1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LĂNG THỊ NGA
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP
CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 1995 - 2010 Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
đai tạo động lực phát triển sản xuất lâm nghiệp, từng bước ổn định và phát
triển tình hình kinh tế, xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng. Đây là một
nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý và bảo vệ rừng đối với cấp uỷ, chính
quyền các cấp, trong đó lực lượng Kiểm lâm nói chung và Kiểm lâm Lạng
Sơn nói riêng là nòng cốt chủ yếu.
Cao Lộc là một huyện miền núi biên giới với địa hình đồi núi là chủ yếu.
Do vậy việc tổ chức quản lý sử dụng đất lâm nghiệp có hiệu quả đóng vai trò
quan trọng trong việc nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn. Thực hiện
chủ trương của Đảng, Nhà nước và các Chỉ thị, Nghị quyết của tỉnh và của
huyện về công tác lâm nghiệp, nhằm làm cho mỗi mảnh đất lâm nghiệp trên địa
bàn huyện đều có chủ thực sự, từ năm 1993 đến nay huyện đã chỉ đạo các cấp,
các ngành tuyên truyền vận động nhân dân nhận đất, nhận rừng đưa vào quản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
lý sản xuất kinh doanh, chỉ đạo ngành kiểm lâm huyện phối hợp với ủy ban
nhân dân (UBND) các xã tiến hành tổ chức giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia
đình, cá nhân và các đơn vị tập thể đóng trên địa bàn huyện.
Nhằm tổng kết và đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp trên
địa bàn huyện, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý
Nhà nước nói chung và công tác giao đất lâm nghiệp nói riêng trên địa bàn
toàn huyện, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình,
cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 - 2010”
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu tổng quát ca đ tài
Đánh giá kết quả của công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá
nhân ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của người dân trên địa bàn huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn nhằm rút ra bài học khuyến cáo cho công tác quản lý
hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌ C CỦ A ĐỀ TÀ I
1.1.1. Cơ cở lý luận ca đ tài
Để phát triển Lâm Nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung thì đất đai
là một tư liệu sản xuất quan trọng không thể thiếu. Trong những năm gần
đây,bằng nhiều chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước đã góp phần rất lớn
vàocông cuộc đổi mới nông thôn nước ta. Nó đã phát huy được tác dụng như:
tăng hiệu quả sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho
người lao động, ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn…
Bên cạnh đó, tài nguyên rừng ở nước ta rất đa dạng và phong phú.
Hằng năm rừng cung cấp nhiều loại hàng hóa phục vụ cho các ngành kinh tế
như gỗ và các loại lâm đặc sản khác. Ngoài những vai trò to lớn đó, rừng còn
có nhiều tác dụng trong các lĩnh vực như phòng hộ, môi trường sinh thái và
cảnh quan.
Có thể nói rừng có vai trò và tác dụng quan trọng không gì thay thế
được trong nhiều lĩnh vực, nó luôn gắn bó với đời sống con người. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây tài nguyên đất và rừng ở nước ta đã bị suy giảm
nghiêm trọng.
Nguyên nhân chính của tình trạng này là đất và rừng không có chủ thực
sự dẫn đến tình trạng khai thác sử dụng bừa bãi quá mức Với nhận thức là ổn
định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn miền núi thì trước tiên phải ổn định
tình hình đất đai và tài nguyên rừng. Trong hoàn cảnh như vậy một loạt các
chính sách về giao đất giao rừng đã được ban hành. Theo đó đất và rừng được
giao đến tận tay người dân để sản xuất, kinh doanh theo quy định của Nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
1.1.3. Cơ sở pháp lý của đề tài
1.1.3.1. Một số văn bản pháp quy ca Nhà nước quy định v công tác giao
đất
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ
9 thông qua ngày 12/8/1991.
- Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ ban
hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
- Thông tư số 06-LN/KL ngày 18/6/1994 của Bộ Lâm nghiệp hướng
dẫn thi hành Nghị định 02/CP-1994 về giao đất lâm nghiệp.
- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về
giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng
Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao,
được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
- Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày
03/9/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001.
- Luật Đất đai 2003 ngày 26/11/2003.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ
hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003.
- Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 được Quốc hội khóa
11 thông qua ngày 03/12/2004 quy định về việc quản lý và bảo vệ, phát triển
phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng
nhưng chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để
trồng rừng và diện tích đất trống trong các khu rừng đặc dụng hoặc diện
tích đất trống được bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp
luật về bảo vệ và phát triển rừng” [3].
