Báo cáo nghiên cứu khoa học " ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA BÃ SẮN CÔNG NGHIỆP Ủ CHUA VỚI CÁC PHỤ GIA ĐỂ LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI " doc - Pdf 14

ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA BÃ SẮN CÔNG NGHIỆP Ủ
CHUA VỚI CÁC PHỤ GIA ĐỂ LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI
Nguyễn Hữu Văn, Nguyễn Xuân Bả
Trường Đại học Nông nghiệp, Đại học Huế
Bùi Văn Lợi
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Bã sắn công nghiệp được ủ chua với các phụ gia khác nhau trong túi ny
lon. Các phụ gia đựợc sử dụng là: cám gạo 3% + muối ăn 0.5% (tính theo khối
lượng tươi) (BSC); rỉ mật 3% + muối ăn 0,5% (BSMa); và muối ăn 0.5% (BSMu).
Bã sắn được trộn đều theo các công thức và ủ yếm khí trong 15 túi riêng biệt cho
mỗi công thức. Mẫu thức ăn ở 3 túi ny lon trong mỗi công thức ủ được lấy ngẫu
nhiên ở các thời điểm 0, 7, 14, 21 và 42 ngày sau khi ủ để phân tích thành phần
hóa học. Giá trị pH và hàm lượng HCN ở các công thức giảm nhanh chóng sau
khi ủ. Giá trị pH thấp dưới 3,8 sau 21 ngày ủ và hàm lượng HCN sau 14 và 21
ngày ủ lần lượt giảm xuống dưới mức 100 và 80 mg/kg DM. Hàm lượng protein
thô khá thấp (3,5 đến 5,3% DM) ở các khối ủ. Từ các kết quả phân tích cho thấy
bã sắn công nghiệp có thể được bảo quản bằng phương pháp ủ chua để làm thức
ăn cho gia súc nhai lại trong điều kiện nông hộ.
Từ khóa: Bã sắn, gia súc nhai lại, giá trị dinh dưỡng, ủ chua.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực có sản lượng lớn thứ hai, chỉ sau cây lúa
và đang có xu hướng tiếp tục tăng về diện tích và sản lượng. Theo số liệu của
Tổng cục thống kê, năm 2005 diện tích trồng sắn của cả nước khoảng 424 nghìn
ha, với sản lượng 6,6 triệu tấn củ thì năm 2006 đã tăng lên 475 nghìn ha, với sản
lượng 7,7 triệu tấn củ. Hiện nay, sắn chủ yếu được dùng làm nguyên liệu cho các

gian từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2006. Mẫu thức ăn ở 3 túi ny lon trong mỗi công
thức ủ được lấy ngẫu nhiên ở các thời điểm 0, 7, 14, 21 và 42 ngày sau khi ủ để
phân tích thành phần hóa học.
Phương pháp phân tích vật chất khô (DM), vật chất hữu cơ (OM), protein
thô (CP), mỡ thô (EE), và khoáng tổng số (Ash) theo AOAC (1990). Xơ không
hòa tan trong chất tẩy trung tính (NDF) được xác định theo Van Soest và cộng sự
(1991). Năng lượng tổng số (GE) được xác định bằng Bomb Calorimeter (Bomb
Calorimeter 6300, Parr Instrument Company), pH được đo bằng pH meter
(Sension 3, HACH Company, USA), HCN được phân tích theo phương pháp của
Easley và cộng sự (1970).
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Exel và Minitab 13.0 theo phương
pháp phân tích phương sai (ANOVA) trên hàm GLM.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần dinh dưỡng của bã sắn tươi
Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của bã sắn tươi được trình bày ở
bảng 1. Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của bã sắn tươi
Thành phần Giá trị
pH 4,21
HCN (mg/kg DM) 240
HCN (mg/kg vật chất tươi) 26,9
DM (% vật chất tươi) 11,2
OM (% DM) 97,2
CP (% DM) 3,6
EE (% DM) 0,3
NDF (% DM) 31,2
Ash (% DM) 2,8
GE (Kcal/kgDM) 4180
trong khối ủ. Nguyên nhân của sự thay đổi nhanh hơn này có thể là do trong rỉ mật
và cám có nhiều cơ chất dễ lên men cho vi sinh vật hoạt động nên tạo ra nhiều axit
lactic hơn làm giảm nhanh pH. Tuy nhiên, sau khi ủ 21 ngày, giá trị pH ở các công
thức ủ đều giảm xuống dưới 3,8. Bùi Quang Tuấn (2005) cho biết pH của bã sắn
chế biến thủ công được ủ với rỉ mật + muối hoặc chỉ ủ với muối giảm xuống dưới
3,9 và hàm lượng axít lactic khá cao sau 30 ngày ủ. McDonald và cộng sự (1991)
cho rằng với cỏ có hàm lượng nước cao thì pH giảm xuống dưới 4,2 sẽ bảo quản
tốt khối ủ, điều này chỉ ra rằng bã sắn ủ ở cả 3 công thức ủ của chúng tôi ở đây đều
được bảo quản tốt.
3 . 4
3 . 6
3 . 8
4 . 0
4 . 2
4 . 4
0 1 0 2 0 3 0 4 0 5 0
T h ờ i g ia n s a u k h i ủ (n g à y )
p H
B S M u
B S M a
B S C

