LUẬN VĂN:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát
triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xó hội ở Việt Nam
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Suốt
cả cuộc đời, Người phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân
dân. Cùng với sự nghiệp của Đảng ta, dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã để lại cho hậu thế một
tài sản tinh thần vô giá. Trong hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng kinh tế là mẫu mực
của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và những
quy luật kinh tế khách quan vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những tư tưởng đó
đã chỉ đạo cho Đảng ta hoạch định đường lối, chính sách kinh tế trong từng thời kỳ, từng
giai đoạn của cách mạng nhằm đảm bảo kháng chiến thắng lợi và kiến quốc thành công.
Ngày nay, điều kiện trong nước và thế giới đã có những biến đổi sâu sắc, nhưng tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh nói riêng vẫn có ý nghĩa
lớn lao.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định đường lối đổi
mới, tạo cho nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũng gặp
không ít khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ của
Đảng (1994) đã xác định, trong đó có nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, ngày càng biểu
hiện rõ nét. Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí
Minh nhằm rút ra những bài học và vận dụng những tư tưởng đó phù hợp với bối cảnh mới
để góp phần đắc lực vào việc phát triển nền kinh tế nói chung, thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công nói riêng.
Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về kinh tế, đánh giá quá trình vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong thời kỳ
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
+ PGS.TS Nguyễn Hữu Oánh: Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây
dựng kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
+ TS. Phạm Ngọc Anh (chủ biên): Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh
tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
+ GS.Song Thành: Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, Hà
Nội, 2005.
- Tạp chí: Mấy suy nghĩ về phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh
của tác giả Đỗ Thế Tùng,Tạp chí Lý luận chính trị, số 4, năm 2002.
+ Mục đích của đường lối phát triển kinh tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả
Nguyễn Thế Hinh, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 2, năm 2003.
+ Suy nghĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế, Tạp chí Tài chính, số 8,
năm 2003.
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của tác giả Trần
Văn Phòng,Tạp chí Khoa học chính trị, số 6, năm 2002.
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại, thu hút ngoại lực và phát huy nội lực của
tác giả Nguyễn Huy Oánh, Tạp chí Cộng sản số 19, năm 2003.
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế và chính trị của
tác giả Vũ Đức Khiển, Tạp chí Khoa học xã hội số 2, năm 2003
+ Tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới của tác giả Lý Hoàng Mai đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 324, tháng 1 năm 2005.
+ Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động kinh tế đối ngoại
của tác giả Đặng Ngọc Lợi, Tạp chí Cộng sản, số 7, năm 2004.
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của các tác giả, của các nhà nghiên cứu về tư tưởng
kinh tế Hồ Chí Minh đăng trên các báo và tạp chí khác.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu tiêu biểu vừa nêu mới
chỉ dừng lại ở mức khai thác và hệ thống hóa tư liệu, các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh
* Cơ sở lý luận:
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng
cộng sản Việt Nam là cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu. Đồng thời, trong
quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng có sử dụng số liệu, nhận xét, đánh giá của một số
công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng
các phương pháp cụ thể, chú trọng phương pháp lịch sử kết hợp với lôgíc, so sánh, phân
tích, tổng hợp, thống kê và phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn...
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần làm sâu hơn và rõ thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển
kinh tế.
- Dựa vào phương pháp luận Hồ Chí Minh đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển
kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, nhất là những năm đối mới.
- Đưa ra những phương hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát
triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học
tập và tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Cung cấp những luận chứng có cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng, Nhà nước khi
vận dụng, phát triển tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
làm 2 chương, 4 tiết.
Chương 1
nội dung cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng và phát triển kinh tế đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
trên phạm vi toàn xã hội, sự phân phối sản phẩm bình đẳng; sự đối lập giữa thành thị và
nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay bị xóa bỏ...
Nói về giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản (tức chủ nghĩa xã hội), C.Mác đã chỉ
ra rằng: Đó là một xã hội mà về phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang dấu vết
của xã hội cũ mà nó lọt lòng ra. Chính vì thế mà giai đoạn này còn có những thiếu sót,
“nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản
chủ nghĩa, lúc nó mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ kéo
dài” [36, tr.47]. Bên cạnh việc đề cập đến loại hình quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản đã
phát triển đến tận cùng lên chủ nghĩa cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự báo về khả
năng quá độ lên chủ nghĩa cộng sản ở những nước lạc hậu khi cách mạng vô sản ở các
nước Tây Âu giành được thắng lợi.
