Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011- 2013. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ TƯỞNG

Tên đề tài:
“Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn
huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011- 2013” KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN KHẮC THÁI SƠN
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm


Bảng 4.2. Kết quả giải quyết đơn thư về tranh chấp đất đai của huyện Lục Nam
giai đoạn 2011- 2013. 40

Bảng 4.3. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai theo đơn vị hành chính trên địa
bàn huyện được giai đoạn 2011- 2013 43

Bảng 4.4. Tình hình tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam giai đoạn
2011-2013 theo nội dung tranh chấp đất đai 45

Bảng 4.5. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Lục Nam giai đoạn
2011-2013 theo nội dung tranh chấp đất đai 47

Bảng 4.6. Tổng hợp tình hình tranh chấp đất đai giữa các chủ thể sử dụng đất trên
địa bàn huyện Lục Nam giai đoạn 2011-2013 49
Bảng 4.7. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai giữa các chủ thể sử dụng đất
trên địa bàn huyện Lục Nam giai đoạn 2011-2013 ………………………… 50
Bảng 4.8.Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai huyện Lục Nam giai đoan 2011-
2013 51

Bảng 4.9. Tổng hợp ý kiến của người dân về nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất
đai 53

DANH MỤC HÌNH

Trang
Hình 4.1. Sơ đồ hành chính huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang 26

Hình 4.2. Biểu đồ cơ cấu diện tích đất tự nhiên huyện Lục Nam 33
Hình 4.3. Quy trình giải quyết tranh chấp theo LĐĐ năm 2003………………37
Hình 4.4. Quy trình giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Lục Nam……… 38

1.1. Đặt vấn đề 1

1.2. Mục tiêu của đề tài 2

1.3. Yêu cầu của đề tài 3

1.4. Ý nghĩa của đề tài 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5

2.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 5

2.1.2. Căn cứ pháp lý của công tác giải quyết tranh chấp đất đai. 7

2.2. Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác giải quyết
tranh chấp đất đai. 7
2.2.1. Khái niệm về tranh chấp đất đai. ……………………………………… 7
2.2.2. Hòa giải tranh chấp đất đai. …………………………………………… 8
2.2.3. Các loại hình tranh chấp đất đai. ……………………………………… 8
2.2.4. Các dạng tranh chấp đất đai. …………………………………………….9
2.2.5. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai. …………………………… 14
2.2.6. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. …………………………….14
2.2.7. Các bước giải quyết tranh chấp đất đai. ……………………………… 15
2.2.8. Các giấy tờ về đất đai quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất
đai………………………………………………………………………… 16
2.2.9. Giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính……… 17
2.2.10. Thủ tục giải quyết tranh chấp ……………………………………… 18
2.2.11. Mục đích, ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp đất đai. 20

huyện Lục Nam 52

4.3. Những thuận lợi , khó khăn và giải pháp trong công tác giải quyết tranh chấp
đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam giai đoạn 2011-2013. 55

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1. Kết luận 59

5.2. Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn lực,
nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đặc biệt, dối với sản xuất nông nghiệp thì đất
đai chiếm vai trò quan trọng vì đó là tư liệu sản xuất không thể thay thế được.
Đất đai có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc. Đất đai là yếu tố cấu thành lãnh thổ quốc gia, đất đai gắn liền
với lịch sử dân tộc và tình cảm của con người trên đất đai. Đất đai không chỉ
bao gồm đất mà bao gồm cả mặt nước trên bề mặt trái đất và tất cả các sinh vật
sinh sôi trên mặt đất và dưới lòng đất.
Trong những năm gần đây đất đai trở thành một trong những vấn đề nổi
cộm, đặc biệt đối với đất ở và xây dựng do người dân đã ý thức được tầm quan
trọng của đất đai đối với đời sống xã hội .Bình quân đất đai/người của thế giới

Đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp đất đai và các sai
phạm trong quản lý trên địa bàn huyện Lục Nam giai đoạn 2011-2013. Từ đó
rút ra một số kết luận, bài học kinh nghiệm, đề xuất ý kiến về công tác giải
quyết tranh chấp và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà nước và công
tác quản lý nhà nước về đất đai.
3
* Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu và đánh giá tình hình về hoạt động giải quyết tranh chấp đất
đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất tại huyện Lục Nam.
- Tìm hiểu và phân tích những nguyên nhân dẫ đến tranh chấp đất đai
trên địa bàn huyện.
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp với tình trạng địa phương góp phần
nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Lục
Nam trong thời gian tới.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Nắm được tình hình các vụ tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Lục
Nam trong giai đoạn 2011-2013.
- Tổng hợp và phân tích được những thuận lợi khó khăn, ưu điểm khuyết
điểm trong quá trình thực hiện công tác đồng thời đề xuất và kiến nghị một số
biện pháp giải quyết tranh chấp về đất đai, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với
tình hình thực tế địa phương.
- Nắm chắc các quy định về trình tự thủ tục trong công tác giải quyết
tranh chấp đất đai.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu:
+ Giúp cho sinh viên nắm được trinh tự thủ tục giải quyết và tranh chấp
và đất đai.
+ Củng cố kiến thức những môn học đã được học trong nhà trường và áp
dụng vào thực tế công việc.
+ Học hỏi những kinh nghiệm, cách giao tiếp trong quá trình thực tập tại

6. Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý sử dụng đất.
7. Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các
vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai.[10].
Cùng với sự phát triển của đất nước hệ thống chính sách, pháp luật về đất
đai đòi hỏi thường xuyên liên tục sửa đổi và bổ sung. Năm 1998 Quốc hội thông
qua luật sưa đổi, bổ sung một số điều luật Đất đai, trong đó trọng tâm là đổi mới
chính sách đất đai phục vụ đầu tư và phát triển. Năm 2001 Quốc hội thông qua
6
một lần sửa đổi bổ sung một số điều của luật Đất đai với nội dung chủ yếu là
đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền định đoạt về luật Đất đai cho địa phương. Tuy
nhiên, với hai lần sửa đổi, bổ sung nội dung QLNNVĐĐ vẫn không thay đổi
nhiều với 7 nội dung về cơ bản giống nhau như Luật Đất đai năm 1993. Qua 10
năm thực hiện luật Đất đai năm 1993, Pháp luật về đất đai đã trở thành một
trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị - xã
hội. Tuy nhiên trước tình hình phát triển kinh tế nhanh chóng về kinh tế xã hội,
pháp luạt đất đai đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Để khắc phục thiếu sót trên
tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2003 thay thế Luật
Đất đai năm 1993. Luật Đất đai năm 2003 với 13 nội dung QLNNVĐĐ được
quy định tại khoản 2, điều16 như sau:
1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ địa chính.
3. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất,lập bản đồ địa chính,bản đồ
hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất.
6. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.

2.2.1. Khái niệm về tranh chấp đất đai:
8
Theo khoản 26, điều 4, Luật Đất đai 2003: “Tranh chấp đất đai là tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong
quan hệ đất đai”.[11]
2.2.2 Hòa giải tranh chấp đất đai:
Trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai thì hòa giải là công việc bắt
buộc và là bước khởi đầu của việc giải quyết tranh chấp đất đai. Hòa giải tranh
chấp đất đai được quy định tại điều 135 Luật Đất đai 2003 và được quy định chi
tiết tại Điều 159 Nghị ddingj 181 ngày 29 tháng 10 năm 2004 nếu hòa giải
không thành thì mới giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 135 Luật Đất đai 2003 quy định:
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải howcj
giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi
đơn đến UBND xã, phường thị trấn nơi có đất tranh chấp.
UBND xã, phường thị trấn có trách nhiệm phối hợp với mặt trận tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận,các tổ chức xã hội khác… để
hòa giải tranh chấp đất đai.
Thời hạn hòa giải tranh chấp đất đai là 30 ngày làm việc kể từ ngày
UBND xã, phường, thị trấn nhận thực đơn.
Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ
ký của các bên có tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có
đất. Trường hợp kết hợp hòa giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND xã,
phường, thị trấn chuyển kết quả hòa giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.[11]
2.2.3. Các loại hình tranh chấp đất đai
- Tranh chấp thừa kế về quyền sử dụng đất.
- Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất.
9

này đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không có đất sản xuất, một số hộ
trước khi vào tập đoàn, hợp tác xã có đất, đến khi giải thể họ không có đất để
canh tác. Một số hộ thực hiện chính sách "nhường cơm sẻ áo" của Nhà nước
trong những năm 1981-1986 đã nhường đất cho những người khác sử dụng, nay
đòi lại ở miền nam, Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo công thương
nghiệp, quốc hữu hóa đất đai, nhà cửa, tư liệu sản xuất của địa chủ, tư bản và
tay sai chế độ cũ hoặc giao nhà cửa, đất đai cho người khác sử dụng, đến nay do
có sự hiểu lầm về chính sách họ cũng đòi lại những người đang quản lý, sử
dụng.
Ngoài ra, một số người bỏ đi nơi khác ở, ra nước ngoài sinh sống cũng
trở về đòi lại đất đai, tài sản trước đây của họ đã được giao cho người khác quản
lý, sử dụng.
+ Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở
về đòi lại ruộng của những người làm nông nghiệp: Những người làm nghề thủ
công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở, sau đó họ không sản xuất
nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về đòi lại
đất để sản xuất, để ở.
+ Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền,
miếu mạo, nhà thờ họ. Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây
do hoàn cảnh lịch sử, chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói
trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học
đến nay các cơ sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không trả lại được nên dẫn đến
khiếu kiện của các cơ sở đó.
Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà
thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố,
11
hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên
đòi lại đất, nhà.
+ Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng tranh
chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở nhờ.

