LIÊN KẾT KINH TẾ VÙNG: TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN
TS. Hồ Kỳ Minh & ThS. Lê Minh Nhất Duy
Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng
I. Một số lý luận cơ bản về Vùng kinh tế và Liên kết kinh tế vùng:
1. Vùng kinh tế:
“Vùng là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong quá trình phát triển Kinh
tế – Xã hội của một số quốc gia. Vùng là không gian, là một trong những hình thái tồn tại
của vật chất.”152
Vùng kinh tế là “một bộ phận lãnh thổ nguyên vẹn của nền kinh tế quốc dân, có
những dấu hiệu sau: chuyên môn hóa những chức năng kinh tế quốc dân cơ bản; đồng
thời nó có tính tổng hợp: được hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại giữa các
bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ của vùng, coi
vùng như một lãnh thổ toàn vẹn, đơn vị có tổ chức trong bộ máy quản lý lãnh thổ nền
kinh tế quốc dân.”153
Vùng kinh tế – xã hội là: “Một bộ phận lớn của lãnh thổ quốc gia có các hoạt động
kinh tế – xã hội tiêu biểu, thực hiện phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nước. Đây
là loại vùng có quy mô diện tích, dân số ở cấp lớn nhất, phục vụ việc hoạch định chiến
lược, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình hình thành
phát triển kinh tế – xã hội trên mỗi vùng của đất nước”.154
2. Liên kết kinh tế:
“Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động
do các chủ thể kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương,
biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm
thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên cơ
sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa
các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước. Chính mối quan hệ
152
tiếng nói trong việc hoạch định chính sách, thúc đẩy sản xuất, tăng năng suất hơn so với
các cá thể bên ngoài.
Trên cơ sở đó, theo chúng tôi: Liên kết kinh tế Vùng là liên kết các ngành kinh tế
mang tính hợp tác bổ sung lẫn nhau giữa các địa phương có những nét tương đồng về vị
trí địa lý, điều kiện tự nhiên, phân bố dân cư v.v... Nhằm mục đích tăng cường sức hút
đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các địa phương trong vùng. Phương thức liên kết
rất đa dạng, đó có thể là tập trung phát triển một hạt nhân trung tâm, xung quanh là các
vệ tinh hoặc cũng có thể là một thành phẩm được đưa qua nhiều giai đoạn mà mỗi địa
phương đảm nhận một vai trò trong chuỗi giá trị sản phẩm đó.
II. Thực trạng Liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung:
1. Tổng quan về thực trạng phát triển kinh tế – xã hội vùng duyên hải miền
Trung
155
Trương Bá Thanh: Liên kết kinh tế miền Trung và Tây Nguyên – Từ lý luận đến thực tiễn, tạp chí Khoa
học công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 2009
445
1.1. Vị trí địa lý – Đặc điểm tự nhiên:
Vùng duyên hải miền Trung gồm 05 tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) và
02 tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ (Phú Yên và Khánh Hòa), có vị trí quan
trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng, an ninh đối với cả nước. Về tổ chức hành chính,
07 địa phương trong Vùng gồm 01 thành phố trực thuộc trung ương, 8 thành phố trực thuộc
tỉnh, 3 thị xã và 61 huyện, với diện tích tự nhiên là 38.210,9 km2, chiếm 11,54% diện tích
cả nước. Lãnh thổ của Vùng nằm ven biển, trải dài với 1.161 km bờ biển, hẹp theo chiều
ngang, chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng. Địa hình của Vùng tương đối đa dạng với nhiều
đồng bằng nhỏ hẹp ven biển, bị chia cắt bởi các dãy núi và nhiều con sông lớn.
Vùng duyên hải miền Trung nằm ở vị trí trung độ của đất nước, trên trục giao
còn khá lớn và có xu hướng gia tăng.
Cơ cấu kinh tế của Vùng chuyển dịch khá nhanh, tỷ trọng đóng góp của nông - lâm
- thủy sản vào GDP có xu hướng giảm (từ 23,5% năm 2006 xuống 15,7% năm 2011);
trong khi đó công nghiệp - xây dựng lại có sự tăng trưởng cao, tỷ trọng đóng góp vào
GDP tăng nhanh (từ 36,6% năm 2006 lên 41,8% năm 2011). Đây là xu hướng chung của
các địa phương trong Vùng; ngoại trừ Thành phố Đà Nẵng có dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng
cao, các địa phương còn lại đều có xu hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng
trong cơ cấu GDP.
Ngành công nghiệp của Vùng đạt tăng trưởng cao và liên tục trong giai đoạn 2007 2011 với tốc độ tăng bình quân 19,51%/năm. Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp năm
2011 đạt 74,48 nghìn tỷ đồng, tăng 11,28% so với năm 2010; thấp hơn so với tốc độ tăng
trưởng trong hai năm đầu của giai đoạn này (14,54%).
Kim ngạch xuất khẩu của Vùng đã tăng khoảng 1,9 lần trong giai đoạn 2007 - 2011,
với tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 18,39%. Năm 2011 đạt 3.317,49 triệu USD, trong
đó tỉnh dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu là Khánh Hòa với tổng giá trị xuất khẩu năm 2011
đạt 945,6 triệu USD, tiếp theo là Đà Nẵng với 771 triệu USD.
Dân số trung bình vùng duyên hải miền Trung theo thống kê năm 2011 là 8,25
triệu người, chiếm 9,42% dân số cả nước, mật độ bình quân là 216 người/km2. Phần lớn
dân cư phân bố trải rộng theo các tuyến đường quốc lộ, nhất là quốc lộ 1A và vùng đồng
bằng ven biển.
Tỷ lệ dân số thành thị bình quân cả vùng là 35,8%, cao hơn mức bình quân cả
nước (31,75%), tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn; tuy nhiên vẫn còn 04 tỉnh có tỷ lệ dân
số thành thị thấp hơn cả nước. Cơ cấu dân số tương đối trẻ so với cả nước và các vùng
kinh tế khác, có nền văn hóa đa dạng, đan xen giữa các dân tộc.
2. Nội dung Liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung
Ngày 15/7/2011 tại thành phố Đà Nẵng, Lãnh đạo chủ chốt của 07 tỉnh duyên hải
miền Trung (Bí thư tỉnh/thành ủy, Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố) đã tiến hành tổ chức Hội
thảo khoa học: “Liên kết phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung”. Tại Hội thảo, Lãnh đạo
chủ chốt 07 tỉnh đã thống nhất thực hiện Liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung với
các nội dung chủ yếu như sau:
2.1. Quan điểm liên kết
ngành, quy hoạch các khu kinh tế, khu công nghiệp của từng địa phương để phân bố lại
lực lượng sản xuất theo hướng ưu tiên khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng địa
phương; liên kết để phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ, tăng cường các hình
thức doanh nghiệp vệ tinh, thuê ngoài; từng bước hạn chế sự trùng lắp về cơ cấu ngành,
sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Liên kết phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh về
vùng nguyên liệu, lao động, vốn v.v… của các địa phương trong khu vực miền Trung Tây Nguyên nhằm phục vụ phát triển các ngành công nghiệp chủ lực ở các khu kinh tế,
khu công nghệ cao trong Vùng.
448
- Phát triển mạnh ngành khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản, nhất là phối hợp
đánh bắt hải sản xa bờ; đồng thời cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá. Xây dựng một Trung
tâm hải sản của Vùng mang tầm cỡ quốc gia và hướng đến tầm quốc tế.
- Hình thành các trung tâm kinh tế đảo như Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Hoàng Sa,
Trường Sa; kết hợp kinh tế với quốc phòng, bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia.
- Đẩy nhanh việc triển khai khu công nghệ cao Đà Nẵng và nâng cao hiệu quả hoạt
động của các khu kinh tế có ý nghĩa động lực gồm Chân Mây - Lăng Cô, Chu Lai, Dung
Quất, Nhơn Hội, Nam Phú Yên và Vân Phong.
(2) Xây dựng đồng bộ hạ tầng giao thông liên tỉnh và quốc tế, nhất là hạ tầng giao
thông đường bộ
- Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ của từng địa phương,
khớp nối với hệ thống giao thông đường bộ liên tỉnh và quốc tế.
- Tìm kiếm cơ chế đầu tư phát triển và tạo bước đột phá trong xúc tiến triển khai
những công trình có tầm ảnh hưởng lớn, tạo ra liên kết vùng.
(3) Thiết lập không gian kinh tế du lịch vùng thống nhất
- Hợp tác xây dựng không gian kinh tế du lịch vùng thống nhất
- Xây dựng mới hiện đại một số khu hội chợ, hội nghị, hội thảo quốc tế, khu thể
thao tổng hợp ở Huế, Đà Nẵng, Hội An, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang đủ
tiêu chuẩn để tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch, vui chơi giải trí quốc tế, nhất
xác lập thương hiệu (biểu tượng, khẩu hiệu) v.v… dùng chung cho toàn Vùng nghiên cứu
nhằm xây dựng và định vị hình ảnh toàn Vùng trước công chúng và các nhà đầu tư.
- Hoàn thiện hệ thống xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch trong Vùng; tạo ra sự liên
kết, phối hợp giữa các tổ chức này, các ngành hàng, các doanh nghiệp với nhau, vừa bảo
đảm hài hòa lợi ích của mỗi địa phương, vừa phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Vùng.
(7) Cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh Vùng
- Chia sẻ kinh nghiệm giữa các tỉnh, thành phố nhằm tăng cường năng lực điều
hành của Chính quyền địa phương đồng thời công khai, minh bạch các chủ trương, chính
sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH của toàn Vùng và từng địa phương thông
qua cổng thông tin điện tử của từng địa phương, cổng thông tin điện tử chung của toàn
Vùng v.v… nhằm thuận lợi hóa việc tiếp cận thông tin pháp lý cho cộng đồng doanh
nghiệp trong và ngoài nước.
- Đa dạng hóa các loại hình liên kết kinh tế gồm liên kết toàn Vùng, liên kết giữa
các địa phương trong Vùng, liên kết giữa các khu kinh tế, khu công nghệ cao với nhau,
liên kết giữa Vùng với các địa phương, khu vực trong cả nước, liên kết quốc tế v.v…
thông qua các biên bản ghi nhớ, cam kết trách nhiệm, các quy chế hoạt động hoặc các hợp
đồng liên kết.
- Tổ chức định kỳ Hội nghị phát triển vùng các tỉnh miền Trung nhằm thu hút được
nhiều ý kiến đa dạng, nhiều chiều từ các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu
450
và các doanh nghiệp, là cơ sở tham khảo quan trọng để các tỉnh, thành phố trong Vùng
hoạch định chính sách.
(8) Xây dựng hệ thống thông tin và trao đổi thông tin kinh tế - xã hội; đầu tư trên
địa bàn
- Xây dựng và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu vùng về GDP; cơ cấu kinh tế;
dân số và nguồn nhân lực; thu chi ngân sách nhà nước; tổng vốn đầu tư phát triển; kim
ngạch xuất nhập khẩu; tình hình đầu tư trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công
nghệ cao; kết cấu hạ tầng giao thông liên tỉnh và quốc tế hạ tầng viễn thông - CNTT; tốc
(3) Quỹ Nghiên cứu phát triển miền Trung: hình thành từ nguồn đóng góp của các
địa phương trong Vùng, sự tài trợ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV) và sự ủng hộ từ các tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước nhằm mục đích phục vụ
kinh phí hoạt động của Ban điều phối Vùng, công tác nghiên cứu của Nhóm Tư vấn và
các hoạt động chung của Vùng. Cơ cấu tổ chức của Quỹ gồm Hội đồng quản lý Quỹ và
Ban Giám đốc điều hành.
(4) Trung tâm Tư vấn – Nghiên cứu Phát triển miền Trung (Viện Nghiên cứu Phát
triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng): là cơ quan thường trực và giúp việc Ban Điều phối và
Nhóm Tư vấn Hợp tác phát triển Vùng; theo dõi và tổng hợp tình hình phát triển Kinh tế
– Xã hội và triển khai các hoạt động liên kết phát triển Vùng.
3. Tình hình triển khai liên kết phát triển vùng duyên hải miền Trung
3.1. Những kết quả đạt được:
Tiếp theo việc thành lập và ký kết biên bản Liên kết phát triển vùng duyên hải
miền Trung, qua hơn một năm thực hiện, Ban Điều phối Vùng và Nhóm Tư vấn Hợp tác
phát triển Vùng đã tổ chức nhiều hoạt động thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các
chuyên gia, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp lớn trong Vùng, đặc biệt là sự ủng hộ
của các đồng chí Lãnh đạo cấp cao ở Trung ương như các đồng chí Phó Thủ tướng Chính
phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội, các đồng chí Lãnh đạo các Bộ, Ngành Trung ương v.v…
Đến nay, Ban Điều phối Vùng đã phối hợp với các UBND tỉnh/thành phố trong
Vùng đã tổ chức thành công 03 cuộc Hội thảo khoa học với các chủ đề: “Liên kết phát
triển du lịch các tỉnh duyên hải miền Trung” tổ chức ngày 19/12/2011 tại thành phố Tuy
Hòa, Phú Yên, “Liên kết đào tạo nguồn nhân lực các tỉnh duyên hải miền Trung” tổ chức
ngày 08/4/2012 tại tỉnh Thừa Thiên Huế và “Kinh nghiệm thu hút đầu tư và phát triển cơ
sở hạ tầng các Khu công nghiệp các tỉnh duyên hải miền Trung” tổ chức ngày 02/8/2012
tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Đồng thời tại các cuộc hội thảo, Ban Điều phối
Vùng đã tổ chức cho các chủ thể liên quan (cơ quan, doanh nghiệp v.v…) ký kết các biên
bản nhằm khuyến khích các địa phương, doanh nghiệp trong Vùng tăng cường sự liên kết
hợp tác; xây dựng một không gian kinh tế thống nhất, hình thành các doanh nghiệp có
quy mô lớn, thương hiệu mạnh, đặc biệt là trong liên kết phát triển du lịch, thu hút đầu tư
vào các KCN, KKT, KCNC và phối hợp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
III. Kiến nghị, đề xuất:
1. Đối với Trung ương:
(1) Quốc hội nên nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch, Luật
Đất đai, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Doanh nghiệp v.v…, trong đó có các nội dung ưu
tiên, khuyến khích phát triển vùng kinh tế.
(2) Chính phủ cần sớm ban hành quyết định về cơ chế phối hợp giữa các địa
phương trong phát triển kinh tế vùng và tái cơ cấu vùng kinh tế; ban hành quyết định về
chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế Vùng, đồng thời
453
kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực để các Ban Chỉ đạo thực hiện tốt vai trò điều phối
và phối hợp phát triển các vùng kinh tế.
(3) Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương cần quan tâm và hỗ trợ hơn nữa trong
các hoạt động Liên kết vùng duyên hải miền Trung, nhất là các kiến nghị từ các kỳ Hội thảo
khoa học Liên kết phát triển Vùng như: Hoàn thiện hệ thống giao thông đường bộ, phát
triển các sản phẩm du lịch đặc thù, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, liên kết phát
triển các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao v.v… Dựa trên cơ sở các kiến
nghị này, các Bộ Ngành Trung ương cần nghiên cứu, xem xét lựa chọn và đề nghị lên
Chính phủ đưa vào chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển của quốc gia và của Vùng.
(4) Lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương cần tham gia trực tiếp nhiều
hơn vào các cuộc hội nghị, hội thảo, cuộc họp về Liên kết Vùng nhằm nắm bắt và giải
quyết kịp thời các đề xuất, kiến nghị của Ban Điều phối Vùng cũng như của từng địa
phương. Đồng thời, tiếp tục thể chế hóa các văn bản pháp quy về Liên kết Vùng (Luật,
Nghị định v.v…) nhằm tăng cường khả năng liên kết, đẩy mạnh giao lưu hợp tác giữa các
Vùng trong cả nước, tránh tình trạng bị chia cắt theo địa lý hành chính.
2. Đối với vùng duyên hải miền Trung:
(1) Ban Điều phối Vùng cần tăng cường các hoạt động liên kết hợp tác giữa các
tỉnh/thành phố trong Vùng, trực tiếp chỉ đạo và giải quyết những khó khăn, vướng mắc tại
từng địa phương nhằm đẩy nhanh sự phát triển trong toàn Vùng.
đến thực tiễn, tạp chí Khoa học công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 03/2009.
8. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Liên kết phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung”,
Đà Nẵng , 2011.
9. Biên bản cam kết: “Liên kết phát triển 07 tỉnh duyên hải miền Trung”,Đà Nẵng, 2011.
10. TS. Hồ Kỳ Minh và Ths. Võ Hồ Bảo Hạnh: Tái cơ cấu vùng kinh tế ở Việt Nam,
Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng, số 30/2012
11. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Kinh nghiệm thu hút đầu tư và phát triển cơ sở hạ
tầng các Khu công nghiệp các tỉnh duyên hải miền Trung”, Bình Định, 2012.
455