Giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện ba vì, thành phố hà nội - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

ĐỖ VĂN THÀNH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VŨ MINH TIẾN

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng đươc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

Đỗ Văn Thành


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Tiến sĩ Vũ Minh Tiến đã luôn quan tâm, hết lòng hướng dẫn cũng như
động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này.

1.1.Những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai............ 7
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp đất đai. ...............................7
1.1.2.Khái niệm, đặc điểm và phân loại giải quyết tranh chấp đất đai .........11
1.1.3.Các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai chủ yếu. .....................14
1.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam. .............................. 25
1.2.1.Sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp
đất đai…… .......................................................................................................25
1.2.2.Các quy định về phương thức giải quyết và thẩm quyền, thủ tục........29
1.2.3.Các quy định về thi hành bản án, quyết định, thoả thuận giải quyết
tranh chấp đất đai. .............................................................................................32
1.2.4.Các quy định về xử lý hành vi vi phạm trong và sau quá trình giải
quyết tranh chấp................................................................................................33
Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾTTRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI........................................................39
2.1. Đặc điểm, tình hình tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Ba Vì .............. 39
2.1.1.Vài nét về huyện Ba Vì. .......................................................................39


2.1.2.Tình hình tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai trên địa
bàn huyện Ba Vì ...............................................................................................41
2.2.Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về phương thức, thẩm quyền,
thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai. .................................................................... 42
2.2.1.Đối với Ủy ban nhân dân cấp xã. .........................................................42

2.2.2. Đối với Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì .................................... 44
2.2.3. Đối với Tòa án nhân dân huyện Ba Vì ..................................... 46
2.3.Ưu điểm, hạn chế - nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong công tác giải
quyết tranh chấp đất đai. ....................................................................................... 51
2.3.1.Ưu điểm và nguyên nhân. ....................................................................51
2.3.2.Hạn chế và nguyên nhân. .....................................................................57

Giải phóng mặt bằng:

GPMB

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

GCNQSDĐ

Hành chính Nhà nước:

HCNN

Hành vi hành chính:

HVHC

Hội đồng nhân dân:

HĐND

Quản lý hành chính:

QLHC

Quản lý nhà nước:

QLNN

Quản lý đất đai


Thủ tục hành chính:

TTHC

Tòa án nhân dân:

TAND

Tranh chấp đất đai:

TCĐĐ

Tranh chấp dân sự:

TCDS

Ủy ban nhân dân:

UBND

Viện kiểm sát nhân dân:

VKSND

Vi phạm hành chính:

VPHC

Sử dụng đất:


không chính thống. Tức là: Bên có quyền, lợi ích bị xâm hại có thể sử dụng mọi
biện pháp như: lôi kéo đông người để dùng sức ép tập thể; thông qua các cơ quan
ngôn luận (Báo, đài) để tạo dư luận xã hội. Thậm chí, họ “tự giải quyết” bằng cách
thuê “xã hội đen” để giải quyết tranh chấp. Những cách giải quyết này tuy không
chính thống nhưng đôi khi đem lại hiệu quả nhất định.

1


Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay đang là một thách thức đối
với các cơ quan nhà nước (CQNN) có thẩm quyền. Việc giải quyết dứt điểm, có
hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội trong cả nước nói chung, ở mỗi địa phương nói riêng. Vì vậy,
việc tìm hiểu, nhận dạng các nguyên nhân phát sinh tranh chấp, khiếu nai, tố cáo về
đất đai là rất cần thiết nhằm tìm kiếmcơ chế thích hợp để giải quyết dứt điểm, triệt
để loại tranh chấp này.
TCĐĐ kéo dài nếu không được giải quyết dứt điểm sẽ dễ dẫn đến “điểm
nóng”, bị kẻ xấu lợi dụng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước. Chính
vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật về giải quyết TCĐĐ trong giai đoạn hiện naylà rất
cần thiết. Với lý do đó, học viên đã lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp đất đai
trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu tổng quát những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn đánh giá
thực trạng giải quyết TCĐĐ trên địa bàn huyện Ba Vì giai đoạn 2011 - 2016. Qua
đó, tìm ra những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong giải quyết TCĐĐ. Từ đó, đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết TCĐĐ, góp phần
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân; tăng cường trách nhiệm của cơ quan
Nhà nước (CQNN) có thẩm quyền đối với hoạt động quản lý Nhà nước (QLNN)
trong lĩnh vực đất đai.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.