Khi chủ nghĩa tư bản chuyển lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin đã phát
triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cụ thể, có các nội dung đáng chú ý:
- Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, bất cứ quốc gia nào đi
lên chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua, kể cả những nước có nền kinh tế phát triển.
Đây là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện từ xã hội cũ thành xã
hội mới - chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ quá độ được bắt đầu từ khi giai cấp vô sản giành được
chính quyền bắt tay vào xây dựng xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công cơ sở
của chủ nghĩa xã hội cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
Tuy nhiên, đối với các nước có nền kinh tế phát triển, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội có nhiều thuận lợi hơn so với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa có nền kinh tế lạc hậu.
- Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều
thành phần. Theo V.I.Lênin, trong thời kỳ quá độ tồn tại đan xen các loại hình sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế, cần phải có quan niệm và chính sách phát triển kinh tế đúng để
phát huy vai trò của chúng. Bởi vì:
Chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản là là tốt
so với thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng
những bước quá độ” [33, tr.189].
Những bước qua độ ấy, theo Lênin, là chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã
hội. Lênin nói: “Để chuẩn bị - bằng một công tác lâu dài hàng bao nhiêu năm - việc chuyển
sang chủ nghĩa cộng sản, thì cần thiết phải có một loạt những bước quá độ như chủ nghĩa
tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội” [32, tr.445].
Bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản được thể hiện trong “
Chính sách kinh tế mới” mà việc trao đổi hàng hóa được coi là “ đòn xeo chủ yếu”, cho
nên cần thiết phải có sự nhượng bộ tạm thời và cục bộ với chủ nghĩa tư bản nhằm phát
triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, từng bước thực hiện xã hội hóa sản xuất trong thực tế...
- Luận điểm về mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo
nguyên tắc “ai thắng ai”: Khi bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Lênin đã chỉ ra
thực chất của thời kỳ quá độ là một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa một bên là chủ nghĩa xã
hội mới ra đời còn non trẻ với một bên là các thế lực tư bản chủ nghĩa và tự phát tư bản
chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh này diễn ra theo nguyên tắc “ ai thắng ai”, nghĩa là chủ nghĩa xã
hội có thể thành công mà cũng có thể thất bại. Mặc dù Lênin đã nêu ra những khả năng
thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội, song, để giành thằng lợi hoàn toàn và triệt để, theo
Lênin, chủ nghĩa xã hội phải tạo ra được cho mình một năng suất lao động cao hơn chủ
nghĩa tư bản.
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.1.2.1. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu
lịch sử. Bởi vì, kể từ sau cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, thế giới đã bước vào thời
đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đi theo dòng chảy của thời
đại cũng là theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử. Hơn thế nữa, chúng ta không thể
lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, bởi vì kinh nghiệm lịch sử 80 năm sống
dưới ách kìm kẹp, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, nhân dân ta không lạ gì bản chất của chế
độ đó. Mặc dù chủ nghĩa tư bản hiện đại đã và đang có những điều chỉnh để có thể tiếp tục
tồn tại và phát triển, song chủ nghĩa tư bản không bao giờ đặt ra mục tiêu giải phóng nhân
xuất và quan hệ sản xuất, xây dựng cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, xây dựng cả
đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho nhân dân.
1.1.2.2. Đặc điểm kinh tế xuất phát của Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ
Nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở đã cơ bản hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ, chế độ dân chủ nhân dân đã được xây dựng và phát
triển. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta
có những đặc điểm sau:
- Về kinh tế: Tính chất lạc hậu của nền kinh tế quốc dân không chỉ ở trình độ lực
lượng sản xuất, phân công lao động xã hội, mà ở quy mô tổ chức, cách thức quản lý sản
xuất, cơ cấu ngành kinh tế … Sau khi rút đi, đế quốc Pháp để lại cho ta một nền kinh tế
nghèo nàn. Trong nông nghiệp thì sản xuất nhỏ chiếm đại bộ phận, đất đai phân tán, manh
mún, một bộ phận người dân không có ruộng đất để cày cấy, sản xuất tự cung tự cấp, kỹ
thuật vô cùng lạc hậu, năng suất thấp. Công nghiệp thì nhỏ bé, rời rạc, phân bố không đồng
đều giữa các ngành. Hơn thế nữa, công nghiệp và nông nghiệp lại bị tàn phá nặng nề trong
nhiều năm chiến tranh.
