Đánh giá thực trạng tranh chấp đất đai và công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc – Tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2009 - 2013. - Pdf 29



ii

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRIỆU THỊ QUỲNH Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ
CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2009 – 2013” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính môi trường
Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2010 - 2014

Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Minh Cảnh
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên


bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh Viên Triệu Thị Quỳnh
iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
GPMB : Giải phóng mặt bằng.
GTSX : Giá trị sản xuất.
QLNNVĐĐ : Quản lý nhà nước về đất đai.
TN&MT : Tài nguyên và môi trường.
UBND : Ủy ban nhân dân.

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 17
3.3. Nội dung nghiên cứu 17
3.3.1. Điều tra sơ lược tình hình cơ bản của huyện Cao Lộc 17
3.3.2. Sơ lược về hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý đất đai của
huyện Cao Lộc 17
3.3.3. Đánh giá thực trạng tranh chấp đất đai và công tác giải quyết tranh chấp
đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc giai đoạn 2009-2013 17 vi
3.4. Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 18
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 18
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
4.1. Điều tra sơ lược tình hình cơ bản của huyện Cao Lộc 19
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 19
4.1.1.1. Vị trí địa lý 19
4.1.1.2.Khí hậu 20
4.1.1.3.Địa hình 21
4.1.1.4.Thủy văn 21
4.1.1.5.Các nguồn tài nguyên 22
4.1.2.Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 24
4.1.2.1.Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 24
4.1.2.2.Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 27
4.1.2.3.Dân số, lao động, việc làm và thu nhập. 29
4.1.2.4.Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 30
4.2. Tình hình quản lý sử dụng đất đai của huyện Cao Lộc 33
4.2.1. Tình hình quản lý đất đai của huyện Cao Lộc 33
4.2.2. Hiện trạng sử dụng và biến động đất đai. 37
4.2.3. Nhận xét về tình hình quản lý và xử dụng đất của huyện. 40

Bảng 4.4. Tình hình tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc giai đoạn
2009 – 2013. 43
Bảng 4.5. Tình hình tranh chấp đất đai theo đơn vị hành chính tại huyện Cao
Lộc giai đoạn 2009 – 2013. 44
Bảng 4.6. Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc
giai đoạn 2009 – 2013. 46
Bảng 4.7. Tổng hợp ý kiến của nhân dân về nguyên nhân dẫn đến tranh chấp
đất đai. 47 1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
Đất đai là 1 nguồn tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống và nó chính là nguồn
lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Cần thiết cho mọi quá tình sản xuất của
ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của mọi con người.
Nếu không có đất đai thì các ngành, các xí nghiệp không thể bắt đầu và
hoạt động được. Nói khác đi, không có đất thì không có sản xuất, cũng như
không có sự tồn tại của con người.
Trong những năm gần đây đất đai trở thành một vấn đề nổi cộm, đặc biệt
đối với đất ở và đất xây dựng do người dân đã ý thức được tầm quan trọng
chủa đất đai đối với đời sống xã hội.
Kể từ khi nước ta chuển sang nền kinh tế thi trường có sự quản lí của nhà
nước thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng trong các lĩnh vực kinh tế xã
hội và trong cuộc sống của nhân dân. Từ đó, việc tranh chấp đất đai ngày
càng nhiều và càng trở nên gay gắt gây mất đoàn kết nội bộ nhân dân, làm
ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự.
Giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những chủ trương lớn của

tranh chấp đất đai để công tác quản lý ngày càng hiệu quả hơn.
1.4. Yêu cầu của đề tài.
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cao Lộc giai
đoạn 2009 – 2013.
- Phân tích, đánh giá tình hình quản lí và sử dụng đất đai của huyện Cao
Lộc.
- Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp đất đai trong giai đoạn 2009-
2013. 3
- Những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục
khó khăn trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai.
7. Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết các khiếu nại, tố cáo
các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai. (Quốc hội, 1993).
Cùng với sự phát triển của đất nước, hệ thống chính sách, pháp luật về
đất đai đòi hỏi thường xuyên liên tục sửa đổi và bổ sung. Năm 1998, Quốc
hội thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật đất đai, trong đó trọng
tâm là sửa đổi chính sách đất đai phục vụ đầu tư phát triển. Năm 2001 Quốc
hội thông qua lần nữa luật bổ sung một số điều luật đất đai với nội dung chủ
yếu là đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền định đoạt về luật đất đai cho địa 5
phương.Tuy nhiên, với hai lần sửa đổi, bổ sung nội dung quản lý nhà nước về
đất đai vẫn không thay đổi nhiều so với 7 nội dung về cơ bản giống như Luật
đất đai 1993.
Qua 10 năm thực hiện luật đất đai năm 1993, pháp luật về đất đai đã trở
thành một trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định
chính trị - xã hội. Tuy nhiên trước tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế
xã hội, pháp luật đất đai đã bộc lộ hạn chế nhất định. Để khắc phục những
thiếu sót trên, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua luật đất đai
mới – luật đất đai năm 2003 với 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai
được quy định tại khoản 2, điều 16 như sau:
1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính.
3. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất.
6. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy

• Hòa giải tranh chấp đất đai:
Trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai thì hòa giải là công việc
bắt buộc và là bước khởi đầu của việc giải quyết tranh chấp đất đai. Hòa giải
tranh chấp đất đai được quy định tại điều 135 luật đất đai năm 2003 và được
quy định chi tiết thêm tại điều 159 nghị định 181 ngày 29/10/2004.
Điều 135 luật đất đai 2003 quy định: 7
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc
giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải cơ sở.
2.Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi
đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.
UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với mặt trận tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận, các tổ chức xã hội khác để
hòa giải tranh chấp đất đai.
Thời gian hòa giải là 30 ngày làm việc kể từ ngày UBND xã, phường, thị
trấn nhận được đơn.
Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ
ký của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có
đất. Trường hợp kết quả hòa giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND
xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hòa giải đến cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.
Nếu hòa giải không thành thì mới giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 136 luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất
đai như sau:
Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản

trước ngày 15-10-1993.
Giấy tờ về thanh lí, hóa giá nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử
dụng đất. 9
Giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên
quan, nhưng đến trước ngày luật đất đai có hiệu lực thi hành chưa thực hiện
thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được
UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
• Giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính.
Tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị
hành chính do UBND của các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết. Trường
hợp không đạt được sự nhất trí hoặc giải quyết làm thay đổi địa giới hành
chính thì thẩm quyền giải quyết được quy định như sau:
Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương thì do quốc hội quy định.
Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn thì do chính
phủ quyết định.
Bộ tài nguyên và môi trường, cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách
nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành
chính (Quốc hội, 2003).
• Căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh
chấp không có giấy tờ và quyền sử dụng đất.
1. Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh
chấp đưa ra.

thành 2 loại lớn, đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có
quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp và tranh chấp đất đai mà trong đó người
sử dụng đất đã sử dụng hợp pháp, tranh chấp chỉ xuất phát trong quá trình người
đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong dạng tranh chấp này luôn có sự 11
tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý, qyuền sử dụng một diện tích nào đó
hoặc một phần trong diện tích đó. Việc xác định ai là người có quyền sử dụng
hợp pháp đất đang tranh chấp là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Có thể có dạng như sau:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới
hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, huyện, xã
với nhau. Tập chung ở những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế,
văn hóa; ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng không có địa giới rõ
ràng, không có mốc lộ giới nhưng lại là vị trí quan trọng; ở những nơi có nguồn
thủy, hải sản quý cùng với việc chia tách các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã thì
tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính là tương đối nhiều.
- Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất.
Thực chất đây là tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn
gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ do nhiều
nguyên nhân khác nhau mà họ không còn quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp.
Trong dạng tranh chấp này còn có các loại sau:
+ Đòi lại đất, tài sản của họ hoặc của người thân trong các giai đoạn khác
nhau trước đây qua các cuộc điều chỉnh, cấp cho những người khác: sau cải cách
ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kì hợp tác hóa nông nghiệp.
Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo quy mô sản xuất
tập thể, quản lý tập trung vào hợp tác xã. Đến khi thực hiện nghị quyết trung
ương tháng 10/1988, đất đai được phân chia đến hộ gia đình, cá nhân để sản
xuất. Do việc phân chia này không hợp lý, một số cán bộ xã, huyện đã làm sai