hàng năm cao. Nhiều vụ việc công dân tụ tập thành đoàn, đi xe, băng zôn, khẩu hiệu
kéo đến các cơ quan của Đảng, chính quyền nhằm gây áp lực đòi được giải quyết
quyền lợi theo yêu cầu. Số lượng công dân tập trung đông chủ yếu ở các kỳ Đại hội
đảng, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp hay tại các kỳ tiếp xúc
cử tri, có nơi công dân tập trung huy động thương binh, phụ nữ, người già ... bao
vây trụ sở chính quyền xã, huyện, tỉnh, doanh nghiệp gây mất trật tự, an toàn xã hội.
Nhiều trường hợp khiếu nại có liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất để
thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội, như đòi được bồi thường đất ở, nâng
giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải quyết việc làm; đòi lại đất cũ,

3


TCĐĐ, nhà ở. Ngoài ra, có một số khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính sách
xã hội, kỷ luật của cán bộ, công chức ... Về nội dung tố cáo, chủ yếu là tố cáo cán
bộ, công chức làm sai chính sách, tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đất đai
(QLĐĐ), tài chính, đầu tư, xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội, cổ phần
hóa doanh nghiệp; thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, bao che người
bị tố cáo, không xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật.
Liên quan đến vấn đề giải quyết TCĐĐ mà học viên lựa chọn nghiên cứu, đã
có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này như: “Giải quyết tranh chấp hành chính
trong lĩnh vực đất đai ở nước ta hiện nay”- năm 2015 của tác giả Nguyễn Thắng
Lợi; “Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đaicủa cán bộ quản lý hành chính cấp cơ
sở”- năm 2016 của tác giả Hồ Thị Song Quỳnh; “Tăng cường vai trò quản lý của
Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Hà Nội” -năm
2007 của tác giả Trần Tú Cường ... Nhìn chung, các đề tài này cũng đã chỉ ra được
một số hạn chế, bất cập trong giải quyết TCĐĐ; đồng thời đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết TCĐĐ. Tuy nhiên, với việc sửa đổi Luật đất đai
2003 cùng với việc ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành trong thời gian qua
và thực tiễn áp dụng tại địa bàn huyện Ba Vì cho thấy vẫn còn một số vướng mắc,

nhân dân được nâng cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển. Nông nghiệp nông
thôn ngày càng khởi sắc, các trang trại kinh tế ngày càng phát triển. Cùng với sự
phát triển chung của cả nước trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và việc
sát nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây vào Thủ đô Hà Nội, nhiều cụm công nghiệp, doanh
nghiệpđược mở ra. Kéo theo đó là việc thu hồi đất, bồi thường GPMB, chuyển
nhượng đất ... Từ đó, giá trị của đất được nâng lên. Đây chính là nguyên nhân dẫn
đến trình trạng TCĐĐtrên địa bàn huyện Ba Vì trong thời gian vừa qua.
6.2.3. Phương pháp nghiên cứu.
Chương 1, chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;
phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh;

5


Chương 2, chủ yếu nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết
TCĐĐ, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và so sánh;
Chương 3, chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh, đối chiều và sử dụng
phương pháp dự báo khoa học.
7. Dự kiến kết quả.
Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về giải quyết TCĐĐ. Một số bài học
kinh nghiệm về giải quyết TCĐĐ của một số huyện ngoại thành Hà Nội;
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết TCĐĐ trên địa bàn
huyện Ba Vì để tìm ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, rút ra bài học kinh
nghiệm về giải quyết TCĐĐ trên địa bàn huyện Ba Vì. Đồng thời, đưa ra một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết TCĐĐ trên địa bàn huyện Ba
Vì nói riêng và trên cả nước nói chung.

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
HỌC VIÊN


7


Ví dụ: Tranh chấp thị trường.
Theo từ điển Việt - Việt, tranh chấp là một động từ. Có nghĩa là:
Thứ nhất: giành nhau cái không rõ thuộc về bên nào.
Ví dụ: Phần đất tranh chấp giữa hai nhà hay tranh chấp bản quyền tác phẩm.
Thứ hai là: giằng co khi bất đồng ý kiến.
Ví dụ: giải quyết vụ tranh chấp tài sản[35].
Trong dân sự: “Tranh chấp dân sự là những tranh chấp về quyền, quyền lợi
và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự như tranh
chấp trong việc ký kết, thi hành và thanh toán các hợp đồng mua bán, đầu tư,
chuyển giao công nghệ, vận chuyển, bảo hiểm… hoặc trong việc thực hiện các
quyền về nhân thân có gắn liền với quan hệ tài sản như quyền tác giả, phát minh,
sáng chế, trong ly hôn, thừa kế...”[36].
Trong lĩnh vực kinh tế: “Tranh chấp kinh tế là mâu thuẫn, xung đột về quyền
và nghĩa vụ kinh tế của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật kinh tế” [40].
Thuật ngữ “tranh chấp kinh tế”chỉ được sử dụng trong Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế năm 1994.Từ khi Bộ luật TTDS năm 2004 có hiệu lực thì
thuật ngữ nàykhông còn được sử dụng. Thay vào đó, thuật ngữ “tranh chấp về kinh
doanh, thương mại” được sử dụng trong Bộ luật TTDS năm 2004 cho đến nay.
Trong lĩnh vực thương mại: “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn
(bất đồng hoặc xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực
hiện các hoạt động thương mại” [41].
Trong lĩnh vực lao động: “Tranh chấp lao động là là những tranh chấp về
quyền lợi và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện
lao động khác về thực hiện howph đồng lao động, thỏa ước tập thề và trong qua
trình học nghề” [42].

