu bò) cày xới giữa hàng mía để cắt,
vùi lấp những loại cỏ hằng niên nhỏ, đưa những hạt cỏ bị vùi trong đất lên tầng mặt để
chúng nảy mầm và được diệt sau đó. Ưu điểm là dễ thực hiện, có thể kết hợp với các
đợt bón phân thúc cho mía. Nhược điểm là kém hiệu quả đối với củ rạng và các loại cỏ
có thân ngầm như cỏ tranh, cỏ gấu.
3/ Biện pháp hóa học: Dùng thuốc hóa học để phun diệt cỏ. Ưu điểm là chi phí
thấp, hiệu quả kéo dài. Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có kiến thức về
thuốc BVTV, dễ gây ra hiện tượng “lờn thuốc” ở cỏ dại và ảnh hưởng môi trường.
+ Ngay sau trồng: Nếu đất có nguồn cỏ nhiều có thể phun các loại thuốc tiền
nảy mầm như: Ansaron, Gesapax, Ametryne, Mizine hoặc Astrazine từ 2 – 2,5kg/ha.
Phun phủ toàn bộ ruộng từ 2 – 5 ngày sau trồng (Chú ý: Nếu đất đủ ẩm hiệu lực trừ cỏ
sẽ cao hơn).
+ Giai đoạn 20 – 30 ngày sau trồng: Có thể sử dụng Gexsapax, Ansaron hoặc
Ametryne 3kg/ha, phun trong hàng mía (hạn chế để thuốc tiếp xúc ngọn và lá mía)
hoặc làm cỏ thủ công kết hợp xới xáo giữa hàng.
+ Giai đoạn 2- 6 tháng sau trồng: Có thể áp dụng biện pháp thủ công hoặc hóa

1. Giai đoạn trước khi trồng
- Đối tượng phòng trừ: Các loài sâu đục thân, rệp sáp, sùng trắng, các bệnh vi
khuẩn, các bệnh nấm lây qua hom giống
- Nội dung thực hiện:
+ Vệ sinh đồng ruộng: Trước khi trồng cần vệ sinh, phát quang bờ lô, băm vùi
lá mía để diệt các mầm mống sâu bệnh trong tàn dư mía của vụ trước, đồng thời làm
mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của sâu bệnh. Những ruộng mía bị sậu bệnh nặng
thì cho đốt lá để tiêu diệt nguồn sâu bệnh hại trước khi tổ chức trồng lại.
+ Lựa chọn thời vụ trồng thích hợp và trồng đúng thời vụ: Lựa chọn thời vụ
trồng thích hợp và trồng đúng thời vụ sẽ đảm bảo cho cây mía sinh trưởng, phát triển
tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích
hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loại sâu bệnh quan trọng,
đảm bảo cho cây trồng tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh. Ở vùng Đông
Nam bộ, có 2 vụ trồng. Trong đó vụ Đông Xuân (hay vụ cuối mưa) chủ yếu nên
trồng mía nguyên liệu, thời gian trồng cần tập trung trong khoảng từ ngày 1/11 đến
ngày 15/1 dương lịch năm sau. Còn vụ Hè Thu (hay vụ đầu mưa) chủ yếu nên trồng
nhân mía giống cung cấp giống cho vụ trồng Đông Xuân hoặc cung cấp nguyên liệu
cho giai đoạn cuối vụ ép, thời gian trồng vụ Hè Thu cần tập trung trong khoảng từ
1/5 đến ngày 15/6 dương lịch. Lưu ý: Tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết, độ ẩm đất
(đạt 70-75 %) có thể kéo dài thời vụ trồng ở vụ Đông Xuân. Còn ở vụ Hè Thu không
nên kéo dài quá 15/6 dương lịch.
+ Chọn các giống mía tốt, sạch bệnh, chống chịu sâu bệnh: Giống tốt sẽ sinh
trưởng, phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng cao. Còn giống chống chịu sâu bệnh
tốt sẽ giúp giảm sử dụng thuốc hóa học, giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ được thiên
địch, giữ được cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp trong ruộng mía. Các loại giống
mía tốt hiện nay ở vùng Đông Nam bộ:
Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
23/46

o
C trong thời gian từ 30 phút (tùy đối tượng sâu bệnh) để loại
trừ các mầm mống sâu, bệnh lạ ẩn chứa trong hom giống. Ngoài ra, có thể ngâm hom
trong dung dịch thuốc trừ sâu dimethoate 0,08% trong 15 phút để loại trừ hết các mầm
mống sâu hại còn bám dính hoặc ẩn chứa trong hom.
+ Cày sâu, bừa kỹ để làm lộ thiên các loài sâu hại trong đất như sùng trắng, xén
tóc, mối, kiến,… cho chim ăn hoặc bị khô chết.
2. Giai đoạn trồng mía
- Đối tượng phòng trừ: Mối, sâu đục thân 5 vạch đầu nâu (đục mầm), sâu đục
thân mình tím, cỏ dại
- Nội dung thực hiện:
+ Bón 20-25 kg thuốc trừ sâu diazinon thành phẩm dạng hạt (loại 10 H) hoặc
phun 3 L thuốc diazinon thành phẩm dạng dung dịch (pha với 3.500 lít nước) xuống
đáy rãnh trước khi đặt hom và lấp.
+ Lấp hom kín, không để trồi hom lên trên mặt ruộng cho sâu mình tím đến đẻ
trứng gây hại về sau.
+ Ngay sau khi trồng, nếu đất đủ ẩm và có nhiều nguồn cỏ dại, có thể phun các
loại thuốc tiền nảy mầm như: Ansaron, Gesapax, Ametryne, Mizine hoặc Astrazine từ
2 – 2,5kg/ha. Phun phủ toàn bộ ruộng từ 2 – 5 ngày sau trồng.
Sổ tay quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây mía

Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường – 6/2011
24/46
3. Giai đoạn mía kết thúc nảy mầm đến đầu vươn lóng
- Đối tượng phòng trừ: sâu đục thân 5 vạch đầu nâu (đục mầm), sâu đục thân
mình tím, sâu đục thân mình trắng, bệnh than, trắng lá
- Nội dung thực hiện:
+ Tiến hành trồng xen mía với các cây họ đậu hoặc rau để tạo thêm nguồn thức
ăn cho thiên địch sinh sống và phát triển, hạn chế cỏ dại. Việc trồng xen đặc biệt có
hiệu quả đối với mô hình canh tác hàng kép rộng kết hợp chăm sóc cơ giới.

vừa chừa lại những khoảng không gian nhất định cho các loài thiên địch cư trú và thực
hiện thiên chức của mình.
+ Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, đào, bứng triệt để và tiêu hủy cây bị bệnh
than, thối đỏ, trắng lá, chảy gôm, thân ngọn đâm chồi, khảm lá vi rút,
+ Cắt mầm vô hiệu lúc mía 7- 8 tháng tuổi.
+ Bẫy đèn thu bắt trưởng thành sâu đục thân mình hồng và mình tím.
+ Phát hiện rầy chích hút có thể dùng các biện pháp đã nêu ở trên.

Trích đoạn HÌNH ẢNH CÁC LOÀI SÂU BỆNH HẠI MÍA VÀ THIÊN ĐỊCH CỦA CHÚNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status