cố, một bên có tên trong sổ địa chính hoặc được cấp GCNQSDĐ thì việc tranh
chấp này càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc công dân khiếu kiện lên cơ quan
nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp GCNQSDĐ. 13
+ Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất
khi vợ chồn ly hôn. Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với
quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn. Tranh chấp đất có thể là đất nông
nghiệp, đất lâm nghiệp hoặc đất ở, có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa
một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng, hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho
con đất, đến khi ly hôn thì cha mẹ đòi lại.
+ Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử
dụng đất. Đây là loại tranh chấp do người có quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền
với đất mà khi chết đi không để lại di chúc hoặc để lại di chúc nhưng không phù
hợp với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận
được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến
tranh chấp.
+ Tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau về ranh giới giữa
các vùng đất được sử dụng và quản lý. Đây là tranh chấp về ranh giới, loại tranh
chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định
được ranh giới với nhau, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người
khác. Những trường hợp tranh chấp này thường xảy ra do ranh giới đất giữa
những người sử dụng đất liền kề không rõ ràng, đất này thường chuyển nhượng
nhiều lần, bàn giao không rõ ràng. Ngoài ra việc tranh chấp ranh giới xảy ra
nhiều khi do lỗi của cơ quan nhà nước, đó là khi cấp đất, cơ quan cấp đất có ghi
diện tích nhưng không đo đạc cụ thể khi giao đất, chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và
đơn kê khai của đương sự. Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích ít hơn so
với quyết định cấp đất cũng như GCNQSDĐ hoặc khi cấp GCNQSDĐ có phần
diện tích chồng lên nhau. Do đó cũng gây nên tranh chấp giữa các hộ liền kề

nông nghiệp với lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng
cao su với đất trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quá trình 15
phân bố và quy hoạch sử dụng. Trong thực tế trường hợp tranh chấp này xảy ra
như sau: Do mục đích sử dụng đất nên nhà nước thu hồi đất của người đang sử
dụng để giao cho người khác sử dụng với mục đích khác, dẫn đến người đang sử
dụng khiếu kiện việc chuyển mục đích sử dụng hay khiếu kiện mục đích thu hồi
hoặc khiếu kiện người được giao đât sử dụng với mục đích khác. Mặt khác,
người được nhà nước giao đất, chuyển mục đích khiếu kiện người đang sử dụng
đất phải giao đất cho mình theo quy định giao đất.
Tranh chấp về giải tỏa mặt bằng phục vụ các công trình công cộng, lợi ích
quốc gia và mục địch đền bù khi giải tỏa. Trong loại tranh chấp này chủ yếu là
khiếu kiện về giá đất đền bù, diện tích đất được đền bù, giá cả đất tái định cư và
đền bù không đúng người, giải tỏa qua mức quy định để chia đất cấp cho các đối
tượng khác. Trong tình hình hiện nay, việc quy hoạch mở mang đường xá, đô thị
lớn dẫn đến việc tranh chấp loại này rất gay gắt, phức tạp và có nhiều người, tập
thể đồng loạt khiếu kiện.
2.3. Đánh giá sơ lược công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn
huyện Cao Lộc
Trong giai đoạn 2009-2013, phòng tài nguyên và môi trường huyện Cao
Lộc đã tiếp nhận nhiều đơn tranh chấp đất đai, các hồ sơ tranh chấp đất đai chủ
yếu liên quan giữa cá nhân với cá nhân. Phòng tài nguyên và môi trường đã tham
gia cùng tòa án nhân dân huyện Cao Lộc xác minh, định giá tài sản chung của
một số vụ kiện dân sự tranh chấp đất đai.
2.4. Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của tỉnh Lạng Sơn giai đoạn
2009 – 2013
Năm 2009 và 2010, tình hình khiếu nại, tố cáo không có diễn biến phức
tạp, các vụ việc phát sinh chủ yếu thuộc lĩnh vực quản lý đất đai và bồi

- Thời gian: 20/1/2014 – 30/4/2014
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều tra sơ lược tình hình cơ bản của huyện Cao Lộc
- Điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên.
- Điều kiện kinh tế - xã hội.
3.3.2. Sơ lược về hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý đất đai của
huyện Cao Lộc
- Hiện trạng sử dụng đất.
- Tình hình quản lý nhà nước về đất đai.
3.3.3. Đánh giá thực trạng tranh chấp đất đai và công tác giải quyết tranh
chấp đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc giai đoạn 2009-2013

Đánh giá thực trạng tranh chấp đất đai và công tác giải quyết tranh
chấp đất đai tại huyện Cao Lộc.

Một số hạn chế, khó khăn vướng mắc trong công tác giải
quyết tranh chấp đất đai tại huyện Cao Lộc.

Phương pháp giải quyết trong thời gian tới.
3.4. Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập tài liệu từ báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng.
- Thu thập tài liệu và số liệu đất đai tại phòng tài nguyên môi trường,
UBND huyện.
- Phương pháp tham gia hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai trong
thời gian thực tập tốt nghiệp.
3.4.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status