1.2.1.2. Giao đất
* Khái niệm giao đất:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật đất đai 2003 quy định: “Nhà nước giao đất
là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối
tượng có nhu cầu sử dụng đất” [22].
* Mục đích giao đất:
- Đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích có hiệu quả.
Giao đất là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai, công nhận quyền
sử dụng đất của người được công nhận. Người sử dụng đất sử dụng đúng mục
đích ghi trong hồ sơ xin giao đất. Tính hợp pháp của quyền sử dụng đất tạo
điều kiện cho chủ sử dụng đất yên tâm đầu tư vốn, công sức nhằm khai thác
tốt tiềm năng đất đai, cải tạo bồi bổ đất đai, phát triển sản xuất, thực sự coi đất
như tài sản của mình, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn
cứ pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luât.
- Làm cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng
đất theo pháp luật phù hợp với sự vận động vốn có của quan hệ đất đai trong
thực tiễn cuộc sống.
1.2.2. Chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.2.2.1. Chính sách giao đất lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới (1968-1986)
Trước thời kỳ đổi mới nền kinh tế của nước ta vận hành theo kế hoạch
8. Chỉ thị 29/CT-TW ngày 12/11/1983 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng về “đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng và tổ chức kinh doanh theo
phương thức nông lâm kết hợp".
Như vậy trong vòng 19 năm (1968-1986) từ khi xác định chủ trương
giao đất rừng cho HTX những văn bản được Nhà nước ban hành đã chứng tỏ
chính sách nhất quán và kiên trì trong chủ trương giao đất, giao rừng của
Đảng và Nhà nước cho HTX.
* Tình hình giao đất, giao rừng trong giai đoạn 1968-1980
Đây là những năm thực hiện chủ trương đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ
rừng và giao đất, giao rừng cho HTX sản xuất kinh doanh việc trồng rừng,
bảo vệ rừng đã trở thành một ngành sản xuất quan trọng, là nhiệm vụ của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
HTX. Nhờ vậy rừng ngày càng mở rộng, diện tích rừng bị phá làm nương rẫy
ngày càng giảm.
Tuy nhiên số HTX làm đúng theo chủ trương chính sách còn ít, phần
lớn các HTX chỉ muốn nhận rừng để khai thác lâm sản, không muốn nhận đất
để trồng cây gây rừng, công tác bảo vệ rừng chưa tốt, nạn phá rừng vẫn chưa
được ngăn chặn.
Trong giai đoạn này Nhà nước mới khuyến khích và công nhận sự tồn
tại của hai thành phần kinh tế chủ yếu trong kinh doanh rừng đó là lâm trường
quốc doanh và HTX. Sau khi giao đất, giao rừng cho các HTX một số tỉnh đã
có biện pháp tích cực tăng cường chỉ đạo các HTX phát triển nghề rừng, ban
hành Nghị quyết chuyên đề về lâm nghiệp quy định tổ chức quản lý và chế độ
chính sách đối với các HTX kinh doanh nghề rừng, xác định loại hình HTX,
tập đoàn sản xuất (lâm nông hay nông lâm).
Do không giống nhau về trình độ quản lý (nơi mạnh, nơi yếu), về điều
kiện kinh doanh nghề rừng (nơi khó, nơi dễ), về quan hệ chỉ đạo (nơi quan tâm
thực sự, nơi chỉ đạo buông xuôi) nên trong thời kỳ này có 3 loại hình HTX:
- Giao đất cho tập thể kinh doanh thì không hạn chế khả năng sử dụng
được bao nhiêu thì giao bấy nhiêu, mỗi hộ gia đình ở miền núi được cấp từ
2000 - 2500m
2
cho mỗi lao động để làm vườn rừng, ngoài ra còn có thể nhận
khoán đất trống đồi trọc để trồng rừng theo quy hoạch.
- Về quyền lợi của tập thể, cá nhân được quy định như sau: Rừng của tập
thể trồng hoặc cải tạo bằng vốn và sức lao động tự có của mình thì khi khai thác
có thể sử dụng 20 - 30% sản phẩm chính đối với rừng trồng hoặc 10 - 20% sản
phẩm chính đối với rừng cải tạo, số còn lại phải bán cho Nhà nước theo giá thoả
thuận.