Đồ thị 1: Thay đổi pH theo thời gian ủ
Hàm lượng HCN cũng giảm nhanh (p<0,001) theo thời gian ủ (đồ thị 2) và
không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê vào ngày thứ 21 và 42 giữa các công
thức ủ. Hàm lượng HCN giảm xuống dưới 100 mg/kg DM sau 14 ngày và dưới 80
mg/kg DM sau 21 ngày. Makkar (1991) cho biết lượng HCN ăn vào 2 – 4 mg/kg
trọng lượng sống có thể gây ngộ độc cho trâu bò. Sau 21 ngày ủ, chúng tôi dự định


BSC BSMu

BSMa

BSC P pH 4,08 4,29 4,21 3,75 3,78 3,67 0,016
HCN (mg/kg
DM)
209 207 192 79 77 81 0,432
DM (% chất tươi)

11,6 13,2 14,3 13,3 12,6 14,7 0.040
OM (% DM) 92,6 91,9 93,2 93,1 91,6 92,4 0,071
CP (% DM) 3,6 3,6 5,3 3,4 3,6 5,3 0,001
EE (% DM) 0,2 0,3 3,4 0,4 0,3 3,2 0,001
NDF (% DM) 30,2 26,6 25,7 30,1 26,5 25,4 0,001
Ash (% DM) 7,4 8,1 6,8 6,9 8,4 7,6 0,071
GE (Kcal/kg
DM)
3926 3915 4179 3900 3984 4070 0,190
Kết quả bảng 2 cho thấy ngoại trừ sự biến động đáng kể của giá trị pH và
hàm lượng HCN theo chiều hướng có lợi cho quá trình bảo quản và sử dụng bã
sắn ủ, các thành phần dinh dưỡng không có sự chênh lệch nhiều giữa bã sắn ủ sau
21 ngày so với trước khi ủ trong cùng một công thức. Như vậy, có thể nói rằng cả
3 công thức nói trên đều có thể sử dụng để bảo quản tốt chất lượng bã sắn theo
bò. Tạp chí chăn nuôi, số 9 (2005)
3. Đặng Thị Thu. Làm giàu protein cho bột sắn sống bằng phương pháp lên
men trên môi trường rắn dùng làm thức ăn cho gia súc. Tạp chí khoa học
và công nghệ. Tập XXXIII-1995-1, Trung tâm khoa học tự nhiên và công
nghệ Quốc gia, (1995) 1- 4.
4. Easley, J. F., J. T. McCall, G. K. Davis and R. L. Shirley. Nutrition
laboratory of Department of Animal Science, University of Florida (1970)
5. Lê Văn Hoàng. Xử lý bã sắn sau chế biến làm thức ăn gia súc và phân bón.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Mã số: B97-13-06 (1998)
6. Makkar, H. P. S. Anti-nutritional factors in food for livestock. In Animal
Production in Developing Countries, Proceedings of a symposium British
Society of Animal Production Occassional Publication No. 16. (1991)
7. McDonald, P., A. R. Henderson and S. J. E. Heron. The Biochemistry of
Silage. Chalcombe Publications, Marlow, UK (1991)
8. Nguyễn Thị Xuân Sâm, Đặng Thị Thu. Bã sắn lên men-nguồn thức ăn giàu
dinh dưỡng cho chăn nuôi bò sữa và lợn. Tạp chí khoa học và công nghệ.
Tập XXXIX-1996-5, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc
gia (1996) 8 -12
9. Tổng cục thống kê. Niên giám thống kê 2005. Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội (2006)
10. Van Soest, P.J., J. B. Robertson and B. A. Lewis. Methods for dietary fibre,
neutral detergent fibre and non-starch polysaccharide in relation to animal
nutrition. J. Dairy Sci. 74: 3583-3597 (1991) THE EVALUATION OF NUTRITIVE VALUES OF ENSILED
CASSAVA BAGGASE AS FEED FOR RUMINANTS
Nguyen Huu Van, Nguyen Xuan Ba


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status