Phát triển kinh tế: từ lý luận đến thực tiễn và sự lựa chọn của việt nam - Pdf 15

PHÁT TRIỂN KINH TẾ: TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC
TIỄN VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM
PGS,TS Ngô Thắng Lợi
Trường Bộ môn Kinh tế phát triển
Đại học Kinh tế Quốc dân – Hà Nội
1. NỘI HÀM CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1 Các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế
Trước hết chúng ta bắt đầu bằng cách nhìn nhận nền kinh tế bao gồm hai lĩnh
vực cơ bản, đó là Lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội. Lĩnh vực hoạt động kinh tế là
toàn bộ các hoạt động sản xuất vật chất, cùng với những hoạt động trao đổi và phân
phối vật chất có liên quan trực tiếp đến sản xuất. Lĩnh vực này bao gồm: (i) hoạt
động của các ngành trực tiếp gắn với sản xuất vật chất, (ii) tất cả các hoạt động có
liên quan trực tiếp với phân phối các tư liệu vật chất, bao gồm tất cả các hoạt động
thương mại, hoạt động tiền tệ, vận tải, bảo quản kho tàng v.v, (iii) các công tác tổ
chức và quản lý hoạt động kinh tế. Lĩnh vực hoạt động xã hội là những hoạt động
trao đổi, phân phối, tiêu phí vật chất và phi vật chất có liên quan gián tiếp với kinh
tế cùng với các hoạt động khác không có liên quan với hoạt động kinh tế. Các hoạt
động chủ yếu của lĩnh vực xã hội là: (i) bảo đảm của xã hội đối với đời sống vật
chất cho con người như bảo đảm việc làm, thu nhập, mức sống thực tế, tiêu phí sinh
hoạt cùng với tình trạng của các ngành phục vụ cuộc sống của con người; (ii) bảo
đảm đời sống văn hoá, tinh thần của xã hội, bao gồm: Học tập, nghiên cứu, vui
chơi, luyện tập thể dục, thẩm mỹ; (iii) quản lý các hoạt động xã hội, liên quan đến
hai nội dung: một mặt là sự bảo đảm của xã hội đối với cá nhân như bảo hiểm xã
hội, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường, mặt khác là việc xã hội tham gia hoạt động
quản lý như quản lý hành chính nhà nước, trị an xã hội, an ninh phòng vệ quốc gia,
v.v
1.2 Nội hàm của phát triển kinh tế
Theo logic trên, khi nói đến một xã hội phát triển, chúng ta thường hình dung
ra một xã hội, ở đó mọi người được ăn ngon, mặc đẹp, có khả năng chủ động trong
việc tiếp cận các loại tài sản vật chất, có những hoạt động vui chơi giải trí sang
trọng, được sống trong một môi trường trong sạch và lành mạnh; mặt khác, chúng ta

triển và có vai trò khác nhau trong quá trình thực hiện sự phát triển. Tăng trưởng
kinh tế là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện
cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu
khác của phát triển. Tuy vậy một quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhanh chưa chắc
đã có sự tiến bộ xã hội. Điều đó có nghĩa là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần
nhưng không đủ để có sự phát triển. Trình độ của cơ cấu ngành kinh tế thể hiện bản
chất của sự phát triển, là dấu hiệu để đánh giá các giai đoạn phát triển kinh tế. Để
phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa
2
Phát triển KT = Tăng trưởng KT + Chuyển dịch CCKT + Tiến bộ XH
các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế
mà quốc gia đạt được. Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc
gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là sự tiến bộ xã
hội cho con người, cụ thể là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, tăng tuổi thọ
bình quân, tăng khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, nâng cao trình độ
dân trí, giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân, v.v Hoàn thiện sự tiến bộ xã
hội là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển mà mỗi quốc gia đều.
Phát triển với bản chất nêu trên phải là một quá trình lâu dài, diễn ra theo các
nấc thang tuần tự và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định. Trong cuốn
"Các giai đoạn phát triển kinh tế" (the stages of Economic Growth) (1961) của
Walter W. Rostow, một nhà lịch sử kinh tế nổi tiếng, đã đưa ra một cách tổng hợp
theo lịch sử về những bước (giai đoạn) tuần tự mà mỗi quốc gia phải trải qua trong
quá trình phát triển. Theo ông, quá trình phát triển kinh tế trải qua lần lượt 5 giai
đoạn: nền kinh tế truyền thống – giai đoạn chuẩn bị cất cánh – giai đoạn cất cánh –
giai doạn trưởng thành – và cuối cùng là giai xã hội tiêu dùng. Mỗi giai đoạn được
đặc trưng bởi cơ cấu ngành kinh tế, tỷ lệ tích luỹ, những đặc trưng của sự phát triển
các ngành và lĩnh vực kinh tế, xã hội. Hiện nay cũng có nhiều ý kiến bình luận và
phê phán về những khía cạnh không còn phù hợp của 5 giai đoạn trong lý thuyết
của Rostow, tuy nhiên, chúng ta vẫn cần nhấn mạnh đến sự vận dụng lý thuyết này
trên một số khía cạnh khá hợp lý như sau:

toán tăng trưởng kinh tế nhanh. Có những nước thì lại qua nhấn mạnh đến giải
quyết công bằng xã hội và xem đó là tất cả những gì gọi là phát triển v.v Các
nghiên cứu thực nghiệm cũng đã đúc kết thành những mô hình cụ thể, mỗi mô hình
có những đặc trưng riêng, và có những kết cục tất yếu của nó.
2.1 Mô hình nhấn mạnh công bằng xã hội trước và tăng trưởng kinh tế sau.
Đây là mô hình được sử dụng trong lịch sử phát triển của các nước thuộc hệ
thống Xã hội chủ nghĩa trước đây (gọi là thế giới thứ 2), như: Liên Xô cũ, các nước
XHCN Đông Âu, Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam, v.v Ý tưởng chung của mô hình
là coi các chính sách tạo sự công bằng xã hội là điều phải làm trước tiên khi thu
nhập của nền kinh tế, tăng trưởng còn ở tình trạng rất thấp và xem như đó là điều
kiện, là điểm mấu chốt để thực hiện tăng trưởng và phát triển kinh tế. Theo mô hình
này, quá trình phát triển phải được bắt đầu bằng sự kiện “tước đoạt của những kẻ đã
đi tước đoạt” thông qua chính sách cải cách ruộng đất và đánh tư sản. Nhà nước tiến
hành quốc hữu hoá tài sản, nguồn lực được phân phối lại cho các đơn vị kinh tế
dưới hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Phân phối theo lao động là hình
thức phân phối cơ bản nhất, được thực hiện theo nguyên tắc “làm theo năng lực,
hưởng theo lao động. Ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, ai có sức lao
dộng không làm không hưởng”
Thực tế phát triển của các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây đã phản ánh khá
rõ nét những hiệu ứng tích cực của mô hình. Thứ nhất, tình trạng bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập được giải quyết nhanh chóng ngay từ giai đoạn đầu của
quá trình phát triển. Ở Liên xô cũ, năm 1967, tỷ lệ thu nhập của 20% dân số nghèo
nhất đã đạt tới 10,4%; trong khi đó 20% dân số có mức thu nhập cao nhất chỉ chiếm
có 19,9%. Các con số tương ứng của Mỹ vào thời điểm này là 5,5% và 38,6%;
4
Canada là 6,2% và 37,8%; Pháp là 5,8% và 31,8%; Hệ số GINI vào thập niên 1970
ở Liên xô đã đạt được giá trị 0,23, Tiệp khắc là 0,21, Hungari và Ba lan là 0,24,
trong khi đó vào thời điểm này, hệ số GINI của Mỹ và Canada là 0,34 và 0,35.
(Nguồn: các hệ thống kinh tế so sánh, Paul R. Gregory, 1998). Thứ hai, Sau khi đã
thiết lập được hệ thống sở hữu toàn dân về tài sản và chế độ phân phối theo lao

NS vốn(%)
1960 1985
Tốc độ tăng
TFP (%)
1960 1985
Liên xô 5,8 3,6 4,6 2,3 3,6 -3,7 2,4 0,8
Tiệp khắc 4,8 2,6 4,1 1,6 1,3 -2,1 3,4 0,5
Ba Lan 4,6 3,3 3,6 1,8 2,0 -1,4 3,2 0,8
Hungari 4,6 2,9 3,6 2,6 1,0 -2,1 2,9 1,2
5
LX và Đông Âu 5,5 3,0 4,8 2,5 1,0 -2,1 3,5 0,9
Nguồn: các hệ thống kinh tế so sánh, Paul R. Gregory, 1998
2.2. Mô hình tăng trưởng trước, công bằng xã hội sau ( kiểu chữ U ngược)
Đây là mô hình được khởi nguồn áp dụng ở Mỹ, Canada, Nhật Bản và
phương tây, các nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, tiếp theo đó là sự
lựa chọn của phần lớn các nước khu vực Nam Mỹ như Braxin, Mehico, VeneZuela.
Khu vực đông Nam Á có một số nước như Hồng Kông, hay cả Malaysia, Philipines
cũng đi theo mô hình này. Sự lựa chọn này phù hợp với giả thuyết mà Simon
Kuznets (đưa ra vào năm 1955- khi ông là Chủ tịch Hội đồng kinh tế Mỹ) về mối
quan hệ giữa tăng trưởng (phản ánh qua chỉ số GDP/người) và bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập (phản ánh qua chỉ số GINI) theo dạng chũa U ngược. Các
nghiên cứu thực nghiệm trong vòng 20 năm từ 1962 đến 1985 của chính Kuznets và
Oshima ở khoảng 70 nước trên thế giới và một số công trình nghiên cứu khác nữa
cũng vẫn khẳng định tính đúng đắn cho giả thuyết chữ U ngược (hình dưới).
Hình 1: Mô hình chữ U ngược

Theo mô hình này, các nước thường không quan tâm đến phân phối lại thu
nhập trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển.Vì vậy, trong giai đoạn này, cùng
với quá việc đạt được các thành tựu về tăng trưởng (thu nhập bình quân đầu người
tăng lên) thì sự bất bình đẳng có xu hướng tăng lên, kết quả của tăng trưởng sẽ dồn

là kết quả của sự gia tăng tích luỹ của khu vực công nghiệp và dịch vụ. Sự bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập thể hiện trước hết chính là giữa hai khu vực nông
nghiệp và công nghiệp, do quy mô thu nhập của khu vực công nghiệp ngày càng lớn
trong khi khu vực nông nghiệp lại đang “trì trệ tuyệt đối”. Sự bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập còn xuất phát từ một thái cực khác, đó là giữa ông chủ (người
sở hữu tài sản) và người lao động trong khu vực công nghiệp. Trong khi đầu tư vào
khu vực công nghiệp ngày càng lớn làm cho lợi nhuận tăng lên và thu nhập của
những nhà sở hữu vốn trong công nghiệp ngày cang lớn, thì thu nhập của người lao
động ở khu vực này vẫn không thay đổi, do đây là những người lao động được
chuyển từ khu vực nông nghiệp sang (đều đang hưởng mức tiền công tối thiểu ở
khu vực nông nghiệp) và họ chỉ được trả cùng một mức tiền công như nhau khi
chuyển sang làm việc cho khu vực công nghiệp. Như vậy các nước lựa chọn mô
hình tăng trưởng trước, phân phối lại sau, thì sự bất bình đẳng không chỉ là hệ quả
của tăng trưởng nhanh mà còn là nguyên nhân của sự tăng trưởng nhanh. Khuynh
hướng làm tăng sự bất bình đẳng cuối cùng sẽ bị đẩy lùi khi khu vực nông nghiệp
không còn dư thừa lao động, lúc đó: (i) mức tiền công trả cho người lao động
chuyển từ khu vực nông nghiệp sang làm việc cho khu vực công nghiệp sẽ phải tăng
lên (ngày càng cao) theo sự khan hiếm lao động; (ii) Phần lợi nhuận khu vực công
nghiệp đạt được sau mỗi chu kỳ phải dành một phần để đầu tư lại cho nông nghiệp,
nhằm khắc phục hiện tượng giảm quy mô sản lượng của khu vực nông nghiệp do
thiếu hụt lao động. Như vậy trong giai đoạn sau của quá trình phát triển, bất bình
đẳng ngày càng giảm đi và sự nghèo khó cũng sẽ bị đẩy lùi.
Kết quả đạt được của mô hình này nhìn chung cũng đúng với ý muốn của
những người thiết kế ra nó. Thành tựu nổi bật không thể phủ nhận được đối với các
nước này là tốc độ tăng trưởng và mức thu nhập bình quân đầu người tăng lên khá
nhanh. Tuy vậy, tại đây, bất bình đẳng, phân hoá xã hội và sự nghèo đói kéo dài,
thậm chí rất khó cải thiện kể cả khi thu nhập đã đạt đến một mức rất cao. Trừ các
7
nước Tư bản chủ nghĩa phát triển, hiện nay đã đạt mức công bằng cao trong phân
phối thu nhập như Pháp, Anh, Nhật, Úc, Canada v.v đang có xu hướng hoàn thiện