Vì vậy, ở nước ta, về cơ cấu xã hội - giai cấp đại bộ phận là nông dân, tiểu tư sản,
người buôn bán nhỏ, còn giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng, đóng vai trò
quan trọng trong tiến trình cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
- Về đời sống văn hóa, tuyệt đại đa số nhân dân ta mù chữ (chiếm trên 90% dân số);
ý thức hệ phong kiến, tư tưởng thực dân còn ăn sâu bám rễ trong quan điểm của nhiều
người, phong tục tập quán lạc hậu còn chi phối suy nghĩ, đời sống văn hóa tinh thần của bộ
phận không nhỏ dân cư.
Từ cơ sở kinh tế - xã hội, từ đời sống văn hóa tinh thần lạc hậu đã làm xuất hiện
trong xã hội ta một hệ thống mâu thuẫn đan cài, phức tạp, vừa mang tính đối kháng, vừa
mang tính không đối kháng. Mâu thuẫn chủ yếu, mang tính đối kháng ở nước ta không phải
là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mà chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam đối với đế quốc và bọn tay sai phản động. Đối với một nước nông
nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư
nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội. Người đã khẳng định: Sau khi hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nước ta nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội “Bằng cách
phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế nông nghiệp
lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa
học - kỹ thuật tiên tiến”, [46, tr.588]. Đây là con đường phát triển phù hợp với xu thế thời
đại. Nếu hiểu thời kỳ quá độ được đánh dấu từ khi Đảng của giai cấp công nhân giành
được chính quyền, xây dựng và cải tạo đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa thì thời
kỳ quá độ ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1945. Song, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, từ
tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, chúng ta phải tiến hành cuộc
kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm (1945 - 1954). Bởi thế, tư tưởng Hồ Chí Minh về
xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ được hình thành chủ yếu từ khi miền
Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1954). Tuy nhiên, nhiều ý kiến chỉ đạo
về kinh tế của Người trong thời kỳ kháng chiến 1946 - 1954, xét về tính chất cũng rất phù
hợp với thời kỳ quá độ. Vì vậy, “ Chế độ dân chủ nhân dân cũng có thể xem là một giai
đoạn quá độ trong thời kỳ quá độ” [65, tr.348].
Từ khi hòa bình lập lại năm 1954, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ tiến
dần lên chủ nghĩa xã hội, như Hồ Chí Minh đã nói:
Chúng ta đã đã đánh thắng thực dân phong kiến. Hiện nay chúng ta đang
làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, một cuộc cách mạng tuy trường kỳ gian khổ,
song chúng ta nhất định thắng lợi, chỉ phải đổ mồ hôi mà không đổ máu, một
cuộc cách mạng nhằm đánh thắng lạc hậu bần cùng để xây dựng hạnh phúc
muôn đời cho nhân dân ta, con cháu ta [47, tr.292].
Do vậy, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
là quá trình dần dần, khó khăn, lâu dài, phức tạp và gian khổ. Trong lời chúc mừng năm
mới 1958, sau khi miền Bắc đã hoàn thành việc khôi phục đất nước, bước vào giai đoạn
thực hiện kế hoạch phát triển đất nước và chuẩn bị cho những kế hoạch dài hạn xây dựng
chủ nghĩa xã hội, Người viết: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách
mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài” [46, tr.2].
Kẻ địch gồm 3 loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy
hiểm.
Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở
cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó; mà phải cải tạo nó một cách
rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài.
Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình
mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi để góc đầu dậy.
Nó là bạn của hai kẻ địch kia [46, tr.287].
1.2. Nội dung xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
1.2.1. Về mục tiêu phát triển kinh tế ở nước ta
Bản chất kinh tế đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được thể hiện ở mục tiêu của nó.
Hồ Chí Minh nhiều lần nói rằng mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là để không ngừng
nâng cao đời sống của nhân dân. Với Người, mục tiêu hàng đầu và điều quan trọng nhất
của phát triển kinh tế là nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.
Toàn bộ quan tâm của Người là lo làm sao cho dân đủ ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa
bệnh, giải trí... sao cho mỗi người dân lao động đều được ấm no, hạnh phúc. Đó là mục
tiêu đồng thời cùng là thước đo tính đúng đắn, ý nghĩa, giá trị của mỗi chính sách, biện
pháp kinh tế.
Ngay sau khi giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người
đã phát biểu:
Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự
do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay:
1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân có học hành [41, tr.152].
phú đó cho ta thấy sự tìm tòi, tận dụng mọi cơ hội để hướng tới mục tiêu, để hiện thực hóa
mục tiêu. Cụ thể:
Một là, Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi kinh
tế là cơ sở, là nền tảng để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, để phát
triển văn hóa, xã hội, để xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, theo Hồ Chí
Minh, phải huy động sức lực của toàn dân, của mọi cấp, mọi ngành thi đua đẩy mạnh sản
xuất. Người chỉ rõ:
Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, nhiệm
vụ quan trọng nhất của chúng ta hôm nay là phát triển sản xuất. Tất cả mọi
người công - nông - trí thức và tất cả cán bộ, viên chức mọi cấp, mọi ngành đều
phải góp sức làm cho sản xuất phát triển [47, tr.336-337].
Một trong những vấn đề mà chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong những
ngày đầu nước ta mới giành được độc lập là vận động nhân dân tăng gia sản xuất để đẩy
lùi nạn đói và ổn định đời sống cho nhân dân. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng
Chính phủ, ngày 3/9/1945, Hồ Chí Minh đã quyết định phát động một chiến dịch tăng gia
sản xuất và cứu đói. Và sau đó Người đã viết thư “ Gửi nông gia Việt Nam”, kêu gọi nông
dân “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa ! Đó là khẩu hiệu
của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập” [41,
tr.115]. Thực hiện cuộc vận động lớn đó, nhân dân cả nước đã đoàn kết tích cực thi đua
sản xuất, nhờ đó, mà nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân được nâng lên một bước.
Đồng thời, để nâng cao đời sống phải nâng cao năng suất lao động, giữ gìn máy
móc, bảo vệ xí nghiệp, thi hành đúng kỷ cương kỷ luật, đẩy mạnh tập thể hóa, đồng thời
phải phân phối công bằng, hợp lý và thực hành tiết kiệm. Trong đó tăng gia sản xuất và
thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên
chủ nghĩa xã hội. “ Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến thắng lợi
chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân” [45, tr.349].
Người đã chỉ rõ: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là xem đồng tiền to
bằng cái nống” [43, tr.485]; “ Khi không nên tiêu sài thì một xu cũng không nên tiêu. Khi
có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao
sống cho nhân dân cũng phải do nhân dân tự giúp lấy mình là chính. Tất cả những việc
Đảng và Chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân. Làm gì mà không
nhằm mục đích ấy là không đúng” [45, tr.15]. Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh cụ thể hơn:
Dân không đủ muối, Đảng phải lo. Dân không có gạo ăn đủ no, dân không
có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo. Các cháu bé không có trường học, Đảng phải
lo. Tôi lo chuyện này lắm: các cháu mắt choét, da bủng. Tất cả mọi việc, Đảng
phải lo. Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, đấu tranh giành
thống nhất nước nhà, Đảng phải lo. Ngay đến cả tương, cà, mắm, muối của dân,
Đảng phải lo [47, tr.463-464].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ, cán bộ và đảng viên có trách
nhiệm giáo dục, lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, ổn
định và cải thiện cuộc sống.
Ba là, Phải xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế đúng đắn. Để phát triển nền kinh tế
cân đối, thì kế hoạch là vấn đề cần thiết cho mọi nền kinh tế. Hồ Chí Minh hết sức quan
tâm chỉ đạo xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước, kể cả kế hoạch ngắn
hạn và dài hạn. Người coi đây là biện pháp hàng đầu, mang tính phổ quát để phát triển nền
kinh tế nước ta. Nếu không xây dựng được một kế hoạch kinh tế đúng đắn, phù hợp làm
định hướng thì chúng ta không thể phát triển kinh tế được. Hồ Chí Minh yêu cầu kế hoạch
không những được đề ra ở những cơ quan, Nhà nước mà còn ở hộ gia đình, không những ở
Trung ương mà còn cả ở địa phương. Vì vậy, trong bài nói chuyện nhân dịp tết Nhâm
Thìn, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ tăng gia sản xuất phải có kế hoạch thiết thực, từ Chính phủ
Trung ương đến mỗi gia đình đều phải có kế hoạch”[ 43, tr.393].
Trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở
những người làm công tác xây dựng kế hoạch phải thiết thực, phù hợp với khả năng thực tế
đất nước, địa phương, nhà máy. Hồ Chí Minh cũng phê phán việc cán bộ đóng cửa mà viết
kế hoạch, rồi cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng nghe theo. Theo Hồ Chí Minh: “ Đặt kế
hoạch thật tốt, thật sát là rất cần, nhưng đó mới chỉ là bước đầu. Kế hoạch 10 phần thì biện
pháp cụ thể phải 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao 30 phần. Có như thế mới chắc chắn
sáng tạo ra bản thân con người” [6, tr.251-252].
Để tiến hành lao động sản xuất, con người phải giải quyết hai mối quan hệ tác động
lẫn nhau, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người trong
quá trình sản xuất. Nói cách khác, quá trình sản xuất bao gồm hai mặt là mặt tự nhiên biểu
hiện ở lực lượng sản xuất và mặt xã hội biểu hiện ở quan hệ sản xuất. Với tính cách là chủ
thể của quá trình lao động sản xuất, con người với những năng lực, kinh nghiệm nhất định
đã sử dụng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất.
Trong quá trình đó con người giữ vai trò quyết định, là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản
xuất. Lênin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là
người lao động” [30, tr.430].
Để tiến hành sản xuất, con người không những phải quan hệ với tự nhiên mà còn
phải quan hệ với nhau để trao đổi hoạt động và kết quả lao động, do đó sản xuất bao giờ cũng
mang tính xã hội. C.Mác viết: “ Người ta chỉ sản xuất được bằng cách hợp tác với nhau một
cách nào đó và trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có mối liên hệ
và quan hệ chặt chẽ với nhau và chỉ có trong phạm vi những mối quan hệ và quan hệ đó
mới có sự tác động của họ vào giới tự nhiên, tức là sản xuất” [35, tr.4].
Đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của con người
trong quá trình sản xuất của cải vật chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh
đạo xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta luôn đề cao vai trò của con người, coi con
người là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định sự phát triển của sản xuất nhằm mục đích
tất cả vì con người, tất cả cho con người và tất cả cũng do con người. Hồ Chí Minh
viết:
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công
việc đổi mới và xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến,
kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ trung
ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói
tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [42, tr.698].
Vì vậy, Người chỉ rõ: “Vô luận việc gì, đều do con người làm ra, từ nhỏ đến to,
như thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất và hợp tác xã sẽ tiến bộ không
ngừng” [49, tr.195]. Muốn vậy, người cán bộ phải thực hành dân chủ mà theo Hồ Chí
Minh “Dân chủ là thứ của quý báu nhất của nhân dân” [45, tr.279], là chìa khóa vạn năng
để giải quyết mọi khó khăn. Nó trực tiếp đáp ứng nhu cầu vật chất của từng chủ thể, nó là
một trong những động lực quan trọng, chủ yếu thúc đẩy con người hoạt động. Nếu lợi ích cá
nhân không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Khi lợi ích cá nhân được đảm bảo sẽ
tạo ra động lực mạnh mẽ nhất kích thích họ phát huy sáng kiến, cải tiến khoa học - kỹ thuật,
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Đồng thời, khi lợi ích cá nhân được đáp
ứng, nó sẽ tạo điều kiện để thực hiện lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, bởi dân có giàu thì nước
mới mạnh. Mặt khác, Người yêu cầu phải đấu tranh kiên quyết chống mọi biểu hiện vi
phạm dân chủ, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, “cái gì cũng mệnh lệnh
ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân
chúng, bắt dân chúng theo…”[42, tr.293]. Người cho rằng, nếu quần chúng thật sự có quyền
dân chủ, cán bộ, đảng viên xung phong gương mẫu thì mọi kế hoạch sản xuất sẽ thực hiện
thành công.
Song song với việc phát huy quyền làm chủ, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải quan tâm
bồi dưỡng ý thức làm chủ, tâm lý làm chủ cho người lao động: Đã là người làm chủ thì
phải coi “hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”, “yêu xe như con quý xăng như máu”, “quý
trâu như bạn”, phải là người tự lực, biết lo toan, gánh vác công việc, không trông chờ, ỷ
lại…
+ Thực hiện công bằng xã hội. Hồ Chí Minh thấy do đã thiếu công bằng và mất dân
chủ mà dẫn tới hậu quả bùng nổ những xung đột xã hội căng thẳng. Theo Người, thực hiện
công bằng xã hội chính là giải quyết mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền
lợi và nghĩa vụ của mỗi thành viên trong xã hội.
Ngay trong thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở vào giai đoạn quyết
liệt, nhân dân miền Bắc phải chịu nhiều khó khăn, thiếu thốn để dồn hết tài lực, vật lực cho
tiền tuyến lớn miền Nam, Hồ Chí Minh phát biểu trước hội đồng Chính phủ:
“ Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.
nghĩa xã hội được.
Nhân loại đang bước vào kỷ nguyên văn minh, trí tuệ, trong đó khoa học và công
nghệ phát triển như vũ bão. Do đó, phải phát triển dân trí, coi giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu. Trong nền kinh tế tri thức thì tri thức của con người là vốn quý báu nhất.
Nhưng ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nói: “Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền bắc đòi hỏi Đảng ta phải nắm, vững khoa học và kỹ thuật, do đó mỗi đảng viên đều
phải cố gắng học tập văn hóa, học tập khoa học và kỹ thuật” [47, tr.21] hay “ không học thì
không theo kịp, công việc nó sẽ gạt lại mình phía sau” [47, tr.465].
Sống trong xã hội, con người chịu sự ràng buộc của các quan hệ xã hội, trong đó có
quan hệ pháp lý - đạo đức. Con người được giáo dục về đạo đức thì nhu cầu hướng thiện
lại càng cao, càng muốn theo đuổi những giá trị cao đẹp như chân lý, chính nghĩa, tự do,
công bằng, dân chủ, nhân đạo…Nhờ đó, lao động, cống hiến của họ cho công nghiệp hóa
càng tích cực, tự giác hơn. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần xây dựng một nhà nước pháp
quyền mạnh mẽ, sáng suốt, tạo ra được một hành lang pháp lý ổn định, vững chắc đảm bảo
cho người lao động, người đầu tư kinh doanh yên tâm phát triển sản xuất.
Nét độc đáo trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh là ở chỗ bên cạnh chỉ ra các
nguồn lực để phát triển kinh tế, Người còn chỉ ra những căn bệnh có thể dẫn đến nguyên
cơ thoái hóa biến chất của Đảng cầm quyền, đến an nguy của chủ nghĩa xã hội. Do đó
Người yêu cầu:
Một là, những tư tưởng, tập quán, thói quen, tàn tích của xã hội cũ còn đang tồn tại,
cần phải loại bỏ dần trong quá trình xây dựng xã hội mới. Người kêu gọi xây dựng một xã
hội dựa trên “thuần phong mỹ tục”, đồng thời phải loại bỏ những “hủ tục”, phải “tiêu diệt
những thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại” như: lười biếng, cờ bạc, tệ nấu rượu lậu, buôn
gian bán lậu, tiêu xài xa xỉ, phải thực hiện một nếp sống mới lành mạnh, vui tươi, một nếp
sống xã hội chủ nghĩa” [48, tr.51].
Hai là, phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh gọi chủ nghĩa cá
nhân là “kẻ thù bên trong”, “kẻ thù nguy hiểm”, “hung ác”, “xấu xa nhất, nguy hiểm nhất”
đối với mỗi con người và đối với chủ nghĩa xã hội. Nên người cách mạng phải tiêu diệt chủ