- Rừng của cá nhân trồng khi thu hoạch phải nộp cho HTX 20% sản
phẩm chính, trong số 80% còn lại cá nhân được sử dụng 30% còn 70% phải
bán lại cho Nhà nước theo giá thoả thuận.
- Sản phẩm nông, lâm nghiệp kết hợp thì cá nhân được hưởng toàn bộ.
Thực hiện Quyết định trên một số địa phương đã giao đất, giao rừng
cho HTX và nhân dân kinh doanh, nhưng do chưa nhận thức đúng tầm quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
trọng và chưa có kinh nghiệm chỉ đạo nên chưa phát huy được tác dụng tích
cực của chính sách này. Nếu không có biện pháp khắc phục thì sẽ dẫn đến hậu
quả rất nghiêm trọng về môi trường và nhiều mặt khác nữa. Vì vậy ngày
12/11/1983 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 290-
CT/TW về đẩy mạnh giao đất, giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh
doanh theo phương pháp nông lâm kết hợp.
Chỉ thị này đã xác định rõ giao đất, giao rừng gắn liền với việc tổ chức
bảo vệ và kinh doanh rừng, sử dụng có hiệu quả các diện tích đất trống, đồi
núi trọc theo phương thức nông lâm kết hợp, coi việc giao đất, giao rừng là
một cuộc vận động cách mạng mang nội dung kinh tế chính trị sâu sắc, một
Chủ trương của Nhà nước trong giai đoạn này là phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể. Nhà nước có
chủ trương giao đất cho hộ gia đình và cá nhân, điều này đã khuyến khích rất
nhiều người nhận diện tích đất trống, đồi núi trọc để đầu tư vốn trồng rừng.
Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh bằng
nhiều hình thức thích hợp tuỳ điều kiện cụ thể theo từng vùng như vườn rừng,
trại rừng, vườn cây công nghiệp, cây ăn quả, lương thực, thực phẩm, dược
liệu kết hợp với cây rừng (nông lâm kết hợp).
Song song với việc thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988
của Bộ Chính trị về ”đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, ngày 19/08/1991
Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được Nhà nước công bố, tại Điều 1 quy
định: ”Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức và cá nhân để phát
triển và sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước”;
Tổ chức và cá nhân đang sử dụng hợp pháp đất trồng rừng được tiếp tục sử
dụng theo quy định tại Điều 3: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư lao động, tiền vốn, áp dụng tiến bộ khoa
học, kỹ thuật công nghệ vào các việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác,
chế biến”.
Ngày 15/9/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số
327/CT về việc ban hành một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống đồi
núi trọc, rừng, bãi bồi, ven biển và mặt nước hoang (gọi tắt là Chương trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
327). Nội dung chủ yếu của Chương trình 327 là tập trung cải tạo mới rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng gồm: bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng
rừng gắn nông nghiệp với lâm nghiệp; khôi phục lại môi trường sinh thái; giải
quyết việc làm, tăng thu nhập, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của
đồng bào các dân tộc; điều chỉnh lại lao động dân cư giữa các vùng. Qua đây
nhận thức về bảo vệ và chăm sóc rừng, nông lâm kết hợp, tiếp thu kỹ thuật
đất, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất.
Ngoài ra, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung năm 1998 và
năm 2001 còn đề cập nhiều vấn đề đổi mới khác như: quy định mức hạn điền,
thời hạn sử dụng đất, đất dành cho nhu cầu công ích. Đây là những quy định
cụ thể hoá bằng các Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993, Nghị định số 85/CP
ngày 28/8/1999 của Chính phủ ban hành quy định về giao đất nông nghiệp và
Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày
16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [12].
1.2.3. Thẩm quyn giao đất lâm nghiệp
Thẩm quyền xác lập các khu rừng và giao đất lâm nghiệp được quy
định tại Điều 11 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Điều 8 Nghị định
số 17/HĐBT ngày 17/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về thi hành Luật bảo
vệ và phát triển rừng (nay là Chính phủ), cụ thể như sau:
- Các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất do Thủ tướng
Chính phủ quyết định xác lập thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có rừng
làm thủ tục bàn giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (GCNQSDĐ) theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định xác lập và giao:
+ Các khu rừng phòng hộ có quy mô diện tích dưới 20.000ha; khu di
tích văn hoá, lịch sử, cảnh quan du lịch ở địa phương sau khi có sự nhất trí
của Bộ Lâm nghiệp hoặc các ngành có liên quan: giao cho các tổ chức Nhà
nước ở địa phương quản lý, sử dụng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
+ Các khu rừng sản xuất ở địa phương có diện tích từ 1000ha đến dưới
20.000ha; các khu rừng đặc sản dưới 5.000ha: giao cho các tổ chức ở địa
phương quản lý, kinh doanh theo quy hoạch của Nhà nước.