của đương sự. Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết
định cấp đất cũng như giấy chứng nhận QSDĐ hoặc khi cấp giấy chứng nhận
QSDĐ có phần diện tích chồng lên nhau. Do đó cũng gây nên tranh chấp giữa
các hộ liền kề nhau. Khi giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phải
xác định phần đất tranh chấp đó là thuộc quyền sử dụng của ai.
- Tranh chấp giữa đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bào
dân tộc sở tại: Đây là dạng tranh chấp thường xảy ra ở vùng Tây Nguyên. Việc
di dân, đặc biệt là di dân tự do khi đến nơi ở mới không phải lúc nào chính
quyền sở tại cũng cấp đất cho người dân di cư, dẫn đến việc người mới đến phá
rừng, lấn chiếm đất đai dẫn đến tranh chấp với đồng bào dân tộc sở tại.
- Tranh chấp giữa các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng
đất khác với nhân dân địa phương: Do cơ chế trước đây nên dẫn đến tình trạng
các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội bao chiếm một lượng lớn đất
đai, không sử dụng hết để đất bỏ hoang hoặc cho người dân sử dụng theo hình
thức phát canh, thu tô. Mặt khác, nhiều nông trường, lâm trường, các đơn vị
quân đội quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến tình trạng người dân chiếm đất để sử
dụng. Do đó cũng dẫn đến tranh chấp đất đai.
Các dạng tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng hợp
pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình. Trong các dạng tranh chấp này thì người đang SDĐ đã sử
dụng hợp pháp đất, không có ai tranh chấp. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền và
13
nghĩa vụ SDĐ của mình như: Thực hiện các giao dịch về dân sự, hoặc do chủ
trương, chính sách của Nhà nước như giải tỏa, trưng dụng, trưng mua hoặc do
người khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ SDĐ của mình
mà dẫn đến tranh chấp. Có các dạng sau:
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê
lại quyền SDĐ, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền SDĐ.
- Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và nghĩa vụ
phát sinh trong quá trình SDĐ.

cho những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai
diễn ra phù hợp với lợi ích của Nhà nước và người sử dụng đất, đồng thời góp
phần tích cực vào việc bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất. Việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp đất đai có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm đáp ứng hết sức kịp thời và
đầy đủ những yêu cầu của đương sự theo pháp luật. Vì thế, khi xét và giải quyết
các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai, bên cạnh những quan điểm, lập
trường đúng và trình độ pháp lý cần thiết, đòi hỏi cán bộ xử lý cần phải nắm
vững một số nguyên tắc chung sau:
- Phải sự thật khách quan, thận trọng, vô tư, thực sự cầu thị.
- Phải coi trong công tác tư tưởng trong việc xem xét và giải quyết.
- Phải xử lý kịp thời nhanh chóng các vụ khiếu nại tố cáo và tranh chấp
đất đai.[3]
2.2.6. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:
Tranh chấp đất đai được hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà một
bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
15
- Tranh chấp về quyền sử dụng mà đương sự có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại các khoản 1,2,5
Điều 50 của Luật Đất đai 2003 thì thuộc thẩm quyền của tòa án giải quyết.
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có GCNQSDĐ
hoặc không có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều
50 Luật Đất đai 2003 thì đương sự gửi đơn đến cơ quan hành chính để giải
quyết. Cơ quan hành chính các cấp giải quyết tranh chấp đất đai như sau:
+ Chủ tịch UBND cấp Huyện giải quyết đối với tranh chấp quyền sử
dụng đất giữa cá nhân với cá nhân, hộ gia đình với cá nhân, giữa các hộ gia đình
với nhau hoặc giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức (Tổ chức thuộc thẩm quyền
của UBND cấp Huyện).
Nếu một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải
quyết của Chủ tịch UBND cấp Huyện thì có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh

Giấy tờ về chuyển nhượng quyền sử dụng , mua bán nhà gắn liền với đất
trước ngày 15/10/1993, nay được UBND cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước
ngày 15/10/1993.
Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất theo quy định của
pháp luật.
Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ do người sử dụng đất.
Giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên
quan, nhưng đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành chưa thực hiện
thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật nay được UBND
cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
17
- Bản án hoặc Quyết định của tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của
cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đã được thi hành. [11]
2.2.9.Giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính:
1. Tranh chấp đất đai liên quan tới địa giới hành chính giữa các đơn vị
hành chính do Ủy ban nhân dân của đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết. Trường
hợp không đạt được sự thống nhất hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới
hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định như sau:
- Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính tỉnh,thành phố
trực thuộc Trung ương thì do Quốc hội quy định.
- Trường hợp tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính của
đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn
thì do Chính phủ quyết định.
2. Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có
trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để giải quyết tranh chấp về đất đai liên quan đến địa giới hành
chính.[11].
* Căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên

2.2.10.Thủ tục giải quyết tranh chấp về đất đai
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi xảy ra tranh chấp đất đai, đầu
tiên thường được giải quyết bằng biện pháp hòa giải( thủ tục hòa giải). Sau đó
mới đến các thủ tục hành chính và thủ tục tố tụng. Cụ thể bao gồm:
Điều 135 Luật đất đai quy định, khi các bên tranh chấp không hòa giải
được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có tranh chấp. UBND cấp

Trích đoạn Đánh giá kết quả giải quyết tranh chấp đất đai của huyện Lục Nam gia kiến của người dân và cán bộ quản lý về giải quyết tranh chấp đất đai tạ Những thuận lợi, khó khăn và giải pháp trong công tác giải quyết tranh chấp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status