31
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ TRONG NHỮNG NĂM
QUA - SỬ DỤNG MÔ HÌNH HỒI QUI TƯƠNG QUAN PHƯƠNG SAI
KHÔNG ĐỒNG NHẤT CÓ ĐIỀU KIỆN (ARCH)
Nguyễn Đăng Hào
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực tế cho thấy rằng kể từ những năm của thập kỷ 90, ngành cà phê nước
ta đã có bước tăng trưởng vượt bậc và trở thành một ngành kinh tế quan trọng
của nền kinh tế nông nghiệp. Cà phê là nông sản xuất khẩu quan trọng đứng hàng
thứ hai sau lúa gạo. Bên cạnh đó về mặt xã hội, ngành cà phê còn thu hút trực
tiếp khoảng 600 ngàn lao động, chiếm xấp xỉ 3% tổng lao động nông nghiệp và
cuộc sống của khoảng 1 triệu người chịu ảnh hưởng từ sự phát triển của ngành cà
phê.
Tuy vậy quá trình tự do hóa thương mại cũng đang đặt ra nhiều thách thức
cho sản xuất cà phê nước ta.
Sự dao động lớn của giá cà phê là nét đặc trưng lớn nhất của thị trường cà phê
thế giới trong những năm vừa qua. Trong lúc đó người sản xuất lại mù quáng
chạy theo thị trường với một hệ thống thông tin thị trường không đối xứng có
thể làm cho thị trường càng dao động lớn hơn. Hậu quả là giá cà phê bị sụp
đổ và nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng không tốt đến người sản xuất.
32
Xu hướng vận động của thị trường nông sản có thể dẫn đến những bất lợi cho
sản xuất nông nghiệp nước ta. Theo một số kết quả nghiên cứu, theo sau quá
trình tự do hóa thương mại, giá cả hàng hóa nông sản có xu hướng giảm
xuống trong dài hạn, và tình hình này còn tiếp tục trong những năm sắp đến
Te +
5
Ret +
iDi
+
t
(1)
2
t
=
0
+
j
2
t - j
+
iDi
+
t
(2)
Trong đó:
Pt,
2
t
là giá nông sản và phương sai giá có điều kiện tại thời điểm t (tháng
những bất lợi cho sản xuất cà phê nước ta. Theo một số kết quả nghiên cứu, theo
sau quá trình tự do hóa thương mại, diện tích cà phê thế giới đã gia tăng nhanh ở
các nước sản xuất cà phê. Kết quả là cung cà phê tăng nhanh trong thời gian gần
đây và giá cà phê giảm xuống mức thấp nhất trong mấy chục năm gần đây.
Những xu hướng thay đổi trong cung, cầu, kho đệm và sự dao động lớn của giá
cà phê đang là những mối quan tâm hàng đầu cúa các nước đang phát triển dưới
tác động của chính sách tự do hóa thương mại hiện nay.
35
Sản lượng cà phê quốc tế không ngừng tăng lên từ mức 90 triệu bao trong
những năm 1980 lên 110 triệu bao những năm cuối 1990 và đầu thế kỷ 21 (bảng
1). Trong đó chủ yếu là cà phê chè (arabica) chiếm tỷ trọng trên 60%.
Bảng 1: Sản lượng cà phê thế giới trong những năm 1997-2004
(ĐVT: triệu bao, 1 bao=60kg)
1997/98 1998/99 1999/2000
2000/01 2001/02 2002/03 2003/04
Arabica
64,899 74,913 73,697 71,223 67,892 82,431 65,887
Robusta
32,753 33,506 39,706 45,638 42,834 41,720 39,345
Total 97,652 108,419 113,403 116,861 110,726 124,151 105,132
Nguồn: ICO annual statistics
Sản lượng cà phê gia tăng chủ yếu từ 2 khu vực sản xuất cà phê lớn của
thế giới, đó là châu Mỹ và châu Á. Đặc biệt là trong những năm qua diện tích và
Biểu đồ 1: Tình hình sản lượng sản xuất - xuất khẩu và nhập khẩu cà phê
Một phản ứng có tính chất qui luật trên thị trường cà phê quốc tế đó là khi
lượng cung vượt quá lượng cầu thì giá cà phê giảm xuống. Chẳng hạn tình trạng
thiếu hụt lớn cà phê trong những năm 1994-1995 đã làm cho giá cà phê tăng đột
biến trong những năm này. Ngược lại sự dư thừa lớn cà phê trong những năm
1999/2002 đã kéo theo sự giảm giá xuống mức rất thấp.
3.2. Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê ở nước ta
37
Việt Nam là một trong những nước sản xuất cà phê có tốc độ tăng trưởng
nhanh. Giai đoạn 1994 đến nay diện tích cà phê tăng rất nhanh, bình quân một
năm trồng mới trên 43.000 ha. Đặc biệt là những năm 1994, 1995 và 1996 bình
quân mỗi năm trồng mới trên 70.000 ha, chủ yếu là ở các tỉnh Tây Nguyên. Tốc
độ tăng diện tích bình quân hàng năm thời gian này là 24%/năm. Vào những năm
cao nhất (năm 2001) cả nước có 535.000 ha cà phê, tổng sản lượng đạt đến
900.000 tấn (biểu đồ 3).