+ Giao cho doanh nghiệp tư nhân trong nước diện tích đất lâm nghiệp
- Các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất theo Nghị định số
02/CP từ trước ngày 01/11/1999 thì được trực tiếp sử dụng cho đến hết thời
hạn được Nhà nước giao và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [6]
* Quỹ đất lâm nghiệp để giao, cho thuê:
- Gồm toàn bộ đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có
rừng đã được quy hoạch để trồng cây gây rừng khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực
vật, không phân biệt độ dốc được tính vào quỹ đất lâm nghiệp để giao cho hộ
gia đình, cá nhân quản lý và sử dụng ổn định lâu dài.
- Tùy thuộc vào từng mục đích sử dụng đất lâm nghiệp, từng loại rừng
đã quy hoạch để giao đất, cho thuê đất cho từng đối tượng cụ thể:
+ Nhà nước giao cho các tổ chức (ban quản lý, các doanh nghiệp lâm
nghiệp, nông nghiệp) quản lý sử dụng ổn định lâu dài: Toàn bộ đất lâm nghiệp
là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu và rất xung yếu; Rừng
phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu và các loại rừng phòng hộ khác tập trung, xa
khu dân cư; Đất lâm nghiệp là rừng sản xuất tập trung, xa khu dân cư; Đất lâm
nghiệp dự trữ quốc gia.
+ Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
những loại đất lâm nghiệp sau: Đất có rừng tự nhiên, rừng trồng, đất để trồng
rừng mà hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp quản lý sử dụng hợp pháp do cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền đã giao những năm trước đây; Đất có rừng
hoặc chưa có rừng thuộc phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, rừng chắn gió,
chắn cát, chắn sóng lấn biển đã ổn định, rừng sản xuất nằm xen kẽ trong các
khu dân cư, gần vùng dân cư; Đất chưa có rừng bảo vệ sinh thái.
+ Nhà nước giao cho các Chi cục Kiểm lâm trực tiếp quản lý các vùng
đất lâm nghiệp chưa được giao cho các chủ cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
* Căn cứ để quyết định giao đất lâm nghiệp được quy định tại Điều 4, Nghị
định số 02/NĐ-CP như sau:
tái tạo rừng, mở rộng diện tích trồng rừng mới, đảm bảo cho các thành phần
kinh tế có nhu cầu khả năng sử dụng đất lâm nghiệp để xây dựng cơ cấu kinh
tế miền núi theo hướng chuyển sang cơ cấu kinh tế hàng hoá, phù hợp với đặc
điểm của từng vùng, từng dân tộc, phát huy thế mạnh lâm nghiệp, cây công
nghiệp dài ngày, cây ăn quả [6].
1.2.4.2. Giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp
* Đối tượng được giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp
được quy định tại Điều 2 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP như sau:
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh (gọi chung là bên
giao khoán) hạch toán độc lập hoặc hạch toán phụ thuộc được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất; giao rừng, cho thuê rừng; giao hoặc cho thuê đất có mặt
nước nuôi trồng thủy sản.
2. Cán bộ, công nhân, viên chức đang làm việc cho bên giao khoán; hộ
gia đình có người đang làm việc cho bên giao khoán hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ
mất sức lao động, được hưởng chế độ đang cư trú trên địa bàn; hộ gia đình có
nhu cầu trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đang
cư trú trên địa bàn (ưu tiên hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, hộ đồng bào
dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn đang cư trú trên địa bàn có nhu cầu
nhận giao khoán đất), các đối tượng này được gọi chung là bên nhận khoán [8].
* Căn cứ giao khoán và nhận khoán quy định tại Điều 5 Nghị định số
135/2005/NĐ-CP như sau:
“Điều 5. Căn cứ giao khoán và nhận khoán
1. Quỹ đất, quỹ rừng của bên giao khoán bao gồm: diện tích đất, diện
tích rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, cho thuê để sử dụng
vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
2. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của bên giao khoán.
