Chính sách cổ phần hóa tại việt nam, từ lý luận đến thực tiễn thực hiện pot - Pdf 20

Mở đầu
Như đã biết đất nước ta là một nước nghèo, các trang thiết bị lạc hậu, nguồn tài
chính hạn hẹp nên các doanh nghiệp Nhà nước hầu như không có khả năng cạnh
tranh trên thị trường và đổi mới công nghệ cũng như sản phẩm. Ngân sách Nhà
nước không có khả năng cấp vốn và bao cấp các doanh nghiệp Nhà nước như trước
đây. Các ngân hàng cho vay cũng phải có các điều kiện bảo đảm như tài sản thế
chấp, khả năng kinh doanh để tính khả năng thu hồi vốn. Hầu hết các doanh nghiệp
ở trong tình trạng không có vốn nhưng cũng không có cách nào để huy động. Đối
mặt với những khó khăn đó, cổ phần hóa được coi là một giải pháp nhằm tạo ra môi
trường huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp để đầu tư chiều sâu đổi mới
công nghệ. Vì vậy đây là lựa chọn tất yếu có tính khách quan. Cổ phần hóa là một
nội dung quan trọng trong công cuộc đổi mới. Cổ phần hóa thu hút được một nguồn
vốn nhất định trong công nhân viên tại doanh nghiệp và ngoài xã hội, tạo ra một
động lực trong quản lý và phát huy tốt hơn tính sáng tạo, cần cù của người lao động
việc làm của người lao động đảm bảo tốt hơn nên doanh thu lợi nhuận và các khoản
nộp ngân sách, tích lũy vốn của doanh nghiệp và chính thu nhập của người lao động
sẽ tăng lên chuyển đổi hình thức sở hữu với quy chế quản lý mới,người lao động sẽ
phát huy ý thức kỷ luật, tự giác, chủ động tinh thần tiết kiệm trong lao động góp
phần làm cho hiệu quả trong sản xuất kinh doanh ngày càng cao, mang lợi ích thiết
thực cho bản thân mình, công ty Nhà nước và xã hội.
Nội dung
I. Nghiên cứu lí luận về doanh nghiệp Nhà nước và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà
nước trong nền kinh tế ở Việt Nam
1. Doanh nghiệp Nhà nước
a. Khái niệm: Theo điều 1 của luật doanh nghiệp Nhà nước quy định.
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ
chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động côn gích, nhằm thực hiện mục
tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước gia….

- Doanh nghiệp Nhà nước gánh vác trách nhiệm nặng nề trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội.
Như vậy, doanh nghiệp Nhà nước là trung tâm tiêu biểu của khoa học, công nghệ, là
tấm gương sáng về quản lý, các doanh nghiệp không chỉ chịu phục vụ riêng cho
mình, mà còn góp phần phổ biến trang bị khoa học, công nghệ mới…. Doanh
nghiệp Nhà nước còn tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện cuộc
sống, nâng cao văn hóa giáo dục, giảm sự chênh lệch thành thị và nông thôn…
2. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
a. Khái niệm
Trước xu thế phát triển ngày càng cao của thị trường thế giới và những yêu cầu của
nền kinh tế "mở" thì mô hình hoạt động cứng nhắc của các doanh nghiệp Nhà nước
không còn phù hợp đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Trên thế
giới, xu thế cổ phần hóa đã diễn ra mạnh mẽ từ những năm 80, cổ phần hóa có thể
hiểu là việc chuyển một doanh nghiệp Nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước thành công
ty cổ phần thuộc sở hữu tập thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và huy động vốn
đáp ứng cho nhu cầu đầu tư và phát triển.
Như vậy, cổ phần hóa chính là phương thức thực hiện xã• hội hóa sở hữu, chuyển
đổi từ sở hữu toàn dân sang sở hữu tập thể. Đây là một công cụ huy động vốn đạt
hiệu quả cao, tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp.
b. Vị trí và vai trò của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là lối ra phù hợp với khu vực kinh tế Nhà
nước, nó có vị trí vai trò trên nhiều mặt sau:
- Cổ phần hóa giải tỏa được bế tắc khủng hoảng về vốn cho doanh nghiệp cổ phần
hóa để tạo điều kiện cho nó mở rộng sản xuất kinh doanh, giảm nhẹ gánh nặng tài
chính cho Nhà nước, Nhà nước có thể thu hồi vốn đầu tư ở doanh nghiệp để chuyển
sang đầu tư các hoạt động ưu tiên hơn nhằm tạo đòn bẩy sang đầu tư cho các hoạt
động ưu tiên hơn nhằm tạo đòn bẩy thúc đẩy phát triển của toàn bộ xã hội, như đầu
tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật công trình phúc lợi, giáo dục khoa học
- Cổ phần hóa thông qua đa dạng hóa sở hữu tạo động lực cho người lao động. Cổ
phần hóa bảo đảm sở hữu hóa cho người lao động tại công ty, xí nghiệp bằng cách

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đánh dấu các mốc
quan trọng trong tiến trình đổi mới kinh tế xã hội của đất nước.
- Cùng với quá trình đổi mới và chuyển đổi cơ chế đã làm cho doanh nghiệp Nhà
nước năng động hơn, hiệu quả hơn. Số lượng doanh nghiệp Nhà nước từ năm 1989
là 12.000, sau khi mạnh tay sắp xếp lại đã giảm đi quá nửa, nhưng tỷ trọng GDP của
khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân lại tăng lên, từ 37,6% năm
1986 tăng lên 43,3% năm 1995, năm 2000 khoảng 39%; trong 5 năm 1991 - 1995
tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của khu vực doanh nghiệp Nhà nước
đạt 11,7%, trong đó của toàn bộ nền kinh tế quốc dân chỉ là 8,2%.
- Tuy đã đạt được nhiều kết quả, nhiều tích cực song trước xu thế toàn cầu hóa, hội
nhập kinh tế mà có không ít các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ, làm mất
vốn của Nhà nước, không có khả năng thanh toán công nợ. Theo báo cáo của Bộ
Tài chính tại hội nghị ngành tài chính toàn quốc họp tại Hà Nội ngày 9 đến ngày
10/11/1998 số doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ có giảm dần từ 21% năm 1991 còn
16% năm 1995 nhưng đến năm 1996 lại tăng lên 22%. Năm 1997 có 1923 doanh
nghiệp thua lỗ, chiếm 35% tổng số doanh nghiệp Nhà nước. Các doanh nghiệp Nhà
nước có quy mô còn bé và không đồng đều, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, công nghệ,
tay nghề kém, kinh nghiệm, quản lý còn nhiều bất cập đã làm cho các doanh nghiệp
Nhà nước thua lỗ trầm trọng.
3. Đánh giá thành tựu, hạn chế của doanh nghiệp Nhà nước
a. Đánh giá về những thành tựu của doanh nghiệp Nhà nước
Trong quá trình đổi mới và chuyển đổi cơ chế đã giúp cho các doanh nghiệp Nhà
nước có hiệu quả kinh doanh ngày càng tăng và đóng góp vai trò quan trọng trong
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Đặc biệt sự phát triển của các doanh nghiệp
Nhà nước trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật, năng lượng, dầu khí, giao thông
bưu chính đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp Nhà nước thuộc các thành phần kinh
tế khác, phát triển đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Các doanh nghiệp Nhà nước đóng góp GDP hàng năm cho khu vực kinh tế quốc
dân, tạo ra nguồn vốn lớn cho Nhà nước thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng, xây

hàng nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, thị trường khu
vực và thị trường thế giới.
- Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp theo hướng giao quyền tự chủ kinh doanh,
từng bước xóa bỏ cơ chế Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản nhiệm vụ là sự
cách biệt giữa doanh nghiệp Trung ương và doanh nghiệp địa phương, đồng thời
tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát của Nhà nước.
- Cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước theo yêu cầu của xã hội hóa nền
sản xuất, đặc biệt là xã hội hóa về vốn.
Sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước là một vấn đề vừa có tính bức xúc, vừa có
tính cơ bản. Đây là một công việc phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực và nhiều tầng lớp dân cư, nó đòi hỏi phải chi phí nhiều nguồn lực và không thể
giải quyết một cách nhanh chóng. Để đạt được những vấn đề đặt ra trong việc củng
cố sắp xếp lại các doanh nghiệp thì các doanh nghiệp phải giải quyết một số vấn đề
chủ yếu như sau:
+ Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước phải được khẳng định dựa trên cơ sở
nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh là chủ yếu. Các doanh
nghiệp Nhà nước là công cụ vô cùng quan trọng của Nhà nước để dẫn dắt nền kinh
tế quốc dân phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Cách tiếp cận vấn đề sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước cần xuất phát từ
quan hệ sở hữu, phải có quan điểm đúng đắn về cơ cấu sở hữu trong các doanh
nghiệp Nhà nước. Đặc biệt, coi trọng quan hệ giữa doanh nghiệp Nhà nước và các
thành phần kinh tế để tạo lên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế.
+ Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng trong sản xuất kinh doanh giữa các
thành phần kinh tế.
+ Xác định đại diện chủ sở hữu tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước
trên cơ sở phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng.
+ Hoàn thiện chức năng quản lý của Nhà nước về kinh tế trên cơ sở tách quyền sở
hữu Nhà nước của các cơ quan Nhà nước với quyền sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, xóa bỏ chế độ cơ quan, cấp hành chính chủ quản, với doanh nghiệp là chủ
thể sản xuất vốn lâu nay đã can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh

điểm này cần được phổ biến rộng rãi đến các chủ thể có khả năng mua cổ phiếu.
Đứng trên góc độ người lao động thì Cổ phần hóa chính là một cơ hội để vươn lên
làm chủ sản xuất. Động lực này thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn,
năng suất và chất lượng cao hơn. Do đó, cổ phần hóa phải tạo điều kiện cho người
lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp có như vậy thì mới phát triển được sản xuất.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước chỉ rõ: "cổ phần hóa một số doanh nghiệp Nhà
nước không phải là tư nhân hóa nền kinh tế mà là quá trình giảm bớt sở hữu Nhà
nước trong các doanh nghiệp Nhà nướcvà đa dạng hóa sở hữu. Nó tạo cơ sở cho
việc đổi mới các quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm. thúc đẩy quá trình
tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hóa nền kinh tế, tạo động lực phát triển trong
doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh". Đảng và Nhà nước cũng
khẳng định "cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước không có nghĩa là làm suy yếu
khu vực kinh tế Nhà nước, mà là một trong các giải pháp quan trọng để tháo gỡ
những vướng mắc, khó khăn trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà
nước hiện nay nhằm phát huy vai trò chủ đạo thực sự của chúng trong nền kinh tế
thị trường".
Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được Đảng và Nhà nước khẳng định
và chỉ rõ như là giải pháp mang tính chất bước ngoặt để doanh nghiệp Nhà nước tồn
tại và phát triển trong xu hướng xã hội hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
2. Các giải pháp cơ bản tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
a. Giải pháp cho các doanh nghiệp còn gặp khó khăn về tài chính và quản lý
- Những doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả, những nhóm doanh nghiệp có
khó khăn về tài chính, những nhóm doanh nghiệp có khó khăn vè quản lý giá thành
sản xuất lên cao thì đều thuộc nhóm doanh nghiệp cổ phần hóa còn những doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài sẽ phải áp dụng các biện pháp sát nhập với các đơn vị
khác rồi cổ phần hoá, hoặc bán cho cán bộ công nhân viên chức trong và ngoài
doanh nghiệp hoặc cho phá sản.
Hay cần phải thành lập các quỹ hỗ trợ để giải quyết khó khăn về tài chính,nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm ăn có lãi.
Khi tham gia vào cơ chế thị trường thì phải nhận thức rõ khâu quản lý là khâu có

lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Đây là cơ hội cho những người có thực lực,
những doanh nghiệp vươn lên khẳng định mình. Còn đối với những người kém
năng lực, những doanh nghiệp yếu thì phải nhận ra là đã đến lúc phải tự vươn lên
hoàn thiện mình nên không muốn bị đào thải theo quy luật cạnh tranh trong nền
kinh tế thị trường. Các cơ quan chức năng có trách nhiệm làm rõ cho người lao
động hiểu rõ những lợi ích mà họ được hưởng khi tiến hành cổ phần hóa. Đồng thời
phải làm rõ cho họ thấy được những trách nhiệm mà họ sẽ phải gánh vào, những rủi
ro có thể xảy ra để họ có nỗ lực, quyết tâm hơn.
+ Các phương tiện thông tin đại chúng góp phần rất đắc lực để hỗ trợ việc tuyên
truyền các mục tiêu trên. Tuyên truyền qua đài, báo, ti vi đặc biệt ở những tờ báo uy
tín, truyền hình trung ương. Tuyên truyền qua các chương trình thời sự, những bộ
phim, những câu chuyện… là những chương trình thu hút được nhiều khán giả.
Việc đưa tin về các công ty cổ phần làm ăn có hiệu quả, những buổi phỏng vấn trực
tiếp trên đài truyền thanh, truyền hình về chủ trương cổ phần hóa chắc chắn sẽ đóng
góp vào việc tuyên truyền cho đông đảo quần chúng về quan điểm của Đảng và Nhà
nước. Qua đây, doanh nghiệp cũng tác động đến các cổ đông tiềm năng ngoài doanh
nghiệp.
+ Ngoài ra, các cơ quan chức năng phải nhận thức rõ và hiểu những chủ trương
chính sách mới của Chính phủ về cổ phần hóa "truyền bá cho đông đảo quần chúng
những chủ trương mới của Chính phủ về cổ phần hóa.
- Đối với những hành động chân lý có ý cản trở việc thực hiện chủ trương cổ phần
hóa cần có những chế tài xử lý nghiêm minh. Những thành phần này chủ yếu là
những cán bộ l•nh đạo sợ mất chức hoặc những người có năng lực kém sợ mất chỗ
làm. Cần xử lý nghiêm minh những trường hợp này, có như vậy vai trò chỉ đạo của
các cơ quan, tổ chức mới được đảm bảo, trên cơ sở đó tiến hành đẩy nhanh các công
đoạn của quy trình cổ phần hóa.
- Phê phán và khắc phục triệt để tư tưởng ỷ lại vào bao cấp của Nhà nước:
+ Trước kia, các doanh nghiệp Nhà nước được hình thành một cách ồ ạt không quan
tâm đến việc có hoạt động hiệu quả hay không. Chính công tác quản lý lỏng lẻo,
thiếu đồng bộ, không đi sâu đi sát tình hình tạo ra một bộ máy cồng kềnh ỳ ạch

hiện tại và trong tương lai. Nhằm đáp ứng những nhu cầu tất yếu thay đổi của thị
trường cũng như hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo động lực cho nền kinh tế cạnh tranh
với các nền kinh tế trên thế giới.
kết luận
Chúng ta đang bắt đầu một thiên niên kỷ mới, một thiên niên kỷ hội nhập và tăng
trưởng kinh tế. Khi tham gia vào thị trường thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam
đặc biệt doanh nghiệp Nhà nước phải chấp nhận cạnh tranh khốc liệt. Để có chỗ
đứng, các doanh nghiệp Nhà nước buộc phải cải cách. Cổ phần hóa ra đời thật đúng
lúc chứng tỏ đây là một biện pháp đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan.
Nghiên cứu cổ phần hóa nó có cả ý nghĩa lí luận và thực tiễn thể hiện một cách sâu
sắc. Cổ phần hóa thể hiện được tư tưởng quan điểm nhận thức của Đảng và Nhà
nước trong nền kinh tế thị trường hội nhập khu vực và quốc tế. Giúp chúng ta hiểu
được những nhu cầu tất yếu trong tiến trình cổ phần hóa để xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội.
Cổ phần hóa một vấn đề phức tạp và đa dạng hóa sở hữu là đi ngược lại với những
chính sách của chúng ta trước đây. Quốc hữu hóa một doanh nghiệp tư nhân có khi
chỉ cần một sắc lệnh nhưng cổ phần hóa một doanh nghiệp Nhà nước thì không đơn
giản một chút nào. Để thực hiện thành công cổ phần hóa chắc chắn chúng ta sẽ còn
gặp rất nhiều khó khăn trước xu thế toàn cầu hóa. Tuy nhiên, chúng ta không được
nóng vội, chủ quan đối với sự nghiệp cổ phần hóa để tránh gặp phải những cạm bẫy
của thị trường. Điều quan trọng ở đây là chúng ta phải kết hợp hài hòa giữa yếu tố
chủ quan và yếu tố khách quan. Nói đến yếu tố chủ quan là nói đến tư tưởng, khả
năng của con người, sự nỗ lực của các điều kiện vật chất, bối cảnh kinh tế, xã hội
môi trường pháp lý.
Ngoài ra, chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm cổ phần hóa của các nước đi
trước. Tiếp nhận có chọn lọc các bài học kinh nghiệm sẽ giúp chúng ta rất nhiều,
tránh được những sai lầm có thể mắc phải.
Cổ phần hóa là giải pháp mang tính quyết định cho các doanh nghiệp Nhà nước
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đề cương đề án kinh tế chính trị:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status