8


1.1.1.3. Phân loại tranh chấp đất đai.
Thực tế hiện nay, TCĐĐ không chỉ là hiện tượng phổ biến mà còn hết sức đa
dạng về chủ thể cũng như nội dung tranh chấp. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất
pháp lý của các tranh chấp, có thể phân ra thành các nhóm chủ yếu sau:
Nhóm thứ nhất: Tranh chấp xác định chủ thể có quyền sử dụng đất.
Đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan đến
các giao dịch về đất đai và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Về bản chất khi
giaỉ quyết tranh chấp này tòa án phải xác định quyền sử dụng đất thuộc về ai.
Các tranh chấp phổ biến trong trường hợp này là tranh chấp về ranh giới đất
liền kề, ngõ đi, cơ quan nhà nước cấp GCNQSDĐ nhưng bị trùng diện tích, người
sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ nhưng chủ cũ đòi lại đất hoặc chủ cũ được cấp
GCNQSDĐ nhưng người sử dụng đất cho rằng việc cấp GCNQSDĐ là không đúng.
Nhóm thứ hai: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất.
Các tranh chấp này có thể là yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, công
nhận hiệu lực của hợp đồng, tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu … Bản chất của
tranh chấp trong các trường hợp này là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Thời hiệu
khởi kiện đối với dạng tranh chấp này được áp dụng như đối với thời hiệu khởi kiện
đối với các tranh chấp về hợp đồng nói chung.
Riêng đối với vụ án ly hôn khi các bên đương sự có tranh chấp quyền sử dụng đất
trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng, đây không phải thuộc loại quan
hệ TCĐĐ. Trong quan hệ ly hôn, Tòa án giải quyết quan hệ trọng tâm là quan hệ mang
tính nhân thân, đây là nhóm quan hệ chủ đạo và có ý nghĩa quyết định tính chất và nội
dung của quan hệ tài sản. Cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ thể xuất phát chính từ các quan hệ nhân thân trước.
Nhóm thứ ba: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.
Đây là các tranh chấp yêu cầu phân chia di sản thừa kế. Bản chất của dạng
tranh chấp này là tranh chấp thừa kế có đối tượng là quyền sử dụng đất và Tòa án

10


11


quản lý nhà nước (QLNN) đối với đất đai, được hiểu là hoạt động của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật,
nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi cho
bên bị xâm hại. Đồng thời, xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Như
vậy, giải quyết TCĐĐ là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để bảo
vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Tranh chấp nói chung, tranh chấp đất đai nói riêng, không những ảnh hưởng
đến lợi ích của các bên liên quan mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, bởi
nó gây nên sự mất ổn định trong xã hội, làm cho chính sách của Nhà nước không
thực hiện được. Chính vì vậy, pháp luật đất đai cần phải có những quy định về giải
quyết tranh chấp.
1.1.2.2. Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai.
Từ định nghĩa giải quyết TCĐĐ ở trên có thể rút ra các đặc điểm của giải
quyết TCĐĐ như sau:
Thứ nhất. Giải quyết TCĐĐ là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền để giải quyết tranh chấp một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều
biện pháp như: tự thương lượng, thỏa thuận với nhau. Pháp luật đất đai không quan
tâm cách thức họ thỏa thuận thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra các quy
định điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp khi có sự tham gia của cơ quan Nhà
nước vào việc giải quyết đó mà thôi. Điều này nhằm thể hiện sự tôn trọng của Nhà
nước với tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể, Nhà nước sẽ cung cấp một
công cụ giải quyết tranh chấp cho họ nếu như họ không có được sự thống nhất. Một
khi đã có sự tham gia của cơ quan Nhà nước thì các quy phạm pháp luật về giải
quyết tranh chấp là cần thiết, bởi lẽ có những quy phạm pháp luật này thì người dân
cũng như chính cơ quan nhà nước mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp và giải quyết theo trình tự, thủ tục gì.