3. Dự án đầu tư hoặc phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh của bên
giao khoán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
a. Rừng sản xuất sau khi đã trồng xong, thực hiện giao khoán rừng cho
bên nhận khoán để tiếp tục đầu tư chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ và tổ chức
sản xuất nông, lâm kết hợp;
b. Nội dung hợp đồng giao khoán phải xác định rõ diện tích, cấp tuổi
rừng, trữ lượng rừng, chất lượng rừng, nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo
vệ rừng, khai thác, trách nhiệm của bên nhận khoán và bên giao khoán, tỷ lệ
phân chia giá trị sản phẩm khi khai thác tương ứng với vốn, lao động mỗi bên
đã đầu tư, thời hạn hợp đồng giao khoán;
c. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên nhận khoán được tận thu
lâm sản khi thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy
phạm kỹ thuật hiện hành và sản xuất nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp kết hợp
theo hướng dẫn của bên giao khoán, được hưởng sản phẩm tận thu đó theo
hợp đồng đã ký;
d. Thời gian giao khoán theo chu kỳ kinh doanh của từng loại rừng,
nhưng tối đa không quá 50 năm”.
“Điều 16. Giao khoán đất trồng rừng sản xuất
1. Bên giao khoán xây dựng dự án trồng rừng, suất đầu tư và ký hợp
đồng giao khoán đất cho bên nhận khoán để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đến
khi khai thác; sản phẩm gỗ thu hoạch phân chia theo tỷ lệ tiền vốn đầu tư và
công lao động đã đóng góp giữa bên giao khoán và bên nhận khoán.
Tuỳ tình hình cụ thể của bên giao khoán và bên nhận khoán để lựa chọn
các mô hình sau:
a. Bên giao khoán đầu tư 100% vốn (bao gồm thiết kế, cây giống, phân
bón, vật tư, tiền công khoán), chỉ đạo kỹ thuật, hỗ trợ công tác bảo vệ rừng.
bên nhận khoán nhận thực hiện công việc từ trồng, chăm sóc, bảo vệ từ khi
trồng đến hết chu kỳ kinh doanh. Khi khai thác, bên nhận khoán thanh toán
bằng sản phẩm gỗ thu hoạch cho bên giao khoán tương ứng giá trị đã nhận
1.2.4.3. Quyn và nghĩa vụ ca người được giao đất lâm nghiệp
Quyền và nghĩa vụ của người được giao đất lâm nghiệp được quy định
tại Điều 15 Nghị định số 02/CP như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
“1. Quyền lợi:
a. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b. Được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích đất
Lâm nghiệp được giao;
c. Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích đất
Lâm nghiệp được giao theo luận chứng kinh tế kỹ thuật, phương án quản lý,
dự án đầu từ hoặc theo kế ước, theo hợp đồng khoán;
d. Được hưởng chính sách hộ trợ cuả nhà nước trong việc bảo vệ và
phát triển rừng;
đ. Được đền bù, bồi hoàn thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất
Lâm nghiệp được giao theo thời giá thị trường và hiện trạng cuả rừng, đất
trồng rừng trường hợp bị thu hồi theo quy định của pháp luật;
e. Được để thừa kế, chuyển nhượng, thế chấp, chuyển đổi quyền sử
dụng đất Lâm nghiệp được giao theo quy định của pháp luật;
f. Được miễn hoặc giảm thuế trong trường hợp gây trồng rừng trên đất
trống, đồi, núi trọc theo quy định cuả pháp luật .
2. Nghĩa vụ:
a. Chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc thực hiện các quy định
cuả pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển đất Lâm nghiệp được giao;
b. Đền bù, bồi hoàn theo thời giá cho chủ rừng, đất trồng rừng bị thu
hồi để giao cho mình theo quy định cuả pháp luật;
c. Nộp thuế theo quy định của pháp luật” [5].
1.3. CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG
Ở VIỆT NAM
ở 19 xã trong huyện đã trồng được trên 19 nghìn ha rừng kinh tế, trong đó có
nhiều xã ở vùng đặc biệt khó khăn đã chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng
rừng kinh tế có hiệu quả cao như xã Đông Thành trồng được trên 1.163ha;
người Dao ở xã Thượng Bình, xã đặc biệt khó khăn đã chuyển đổi gần 900ha
rừng nghèo kiệt. Từ trồng rừng kinh tế, nhiều hộ dân đã có nguồn thu nhập ổn
định và ấp ủ ước mơ làm giàu từ rừng như hộ chị Hoàng Thị Đệ ở thôn Tiến
Thành, xã Đông Thành: Gia đình chị đã chuyển 5ha rừng nghèo kiệt (rừng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn