LUẬN VĂN: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và
phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất.
Suốt cả cuộc đời, Người phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho
nhân dân. Cùng với sự nghiệp của Đảng ta, dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã để lại cho hậu
thế một tài sản tinh thần vô giá. Trong hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng kinh tế là
mẫu mực của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
và những quy luật kinh tế khách quan vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những
tư tưởng đó đã chỉ đạo cho Đảng ta hoạch định đường lối, chính sách kinh tế trong từng

* Sách chuyên khảo:
- Kinh điển: + Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế, Nxb Thông tin lý luận,
Hà Nội, 1990.
+ Hồ Chí Minh về kinh tế (trích tác phẩm kinh điển). Tài liệu tham
khảo chuyên ngành-Viện Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
- Sách tham khảo:
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2000.
+ TS. Nguyễn Khánh Bật (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân
ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2001.
+ TS. Nguyễn Thế Hinh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
+ PGS.TS Nguyễn Hữu Oánh: Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây
dựng kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
+ TS. Phạm Ngọc Anh (chủ biên): Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
kinh tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.

+ GS.Song Thành: Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2005.
- Tạp chí: Mấy suy nghĩ về phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí
Minh của tác giả Đỗ Thế Tùng,Tạp chí Lý luận chính trị, số 4, năm 2002.
+ Mục đích của đường lối phát triển kinh tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả
Nguyễn Thế Hinh, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 2, năm 2003.
+ Suy nghĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế, Tạp chí Tài chính, số 8,
năm 2003.
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của tác giả
Trần Văn Phòng,Tạp chí Khoa học chính trị, số 6, năm 2002.
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại, thu hút ngoại lực và phát huy nội lực
của tác giả Nguyễn Huy Oánh, Tạp chí Cộng sản số 19, năm 2003.

+ Đánh giá sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế ở Việt Nam trong quá trình
đổi mới.
+ Đề xuất phương hướng vận dụng quan điểm và cách làm kinh tế của Hồ Chí
Minh để đạt được hiệu quả cao hơn trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là vấn đề rộng. Trong phạm vi luận văn, chúng tôi
chỉ nghiên cứu một số nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát
triển kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam và khảo sát sự quán triệt, vận dụng, phát
triển tư tưởng đó giai đoạn từ 1986 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của
Đảng cộng sản Việt Nam là cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu. Đồng thời,
trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng có sử dụng số liệu, nhận xét, đánh giá của
một số công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài.

* Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử
dụng các phương pháp cụ thể, chú trọng phương pháp lịch sử kết hợp với lôgíc, so sánh,
phân tích, tổng hợp, thống kê và phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần làm sâu hơn và rõ thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát
triển kinh tế.
- Dựa vào phương pháp luận Hồ Chí Minh đánh giá thực trạng xây dựng và phát
triển kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, nhất là những năm đối mới.
- Đưa ra những phương hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và
phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy,
học tập và tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh.

sản” [36, tr.47].
Trong lý thuyết về hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa, C.Mác và
Ph.Ăngghen, đã đặt vấn đề phân kỳ quá trình phát triển của nó với những dấu hiệu đặc
trưng tổng quát nhất. Theo các nhà kinh điển Mác-Lênin, xã hội cộng sản chủ nghĩa bao
gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn thấp và giai đoạn cao. (Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là
chủ nghĩa xã hội và giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng sản).
Đồng thời C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đưa ra dự báo về những đặc trưng cơ bản
của xã hội mới là: Có lực lượng sản xuất phát triển cao; chế độ sở hữu xã hội về tư liệu
sản xuất được xác lập, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu; sản xuất nhằm thỏa mãn
nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội, nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch
thống nhất trên phạm vi toàn xã hội, sự phân phối sản phẩm bình đẳng; sự đối lập giữa
thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay bị xóa bỏ
Nói về giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản (tức chủ nghĩa xã hội), C.Mác đã
chỉ ra rằng: Đó là một xã hội mà về phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang
dấu vết của xã hội cũ mà nó lọt lòng ra. Chính vì thế mà giai đoạn này còn có những

thiếu sót, “nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã
hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những
cơn đau đẻ kéo dài” [36, tr.47]. Bên cạnh việc đề cập đến loại hình quá độ trực tiếp từ
chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến tận cùng lên chủ nghĩa cộng sản, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã dự báo về khả năng quá độ lên chủ nghĩa cộng sản ở những nước lạc
hậu khi cách mạng vô sản ở các nước Tây Âu giành được thắng lợi.
Khi chủ nghĩa tư bản chuyển lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin đã phát
triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cụ thể, có các nội dung đáng chú ý:
- Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, bất cứ quốc gia nào
đi lên chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua, kể cả những nước có nền kinh tế phát triển.
Đây là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện từ xã hội cũ thành
xã hội mới - chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ quá độ được bắt đầu từ khi giai cấp vô sản giành
được chính quyền bắt tay vào xây dựng xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công
cơ sở của chủ nghĩa xã hội cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc

đó, các nước lạc hậu có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Lênin cũng đưa ra những điều kiện để một nước có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa là:
+ Điều kiện bên trong: Có Đảng cộng sản lãnh đạo và xây dựng chính quyền nhà
nước công - nông - trí thức.
+ Điều kiện bên ngoài: Có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến đã
giành thắng lợi trong cách mạng vô sản.
Các nước lạc hậu có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa nhưng không phải là quá độ trực tiếp, mà phải qua con đường gián tiếp với
“một loạt những bước quá độ” [33, tr.189].
Những bước qua độ ấy, theo Lênin, là chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã
hội. Lênin nói: “Để chuẩn bị - bằng một công tác lâu dài hàng bao nhiêu năm - việc
chuyển sang chủ nghĩa cộng sản, thì cần thiết phải có một loạt những bước quá độ như
chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội” [32, tr.445].

Bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản được thể hiện trong “
Chính sách kinh tế mới” mà việc trao đổi hàng hóa được coi là “ đòn xeo chủ yếu”, cho
nên cần thiết phải có sự nhượng bộ tạm thời và cục bộ với chủ nghĩa tư bản nhằm phát
triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, từng bước thực hiện xã hội hóa sản xuất trong thực
tế
- Luận điểm về mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo
nguyên tắc “ai thắng ai”: Khi bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Lênin đã chỉ
ra thực chất của thời kỳ quá độ là một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa một bên là chủ
nghĩa xã hội mới ra đời còn non trẻ với một bên là các thế lực tư bản chủ nghĩa và tự
phát tư bản chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh này diễn ra theo nguyên tắc “ ai thắng ai”, nghĩa
là chủ nghĩa xã hội có thể thành công mà cũng có thể thất bại. Mặc dù Lênin đã nêu ra
những khả năng thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội, song, để giành thằng lợi hoàn
toàn và triệt để, theo Lênin, chủ nghĩa xã hội phải tạo ra được cho mình một năng suất
lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản.
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh: “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội là thay đổi cả xã hội, thay đổi
cả tự nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, mọi người đều được ấm no
và hạnh phúc” [46, tr.447] và Người cũng chỉ rõ: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là
một cuộc biến đổi khó khăn nhất, sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn
toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta” [46, tr,588]. Hơn thế nữa,
chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ là
chủ yếu, Hồ Chí Minh nhận rõ “ Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải
có kỹ nghệ nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình.
ở nước chúng tôi những điều kiện ấy chưa có đủ” [41, tr.72]. Vì vậy, muốn có chủ nghĩa
xã hội phải có một thời kỳ quá độ để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, công nghệ, xây
dựng cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, xây dựng cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng, xây dựng cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho nhân dân.

1.1.2.2. Đặc điểm kinh tế xuất phát của Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ

Nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở đã cơ bản hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ, chế độ dân chủ nhân dân đã được xây dựng và phát
triển. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước
ta có những đặc điểm sau:
- Về kinh tế: Tính chất lạc hậu của nền kinh tế quốc dân không chỉ ở trình độ lực
lượng sản xuất, phân công lao động xã hội, mà ở quy mô tổ chức, cách thức quản lý sản
xuất, cơ cấu ngành kinh tế … Sau khi rút đi, đế quốc Pháp để lại cho ta một nền kinh tế
nghèo nàn. Trong nông nghiệp thì sản xuất nhỏ chiếm đại bộ phận, đất đai phân tán,
manh mún, một bộ phận người dân không có ruộng đất để cày cấy, sản xuất tự cung tự
cấp, kỹ thuật vô cùng lạc hậu, năng suất thấp. Công nghiệp thì nhỏ bé, rời rạc, phân bố
không đồng đều giữa các ngành. Hơn thế nữa, công nghiệp và nông nghiệp lại bị tàn phá
nặng nề trong nhiều năm chiến tranh.
Vì vậy, ở nước ta, về cơ cấu xã hội - giai cấp đại bộ phận là nông dân, tiểu tư
sản, người buôn bán nhỏ, còn giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng, đóng
vai trò quan trọng trong tiến trình cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì chiếm tỷ lệ

quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng
nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”. Và Người cũng chỉ rõ:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta phải tiến hành đồng thời việc cải tạo
và xây dựng mới trên tất cả các mặt: Chính trị và kinh tế, văn hóa và xã hội, kiến trúc
thượng tầng và cơ sở hạ tầng.
1.1.2.3. Tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa ra những luận điểm kinh tế có giá trị to lớn về
mặt lý luận và phương pháp lãnh đạo sự nghiệp xây dựng nền kinh xã hội chủ nghĩa ở
một nước nông nghiệp lạc hậu, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là con đường cải
tạo và xây dựng nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội. Người đã khẳng định: Sau
khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nước ta nhất định tiến lên chủ

nghĩa xã hội “Bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội,
biến nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công
nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên tiến”, [46, tr.588]. Đây là con
đường phát triển phù hợp với xu thế thời đại. Nếu hiểu thời kỳ quá độ được đánh dấu từ
khi Đảng của giai cấp công nhân giành được chính quyền, xây dựng và cải tạo đất nước
theo con đường xã hội chủ nghĩa thì thời kỳ quá độ ở Việt Nam được bắt đầu từ năm
1945. Song, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, từ tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp trở lại
xâm lược Việt Nam, chúng ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9
năm (1945 - 1954). Bởi thế, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh tế
trong thời kỳ quá độ được hình thành chủ yếu từ khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (1954). Tuy nhiên, nhiều ý kiến chỉ đạo về kinh tế của Người trong
thời kỳ kháng chiến 1946 - 1954, xét về tính chất cũng rất phù hợp với thời kỳ quá độ.
Vì vậy, “ Chế độ dân chủ nhân dân cũng có thể xem là một giai đoạn quá độ trong thời
kỳ quá độ” [65, tr.348].
Từ khi hòa bình lập lại năm 1954, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ tiến
dần lên chủ nghĩa xã hội, như Hồ Chí Minh đã nói:
Chúng ta đã đã đánh thắng thực dân phong kiến. Hiện nay chúng ta

Ba là, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc chưa có trong lịch sử
nước ta, do đó nhân dân ta chưa có kinh nghiệm trong công tác xây dựng và tổ chức
quản lý. Vì vậy, trong quá trình phát triển, chúng ta phải vừa làm vừa học.
Bốn là, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn luôn bị các thế lực thù địch
chống phá. Những lực lượng ấy, một mặt là chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc luôn tìm
cách phá hoại, mặt khác đó còn là những thói quen truyền thống lạc hậu, những tư
tưởng cá nhân chủ nghĩa tiểu tư sản. Hồ Chí Minh đã nói rất rõ điều này:
Để tiến lên chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh phải lâu dài và gian khổ
cần có người cách mạng là vì còn có kẻ địch chống phá lại cách mạng.
Kẻ địch gồm 3 loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất
nguy hiểm.

Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn
trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó; mà phải cải tạo nó một
cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài.
Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong
mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi để góc
đầu dậy. Nó là bạn của hai kẻ địch kia [46, tr.287].
1.2. Nội dung xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
1.2.1. Về mục tiêu phát triển kinh tế ở nước ta
Bản chất kinh tế đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được thể hiện ở mục tiêu của nó.
Hồ Chí Minh nhiều lần nói rằng mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là để không ngừng
nâng cao đời sống của nhân dân. Với Người, mục tiêu hàng đầu và điều quan trọng nhất
của phát triển kinh tế là nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.
Toàn bộ quan tâm của Người là lo làm sao cho dân đủ ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa
bệnh, giải trí sao cho mỗi người dân lao động đều được ấm no, hạnh phúc. Đó là mục
tiêu đồng thời cùng là thước đo tính đúng đắn, ý nghĩa, giá trị của mỗi chính sách, biện
pháp kinh tế.
Ngay sau khi giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người

nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của nhân dân lao động trong đường lối
phát triển kinh tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ mục đích của chủ nghĩa xã hội
là: “ làm sao cho nhân dân được đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi
học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ Tóm lại, xã hội ngày càng
tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt” [47, tr.591].
Để đạt được mục tiêu trên, Hồ Chí Minh đã đề ra một loạt biện pháp thực hiện.
Có biện pháp trực tiếp và gián tiếp, có biện pháp chung và cụ thể, có biện pháp thuộc
các lĩnh vực kinh tế khác nhau, có biện pháp hiện đại, có biện pháp truyền thống. Chính
sự phong phú đó cho ta thấy sự tìm tòi, tận dụng mọi cơ hội để hướng tới mục tiêu, để
hiện thực hóa mục tiêu. Cụ thể:

Một là, Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi
kinh tế là cơ sở, là nền tảng để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, để
phát triển văn hóa, xã hội, để xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, theo
Hồ Chí Minh, phải huy động sức lực của toàn dân, của mọi cấp, mọi ngành thi đua đẩy
mạnh sản xuất. Người chỉ rõ:
Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân,
nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta hôm nay là phát triển sản xuất. Tất cả
mọi người công - nông - trí thức và tất cả cán bộ, viên chức mọi cấp, mọi
ngành đều phải góp sức làm cho sản xuất phát triển [47, tr.336-337].
Một trong những vấn đề mà chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong những
ngày đầu nước ta mới giành được độc lập là vận động nhân dân tăng gia sản xuất để đẩy
lùi nạn đói và ổn định đời sống cho nhân dân. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội
đồng Chính phủ, ngày 3/9/1945, Hồ Chí Minh đã quyết định phát động một chiến dịch
tăng gia sản xuất và cứu đói. Và sau đó Người đã viết thư “ Gửi nông gia Việt Nam”,
kêu gọi nông dân “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa !
Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền
tự do, độc lập” [41, tr.115]. Thực hiện cuộc vận động lớn đó, nhân dân cả nước đã đoàn
kết tích cực thi đua sản xuất, nhờ đó, mà nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân được
nâng lên một bước.

phát triển nền kinh tế nước nhà. Hồ Chí Minh luôn ý thức rằng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể
xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lãnh đạo sáng tạo của hàng triệu người dân.

Sự nghiệp xây dựng cơ sở kinh tế cho chế độ mới rất khó khăn, gian khổ, đòi hỏi
nguồn nhân lực, vật lực, tài lực to lớn. Muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp trọng đại đó,
cần phải đưa tiền của dân và sức của dân để làm việc ích lợi cho dân thì bao giờ dân
cũng hăng hái, việc cũng thành công. Việc gì to lớn tốn kém mấy, nếu dân đồng sức
đồng lòng thì làm cũng được.

Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng xác định rất rõ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước
trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Người viết: “ Cải thiện
đời sống cho nhân dân cũng phải do nhân dân tự giúp lấy mình là chính. Tất cả những
việc Đảng và Chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân. Làm gì mà
không nhằm mục đích ấy là không đúng” [45, tr.15]. Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh cụ
thể hơn:
Dân không đủ muối, Đảng phải lo. Dân không có gạo ăn đủ no, dân
không có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo. Các cháu bé không có trường học,
Đảng phải lo. Tôi lo chuyện này lắm: các cháu mắt choét, da bủng. Tất cả
mọi việc, Đảng phải lo. Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản,
đấu tranh giành thống nhất nước nhà, Đảng phải lo. Ngay đến cả tương, cà,
mắm, muối của dân, Đảng phải lo [47, tr.463-464].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ, cán bộ và đảng viên có trách
nhiệm giáo dục, lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, ổn
định và cải thiện cuộc sống.
Ba là, Phải xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế đúng đắn. Để phát triển nền kinh
tế cân đối, thì kế hoạch là vấn đề cần thiết cho mọi nền kinh tế. Hồ Chí Minh hết sức
quan tâm chỉ đạo xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước, kể cả kế hoạch
ngắn hạn và dài hạn. Người coi đây là biện pháp hàng đầu, mang tính phổ quát để phát
triển nền kinh tế nước ta. Nếu không xây dựng được một kế hoạch kinh tế đúng đắn,
phù hợp làm định hướng thì chúng ta không thể phát triển kinh tế được. Hồ Chí Minh

Sản xuất của cải vật chất là quá trình tác động giữa con người với tự nhiên, trong
đó con người biến đổi những vật thể tự nhiên để tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu
cầu của mình.
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, là hoạt động cơ bản
nhất của xã hội loài người, là điều kiện tiên quyết, tất yếu và vĩnh viễn đối với sự sống
còn, sự phát triển của mọi chế độ xã hội.