0
100000
200000
300000
400000
500000
600000
700000
800000
900000
1000000
1980'
1982'
ch hn khi m Vit Nam tr thnh mt trong nhng nc hng u v sn xut
v xut khu c phờ Robusta, c bit l sau chớnh sỏch t do hoỏ th trng c
phờ xut khu t nhng nm u thp k 90, tip theo ú nhng bin ng ln
trờn th trng c phờ quc t ngay lp tc tỏc ng n th trng c phờ trong
nc
0
100
200
300
400
500
600
700
800
900
1000
1990'
1991'
1992
1993'
1994'
1995'
1996'
1997'
1998'
1999'
2000'
2001'
2002'
2003'
Biểu đồ 4: Mối quan hệ giữa giá cà phê ở thị trường trong nước và thị trường
quốc tế
Trong thời kỳ 1990-2005 giá cả cà phê ở thị trường trong nước cũng dao
động rất lớn, mức giá cà phê cao nhất là năm 1994, với mức bình quân 22 ngàn
đồng/kg, trong khi đó mức giá thấp nhất là 3,23 ngàn đồng trong năm 2002.
Trong thời kỳ 1998-2005 giá cà phê có xu hướng giảm xuống mức kỷ lục trong
lịch sử ngành cà phê nước ta, giá bình quân cho cả thời kỳ này chỉ đạt 6,63 ngàn
đồng/kg. Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá thành sản xuất cà phê hiện nay,
dẫn đến tình trạng thua lỗ trầm trọng cho người sản xuất cà phê.
3.3.Để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến giá cà phê và sự dao động của
giá cà phê ở nước ta, kết quả mô hình hồi quy tự tương quan phương sai không
đồng nhất có điều kiện có kết quả như sau.
Bảng 2: Kết quả mô hình ARCH
40
Giá bình quân (Pt)
Các biến giải thích
Hệ số ước lượng Kiểm định z
Hệ số tự do (c) -30,056 -13,13
Giá cà phê thế giới (Pw) 0,68 59,67
Tỷ giá hối đoái (Re) 0,0013 9,18
Thuế xuất khẩu (Ti) -0,64 -10,62
Biến dummy D1 (1994) 14.95 18.19
Phương sai giá (
2
t
)
42
Kết quả ước lượng cũng cho thấy rằng phương sai giá cà phê trên thị
trường trong nước những năm qua dao động rất lớn là do các nhân tố giá cà phê
thế giới, tỷ giá hối đoái, đặc biệt là sự thay đổi chính sách thương mại năm 1994
đã làm cho thị trường cà phê trong nước phụ thuộc lớn hơn vào giá cà phê thế
giới. Kết quả là sự dao động lớn của giá cà phê ở nước ta phần lớn do nhân tố
này tác động.
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu này chúng tôi rút ra một số kết luận và kiến nghị
như sau:
Giá cả cà phê trên thị trường thế giới trong những năm qua dao động rất
lớn, đặc biệt giá cà phê có xu hướng giảm xuống mức rất thấp trong những năm
qua. Tình hình sụp đổ của giá cả cà phê trước hết là do sự gia tăng nhanh của
diện tích cà phê ở những nước sản xuất lớn như Brazil, Côlômbia và Việt Nam.
Diện tích cà phê thế giới tăng nhanh và phản ứng cung cà phê lại rất trễ. Điều này
dẫn đến một sự thiếu hụt tạm thời cung cà phê làm giá cà phê tăng cao ở một thời
điểm nào đó có thể làm cho các nước mở rộng diện tích cà phê. Kết quả là khối
lượng cung cà phê tăng đột biến sau một số năm nào đó và hậu quả là giá cà phê
sẽ hoàn toàn sụp đổ.
Sự phát triển của ngành cà phê nước ta trong những năm qua chịu ảnh
hưởng lớn của chính sách tự do hoá thương mại. Việc mở rộng quá nhanh diện
tích cà phê và xuất khẩu lớn cà phê của nước ta đã có ảnh hưởng lớn đến thị
trường cà phê thế giới. Kết quả là giá và sự dao động giá cà phê ở thị trường
trong nước chịu ảnh hưởng ngày càng lớn của tình tình dao động của thị trường
cà phê quốc tế.
43
Trong khi người sản xuất cà phê ở nước ta có qui mô và năng lực sản xuất
6. Thoberke, E. Agricultural Market Beyond Liberalization: The Role of the
State, Kluwer Academic Publishers (2000).
ASSESSMENT OF COFFEE MARKET IN THE LAST YEARS - AN
APPLICATION OF AUTOREGRESSIVE CONDITIONAL
HETEROSKEDASTICITY (ARCH)
Nguyen Dang Hao
College of Economics, Hue University
SUMMARY
The overall impacts of trade liberalization on agricultural market are
widely acknowledged with wide fluctuation of prices. The study aims to explore
the relationship between the coffee prices in the world market and in Vietnam
following liberalization of coffee market. Using monthly time-series data from
1990 to 2005, the Autoregressive Conditional Heteroskedasticity (ARCH) model
is specifically designed to assess the factors which are affected the coffee price
and conditional variances of coffee price in Vietnam.
45
Results of the study indicated that following the trade liberalization, coffee
price in Vietnam is strongly dependent on the world market prices, as well as
trade policies issued by Vietnamese government towards trade liberalization.
The changes in the world market are immediately transferred to domestic market
in the last decades. Integration into the world coffee market and become one of
the biggest coffee producers, the wide volatility and rapid collision of coffee
prices have caused many challenges for small coffee producers since they are
lack of market information and coping strategies to reduce risks and uncertainty.
There is a need for effective policies to manage coffee sector by optimizing coffee
area, encouraging the diversification and improving coffee quality by using
organic technology. At the same time, it is necessary to more open market access