kinh tế luôn đi đôi với mục tiêu công bằng xã hội. Quá trình tăng trưởng nhanh và
công bằng xã hội lớn hơn là những mục tiêu tương hợp và không mâu thuẫn nhau.
Kết quả tăng trưỏng nhanh góp phần cải thiện mức độ công bằng, hoặc là không
làm gia tăng bất bình đẳng, trường hợp xấu nhất là sự bất bình đẳng có gia tăng
nhưng ở một mức độ thấp cho phép.
8
Nội dung chính của mô hình này được thể hiện rất rõ nét qua những chính
sách can thiệp của chính phủ vào các lĩnh vực kinh tế và xã hội nhằm tạo ra sự phát
triển đồng bộ của cả hai yếu tố này. Một là, chính sách khuyến khích tăng trưởng
kinh tế nhanh, thông qua việc lựa chọn các mô hình công nghiệp hoá và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Mô hình mà Hàn Quốc và Đài Loan sử dụng khá
thành công là mô hình công nghiệp hoá hướng ngoại nền kinh tế thông qua chính
sách nhấn mạnh vai trò của khu vực tư nhân và sự hỗ trợ tích cực của nhà nước
trong những lĩnh vực cần thiết. Hai là, chính sách đầu tư vào các ngành, các lĩnh
vực của nền kinh tế nhằm bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng không gây gia tăng
bất bình đẳng. Kể cả Đức và các nước Bắc Âu, đến Hàn Quốc và Đài Loan đều bắt
đầu quá trình thực hiện tăng trưởng nhanh bằng phát triển mạnh nông nghiệp,
những ngành sản xuất sản phẩm nhiều lao động và các nguồn lực dự trữ ở khu vực
nông thôn, quan tâm đặc biệt đến vấn đề mở rộng quy mô, đa dạng hoá sản xuất và
tăng năng suất lao động trong nông nghiệp. Sau đó sự chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế được thực hiện theo dấu hiệu lợi thế nguồn lực của đất nước và theo hướng
phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ. Sự lựa chọn này vừa đảm bảo
tăng trưởng nhanh, ổn dịnh vừa không có nguy cơ gây bất bình đẳng trong quá trình
phát triển. Sự lựa chọn này phù hợp với quan điểm của nhà kinh tế học người Nhật
Bản là H. Oshima tổng kết trong cuốn “Tăng trưởng kinh tế ở các nước chau Á gió
mùa”. Theo mô hình này, nền kinh tế bắt đầu thời kỳ tăng trưởng nhanh bằng đầu tư
cho nông nghiệp, kế theo đó là phát triển với nông nghiệp với công nghiệp và cuối
cùng là đầu tư theo chiều sâu cho toàn bộ nền kinh tế khi hiện tượng thiếu lao động
và giá cả lao động trở nên ngày càng đắt đỏ. Đây cũng là mô hình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, trong đó không sản sinh ra nguyên nhân kinh tế gây sự bất bình đẳng và

Achentina đều có sự tăng trưởng kinh tế nhanh vào thập niên 1960,1970 thì nước
Hàn Quốc, Đài Loan không những đạt được các chỉ số công bằng xã hội cao hơn
nhiều so với các nước còn lại, thậm chí ngang với các nước công nghiệp phát triển,
mà mức thu nhập bình quân đầu người phản ánh sự tăng trưởng kinh tế cũng cao
hơn hẳn các nước này. Điều đó trên một mức độ nhất định phản ánh ưu điểm của
mô hình mà họ đã lựa chọn.
3. LỰA CHỌN MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
HIỆN NAY
3.1 Mô hình phát triển toàn diện – sự lựa chọn của Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới kinh tế
Mặc dù Việt Nam đã dành được những thành tựu nhất định trong nhiều lĩnh
vực từ thập niên 90 của thế kỷ thứ 20, tuy vậy, bước vào thời kỳ chiến lược 2001-
2010, chúng ta vẫn bị đánh giá là có nguy cơ tụt hậu về kinh tế, nếu so sánh với sự
phát triển vượt trội của các nước trong khu vực, khoảng cách tuyệt đối về thu nhập
bình quân trên đầu người của Việt nam ngày càng xa so với họ. Vì vậy, yêu cầu
10
tăng trưởng kinh tế nhanh đã trở thành bức xúc, hàng đầu để thực hiện mục tiêu
phát triển. Thực hiện tăng trưởng nhanh mới có thể kéo nước ta ra khỏi danh sách
các nước nghèo, kém phát triển, và chống tụt hậu xa hơn, thu hẹp dần khoảng cách
phát triển so với các nước xung quanh. Hơn thế nữa, thế kỷ 21, tình hình về kinh tế
quốc tế có nhiều thay đổi, mở cửa, hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng rộng rãi
đã cho phép chúng ta có thể sử dụng được những lợi thế của các nước đi sau để
khắc phục những rào cản thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh trong nhiều năm
qua như sự thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu lao động tay nghề và thiếu thị trường
tiêu thụ cũng như cung cấp sản phẩm. Mặt khác, con đường mà Việt nam lựa chọn
trong thời kỳ đổi mới kinh tế là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Khía cạnh “xã hội chủ nghĩa” đặt yêu cầu tiến bộ và công bằng xã hội
vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Quan
tâm đến tiến bộ và công bằng xã hội chính là mặt văn hóa của của sự phát triển mà
chúng ta theo đuổi phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa và nó chính là một

càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm
tình trạng nghèo đói và hạn chế khoảng cách giầu nghèo giữa các tầng lớp, các
nhóm dân cư trong xã hội, nâng cao mức công bằng về quyền lợi vàng nghĩa vụ
giữa các thành viên và các thế hệ , duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc
văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và
tinh thần . Mục tiêu về môi trường là khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn
tài nguyên, thực hiện viẹc tái sinh tài nguyên và chống ô nhiễm môi trường.
3.2 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam theo
mục tiêu phát triển toàn diện
Sau một khoảng thời gian khá dài thực hiện mục tiêu và quan điểm phát triển
kinh tế toàn diện xác định trong chiến lược 2001 – 2010, chúng ta đã đạt được
những kết quả mà ai cũng đều phải thừa nhận:
Thứ nhất, Việt Nam trở thành điểm sáng về tăng trưởng kinh tế nhanh
Hình 2: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam, 2000 - 2007

Nguồn: tổng hợp từ niên giám thống kê và báo cáo KH 2008 của Bộ KH &ĐT
Chúng ta có thể tự hào về tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước đã đạt
được trong thời gian qua: thời gian tăng trưởng liên tục của Việt nam đã đạt đến con
số 30 năm26 năm (1977-20067), vượt qua kỷ lục 23 năm của Hàn Quốc tính đến
12
năm 1997; quy mô GDP năm 2006 dự kiến đạt được đã gấp gần 4 lần so với năm
1985, bình quân năm trong 20 năm đổi mới đạt gần 7%, riêng thời kỳ 1991-2006
(15 năm) đạt 7,6%, cao hơn nhiều so với thời kỳ trước, đó là tốc độ tăng thuộc loại
cao nhất so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Năm 2007 - năm đầu tiên gia
nhập WTO, tốc độ tăng trưởng đã đạt cao nhất kể từ năm 2000 đến nay. GDP năm
2007 đạt 71,3 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người đạt 835 USD, tăng 14,5% so
với năm 2006. Theo số liệu của Báo cáo phát triển con người (Liên Hiệp Quốc) năm
2007, Việt Nam hiện nay đứng thứ 122/177 quốc gia về thu nhập bình quân đầu
người (năm 2005 xếp thứ 140), điều đó thể hiện sự thành công trong chiến lược
tăng trưởng nhanh . Với kết quả đó, đời sống kinh tế của Việt nam đã thực sự được

Tuy vậy mặt trái của vấn đề vẫn còn thể hiện rõ trên các phân tích sau đây:
Một là, tăng trưởng chưa bao giờ đạt mức tiềm năng và những báo động về
nguy cơ suy giảm tốc độ tăng trưởng trong tương lai do chất lượng tăng trưởng còn
ở trình độ rất thấp.
Theo đánh giá, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua vẫn
chủ yếu là theo chiều rộng, tính hợp lý trong sử dụng các yếu tố tăng trưởng thực
chiều rộng cũng chưa cao. Để thực hiện tăng trưởng nhanh, chúng ta đã phải dốc
sức vào đầu tư, nhất là đầu tư nhà nước và nỗ lực kiềm chế giá cả bằng các biện
pháp kể cả hành chính, không chú ý đến hiệu quả đầu tư. Tăng trưởng đạt được tốc
độ cao nhưng cách đi của chúng ta là dựa vào khai thác quá mức nguồn vốn tài
nguyên hoặc gia công chế biến, mang tính chất chạy đua ngắn hạn với hiệu quả
năng lực cạnh tranh tăng trưởng có biểu hiện giảm sút. Với những bất cập nói trên,
nên mặc dù giai đoạn 2001-2007 nền kinh tế của chúng ta đã đạt được tốc độ tăng
trưởng theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên nếu so sánh liên tục
chuỗi thời gian từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước đến nay cho thấy, tốc độ tăng
trưởng của Việt nam vẫn giảm tương đối. Thời kỳ 2001-2007, chưa năm nào đạt
được tốc độ tăng trưởng như của những năm 1995, 1996 (năm 1995 là 9,54% và
năm 1996 đạt 9,34%), trong khi đó chúng ta đã phải để lại tích lũy nhiều hơn, dành
vốn cho đầu tư nhiều hơn, đời sống kinh tế trong nước và thế giới sôi động hơn,
điều đó cho thấy nếu tiếp tục con đường phát triển theo chiều rộng, chỉ chú ý đến
ngắn hạn, trong điều kiện gia nhập WTO với nhiều thách thức chúng ta sẽ phải đổi
lấy những hậu quả có hại cho mục tiêu tăng trưởng dài hạn, đó là sự suy yếu các cơ
sở của sự ốn định vĩ mô vững chắc, không đáp ứng được những yêu cầu cải thiện
nhanh chóng hiệu quả, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, nền kinh tế
trong thời gian qua và kể cả những năm tiếp theo tiếp tục tăng trưởng dưới mức
tiềm năng và không có triển vọng thóat khỏi tình trạng tụt hậu xa hơn. Thứ hạng
của Việt Nam về thu nhập bình quân đầu người nói chung không có sự thay đổi so
với các nước trong khu vực và trong các khối mà VN tham gia ( đứng khoảng thứ
122/176 toàn cầu; đứng thứ 21/21 nước khối APEC từ năm 1995 đến nay; đứng thứ
9/11 nước khối ASEAN), và vẫn nằm trong 50 nước có mức thu nhập thấp (dưới

giảm.
Phải khẳng định rằng nhờ vào tăng trưởng kinh tế, trong những năm qua,
mức sống dân cư ở nước ta có xu hướng nâng cao rõ rệt, tỷ lệ nghèo đói giảm đi,
các chỉ tiêu phản ánh phát triển xã hội đều có dấu hiệu tốt. Tuy vậy, nếu so sánh kết
quả tăng trưởng đạt được hàng năm với những thành tựu về giải quyết các vấn đề xã
hội trong thời gian qua cho thấy những những khía cạnh chưa tương xứng sau đây:
Một là, hiệu ứng của tăng trưởng tới giảm nghèo có xu hướng giảm
Bảng 4: So sánh tăng trưởng và giảm nghèo
2001 2002 2003 2004 2005
1. Tăng trưởng:
- Tốc độ tăng trưởng (%)
- Số điểm % tăng trưởng
gia tăng so với năm trước
2. Giảm nghèo
- Tỷ lệ nghèo đói (%)
- Số điểm % giảm nghèo
giảm xuống so với năm
trước.

6,89
17,5

7,08

0,22
14,5
3

7,34


Bảng 5: Một số chỉ số phản ánh bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
ở Việt Nam
Chỉ số 1995 1999 2002 2004
GINI 0,35 0,39 0,42 0,423
Hệ số giãn cách (lần) 7,0 7,6 8,1 8,4
Tiêu chuẩn “40”(%) 21,1 18,7 18 17,4
Nguồn: tạp chính lý luận chính trị tháng 12/2004
Bảng trên đã cho thấy một thực trạng là các chỉ số đánh giá bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập của chúng ta theo thời gian có xu hướng vận động không
tích cực. Hệ số GINI năm 1995 là 0,35 (thể hiện sự công bằng xã hội cao trong
phân phối thu nhập) thì hiện nay đã vượt con số 0,4 – đây là ngưỡng mà Liên hiệp
quốc gọi là những nước có mức độ bất bình đẳng vừa, hệ số giãn cách thu nhập
cũng có chiều hướng gia tăng đáng kể, tiêu chuẩn “40” do WB đưa ra xã định tỷ lệ
phần trăm thu nhập của 40% dân số nghèo nhất hiện nay chỉ chiếm 17,4% (chuẩn bị
đến ngưỡng chỉ một nước có sự bất bình đẳng vừa – 17%)
Sự bất bình đẳng về kinh tế tăng lên có tác động đến gia tăng nghèo đói ngày
càng lớn.
Một vấn đề mang tính xu hướng là: tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến giảm
nghèo đói, trái lại bất bình đẳng kinh tế sẽ làm nghèo đói tăng lên. Hiện nay, đi đôi
với tăng trưởng nhanh, tình trạng bất bình đẳng về kinh tế của chúng ta đang có xu
hướng gia tăng. Nếu theo dõi động thái thay đổi của tăng trưởng, của tỷ lệ nghèo
đói và hệ số GINI đánh giá sự biến động của bất bình đẳng kinh tế và dựa vào các
số liệu đó để tính toán tác động của tăng trưởng và bất bình đẳng đến giảm nghèo
qua các giai đoạn từ 1993 đến nay ở Việt Nam , chúng ta có bảng sau đây:
Bảng 6: Tác động của tăng trưởng và bất bình đẳng tới giảm nghèo
1993-1998 1998-2005 1993-2005
4. Thay đổi về tỷ lệ
nghèo chung
- 0,222 - 0,075 - 0,298
17

đoạn hội nhập kinh tế quốc tế là điều quyết định cho phép xác định rõ triển vọng
của nền kinh tế, tạo sức hấp dẫn và khả năng duy trì sự phát triển dài hạn. Chúng ta
có thể hướng tới những sự thay đổi sau đây
(1) Thay đổi tư duy về mô hình tăng trưởng, từ đó có sự thay đổi trong cách
tiếp cận hệ chính sách và giải pháp giải quyết vấn đề.
Trước hết và đóng vai trò quyết định là có một tư duy đúng về mô hình tăng
trưởng kinh tế cần hướng tới. Cốt lõi của tư duy này là: giải quyết vấn đề tốc độ
tăng trưởng phải trên nền tảng giải quyết vấn đề chất lượng tăng trưởng. Theo đó,
trong dài hạn, cần chấm dứt quan điểm phải đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh với
mọi giá theo mô hình tăng trưởng nhờ khai thác chiều rộng, tăng trưởng nhờ dốc
sức vào tăng khối lượng vốn đầu tư và vào khai thác tài nguyên; chuyển dần sang
18
mô hình sang mô hình tăng trưởng dựa vào hiệu quả và bền vững, tập trung nhiều
hơn, quyết liệt hơn vào mục tiêu chất lượng dài hạn. Cụ thể là, cần chú trọng nâng
cao hiệu quả đầu tư, hướng vào các điểm cực tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế
trên cơ sở nguyên lý phân phối nguồn lực đóng vai trò quyết định, tuân theo quy
luật tự do cạnh tranh lành mạnh. Từ những tư duy về mô hình tăng trưởng kinh tế
hợp lý, thực hiện đẩy mạnh cải cách thể chế, chú trọng tạo lập những cơ sở nâng
cao năng lực cạnh tranh củng cố các cơ sở tăng trưỏng dài hạn. Tuy nhiên cũng cần
phải xác định rõ lộ trình cho việc thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trước
mắt, một sự kết hợp theo kiểu "lưỡng nan" trong điều kiện chúng ta đồng thời phải
thực hiện của 2 nhiệm vụ tăng trưởng nhanh và tăng trưởng hướng về chất lượng trở
nên hợp lý hơn và trong quá trình đó hướng dần sự phát triển theo đúng quy luật của
nó.
(2) Nâng cao hiệu quả của các chỉ tiêu tăng trưởng. Việt Nam là một quốc
gia đang phát triển có nhiều lợi thế về tài nguyên và nguồn lao động, tuy vậy, những
dấu hiệu của lợi thế ấy cũng đang có biểu hiện giảm sút dần; mặt khác khi đã gia
nhập tổ chức thương mại quốc tế, sức ép của cạnh tranh quốc tế buộc chúng ta phải
quan tâm đến hiệu quả của tăng trưởng, hiệu quả của các hoạt động kinh tế, nếu
không sẽ luôn luôn gặp bất lợi, chịu thua thiệt trong các mối quan hệ thương mại,

bền vững. Theo đó, vấn đề quan trọng không phải là bám đuổi mục tiêu tăng trưởng
nhanh mà là duy trì một mục tiêu tăng trưởng hợp lý trong mối quan hệ răng buộc
với những điều kiện về tài nguyên môi trường và các vấn đề xã hội. Một mặt, đối
với vấn đề tài nguyên môi trường, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với: bảo đảm sử
dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, nâng cao khả năng tái sinh tài nguyên; phòng
chống ô nhiễm môi trường, có phương án xử lý ô nhiễm, kỹ thuật phòng chống và
giải quyết hệ quả của ô nhiễm, có chính sách kinh tế phù hợp áp dụng cho các cơ sở
kinh tế gay ô nhiễm, tực hiện sự tham gia công đồng trong vấn đề này; thực hiện
quá trình đa dạng hóa sinh học hình thành những vùngvệ tinh tạo yếu tố môi trường
thuận lợi cho những khu vực có ô nhiễm. Mặt khác, đối với vấn đề xã hội, quá trình
tăng trưởng kinh tế phải được kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ bởi các chỉ tiêu
phát triển xã hội, trong đó trọng tâm là vấn đề xóa đói giảm nghèo, công bằng xã
hội, giải quyết việc làm, chỉ tiêu liên quan đến sự phát triển toàn diện cho con người
như giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, cá chỉ số giới và dân
tộcv.v Chính việc bảo đảm các chỉ tiêu xã hội và môi trường sẽ là yếu tố tích cực
củng cố, duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Sử dụng chính sách
phân phối thu nhập hợp lý sẽ giúp chúng ta thực hiện tốt được mục tiêu phát triển
kinh tế toàn diện.
Tóm lại, về lý thuyết, nội hàm của phát triển kinh tế đã được khẳng định. Rõ
ràng là chỉ có kết hợp đồng thời tăng trưởng kinh tế nhanh, có hiệu quả và thực
hiện sự lan tỏa tích cực của nó đến cải thiện đời sống xã hội cho quảng đại quần
chúng nhân dân thì sự phát triển kinh tế mới thực sự bền vững. Việt Nam đã lựa
chọn đúng cách đi của mình trong thời kỳ đổi mới kinh tế. Thời gian tới, tiêp tục
duy trì những thành quả đạt được và tìm ra những hướng đổi mới phù hợp, cao hơn
nữa là có các chính sách đúng đắn hơn nữa trong thời kỳ chiến lược mới 2011 –
2020 về tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt chính sách phân phối thu nhập sẽ giúp
Việt Nam nhanh chóng thực hiện được mục tiêu trước hết vượt ngưỡng nghèo, trở
20
thành nước có mức thu nhập trung bình và tiến tới các tiêu chí của một nước công
nghiệp mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status