13


- Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất
- Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất.
1.1.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai chủ yếu.
1.1.3.1. Hòa giải tranh chấp.
Hoà giải ở cơ sở là một truyền thống, một đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam nhằm phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng
dân cư, nâng cao kết quả giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ
trong nội bộ nhân dân ở cơ sở, góp phần phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp
luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải xét xử tại tòa án.
Hoạt động hoà giải ở cơ sở mang đậm tính nhân văn, hoạt động vì mọi
người và trên cơ sở tình người. Hòa giải cơ sở là một trong những hình thức quan
trọng để giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp trong cộng đồng dân cư nhằm
mục đích giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, đoàn kết cộng đồng; phòng ngừa vi phạm
pháp luật và tội phạm ở cơ sở thông qua việc phát hiện và giải quyết tận gốc những
mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ, góp phần ổn định trật tự xã hội ở địa bàn dân cư, tạo
điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý xã hội ở
cơ sở.
Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được
thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp
luật theo quy định của Luật này.[9, tr.8]
Chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở
“Khuyến khích các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng hình thức hòa
giải ở cơ sở và các hình thức hòa giải thích hợp khác.
Khuyến khích những người có uy tín trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân
cư tham gia hòa giải ở cơ sở và tham gia các hình thức hòa giải thích hợp khác”[9,

Ba là, chủ thể tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai có thể là tổ hòa giải, Ủy
ban nhân dân hoặc Tòa án nhân dân.

15


TCĐĐ có thể gắn với dòng họ, những người dân trong cùng một địa
phương nên để việc hòa giải có hiệu quả thì tùy theo trường hợp mà hòa giải có thể
được trao cho cộng đồng, chính quyền địa phương hoặc cơ quan tư pháp. Vấn đề
quan trọng là cần phải thiết lập được cơ chế chuyển hóa giữa kết quả hòa giải cơ sở,
chính quyền địa phương và quyết định tư pháp do Tòa án thực hiện có giá trị cưỡng
chế thi hành.
Bốn là, hòa giải tranh chấp đất đai do Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành trong
một số trường hợp được coi là một giai đoạn tiền giải quyết tranh chấp đất đai của cơ
quan hành chính nhà nước hoặc của Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
Tính chất pháp lý của hòa giải TCĐĐ do UBND cấp xã thực hiện nói trên
thể hiện tập trung ở các khía cạnh sau:
- Hòa giải TCĐĐ tại UBND cấp xã có thể được coi là một trong những điều
kiện để Tòa án có thẩm quyền xem xét thụ lý, giải quyết TCĐĐ.
- Giá trị pháp lý của hòa giải TCĐĐ biểu hiện ở chỗ CQNN có thẩm quyền
có sự công nhận đối với kết quả hòa giải tranh chấp. Trong đó điểm đặc biệt là đối
với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, chủ SDĐ thì
UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng TNMT, Sở TNMT để các cơ quan
này trình UBND cùng cấp quyết định việc công nhận thay đổi ranh giới thửa đất và
cấp mới GCNQSDĐ.
Cũng cần lưu ý rằng, việc hòa giải TCĐĐ trong trường hợp nêu trên không
phải là việc giải quyết TCĐĐ của các cơ quan có thẩm quyền. Bởi lẽ, ở đây cấp
xã không phải là một cấp giải quyết TCĐĐ, mà chỉ đóng vai trò trung gian hòa
giải, giúp đỡ, hướng dẫn các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, xử lý giải quyết
ổn thỏa tranh chấp.

+ Kết quả hòa giải được Thẩm phán lập biên bản, nếu các đương sự thỏa
thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Còn trong trường hợp các bên tự hòa giải và
không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết thì Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ
việc giải quyết vụ án.

17


Sáu là, hòa giải tranh chấp đất đai được tiến hành trên cơ sở tôn trọng
quyền định đoạt của các đương sự có tranh chấp.
Mặc dù hòa giải TCĐĐ là một hoạt động do tổ hòa giải, UBND hoặc Tòa
án tiến hành nhưng về bản chất hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự. Chỉ
có các đương sự có tranh chấp mới có quyền thỏa thuận, thương lượng với nhau về
tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ án, bởi đương sự là những người
có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp. Họ là người hiểu rõ hơn ai hết mâu
thuẫn của chính họ.
Khi tham gia vào quá trình hòa giải TCĐĐ, các đương sự có quyền thương
lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên
cơ sở tự do, tự nguyện ý chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý
muốn của các đương sự đều bị coi là trái pháp luật và không được công nhận. Tổ
hòa giải, UBND hoặc Tòa án không được cưỡng ép, bắt buộc đương sự thỏa thuận
với nhau về giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ.
Mục đích của hòa giải tranh chấp đất đai.
Hòa giải TCĐĐ là một biện pháp mềm dẻo, linh hoạt và hiệu quả nhằm
giúp cho các bên tranh chấp tìm ra một giải pháp thống nhất để tháo gỡ những mâu
thuẫn, bất đồng trong tranh chấp đất đai trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận. Từ đó
góp phần ổn định, hài hòa mối quan hệ giữa các bên trong quan hệ đất đai.
Ý nghĩa của hòa giải tranh chấp đất đai.
Trong hoạt động giải quyết TCĐĐ, hòa giải có tầm quan trọng đặc biệt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status