Nhờ có quá trình lao động, còn người biến đổi giới tự nhiên, phát hiện ra các quy
luật của tự nhiên, xã hội, hoàn thiện các công cụ lao động và hoàn thiện luôn cả bản
thân mình. Ph.Ăngghen đã viết: “Lao động là vấn đề cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời
sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói:
lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [6, tr.251-252].
Để tiến hành lao động sản xuất, con người phải giải quyết hai mối quan hệ tác
động lẫn nhau, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với
người trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, quá trình sản xuất bao gồm hai mặt là
mặt tự nhiên biểu hiện ở lực lượng sản xuất và mặt xã hội biểu hiện ở quan hệ sản xuất.
Với tính cách là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, con người với những năng lực,
kinh nghiệm nhất định đã sử dụng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để
tạo ra của cải vật chất. Trong quá trình đó con người giữ vai trò quyết định, là nhân tố
hàng đầu của lực lượng sản xuất. Lênin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể
nhân loại là công nhân, là người lao động” [30, tr.430].
Để tiến hành sản xuất, con người không những phải quan hệ với tự nhiên mà còn
phải quan hệ với nhau để trao đổi hoạt động và kết quả lao động, do đó sản xuất bao giờ
cũng mang tính xã hội. C.Mác viết: “ Người ta chỉ sản xuất được bằng cách hợp tác với
nhau một cách nào đó và trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có
mối liên hệ và quan hệ chặt chẽ với nhau và chỉ có trong phạm vi những mối quan hệ và
quan hệ đó mới có sự tác động của họ vào giới tự nhiên, tức là sản xuất” [35, tr.4].
Đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của con
người trong quá trình sản xuất của cải vật chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá
trình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta luôn đề cao vai trò của con

kích thích mọi người cố gắng hơn nữa. Thưởng, phạt phải công bằng” [47, tr.411]. Trái
lại, “nếu làm xấu, làm hỏng, có khi lại bồi thường lại cho nhà nước. Chính phủ không phát
lương cho những người ăn không” [45, tr.338].

Coi trọng vai trò động lực của các đòn bẩy kinh tế, nhưng Hồ Chí Minh cũng
thấy đó không phải là phương thức bách bệnh có thể giải quyết được tất cả mà Người
còn đánh giá cao vai trò các động lực chính trị-tinh thần của nhân dân ta, như:
+ Phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của người lao động. Hồ Chí Minh
nhắc nhở: Các hợp tác xã phải làm cho người nông dân xã viên thấy “mình là người chủ
tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã.
Có như thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất và hợp tác xã sẽ tiến bộ
không ngừng” [49, tr.195]. Muốn vậy, người cán bộ phải thực hành dân chủ mà theo Hồ
Chí Minh “Dân chủ là thứ của quý báu nhất của nhân dân” [45, tr.279], là chìa khóa vạn
năng để giải quyết mọi khó khăn. Nó trực tiếp đáp ứng nhu cầu vật chất của từng chủ
thể, nó là một trong những động lực quan trọng, chủ yếu thúc đẩy con người hoạt động.
Nếu lợi ích cá nhân không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Khi lợi ích cá nhân
được đảm bảo sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ nhất kích thích họ phát huy sáng kiến, cải tiến
khoa học - kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Đồng thời, khi lợi
ích cá nhân được đáp ứng, nó sẽ tạo điều kiện để thực hiện lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, bởi
dân có giàu thì nước mới mạnh. Mặt khác, Người yêu cầu phải đấu tranh kiên quyết
chống mọi biểu hiện vi phạm dân chủ, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, “cái gì cũng
mệnh lệnh
ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân
chúng, bắt dân chúng theo…”[42, tr.293]. Người cho rằng, nếu quần chúng thật sự có
quyền dân chủ, cán bộ, đảng viên xung phong gương mẫu thì mọi kế hoạch sản xuất sẽ
thực hiện thành công.
Song song với việc phát huy quyền làm chủ, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải quan
tâm bồi dưỡng ý thức làm chủ, tâm lý làm chủ cho người lao động: Đã là người làm chủ
thì phải coi “hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”, “yêu xe như con quý xăng như máu”,
“quý trâu như bạn”, phải là người tự lực, biết lo toan, gánh vác công việc, không trông

nghĩa xã hội.
Trước hết là lý tưởng chính trị. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, như
Hồ Chí Minh thường nói: “ cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa cao, một lòng một

Trích đoạn Những mặt yếu kém Nguyên nhân yếu kém của nền kinh tế Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hoá, hiện đại hoá Xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, xây dựng cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp, dịch vụ hợp lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status