LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thủy
i
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội và sự
đồng ý của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Nga về đề tài luận văn: "Pháp
luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn huyện Thường Tín,
thành phố Hà Nội". Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Viện Đại
học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập,
nghiên cứu tại Viện.
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Thị Nga
đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại
học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh
nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không
thể tự nhận thấy được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để
luận văn được hoàn chỉnh hơn.
đai .................................................................................................................... 18
1.2.2. Sự cần thiết của việc điều chỉnh quan hệ hòa giải tranh chấp đất
đai bằng pháp luật ......................................................................................... 20
1.2.3. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về hòa
giải tranh chấp đất đai ở nƣớc ta ................................................................. 22
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 31
iii
chương 2: NỘI DUNG CỤ THỂ PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI ............................................................................................ 32
2.1. Các quy định về hoà giải tiền tố tụng đối với các tranh chấp đất đai32
2.1.1. Hòa giải cơ sở đối với tranh chấp đất đai ......................................... 32
2.1.2. Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phƣờng, thị
trấn .................................................................................................................. 34
2.2. Hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án ................................................ 40
2.2.1. Quy định về phạm vi các vụ việc mà Tòa án tiến hành hòa giải .... 40
2.2.2. Quy định về các chủ thể trong hòa giải ............................................. 43
2.2.3. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai trƣớc khi mở phiên tòa sơ
thẩm ................................................................................................................ 44
2.2.4. Thủ tục công nhận thỏa thuận về tranh chấp đất đai ........................ 49
Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN TẠI HUYỆN THƢỜNG TÍN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................................................................. 54
3.1. Thực tiễn áp dụng các qui định về hòa giải tranh chấp đất đai tại
huyện Thƣờng tín, thành phố Hà Nội ......................................................... 54
3.1.1. Những yếu tố lịch sử, văn hóa, địa lý có ảnh hƣởng trực tiếp và gián
tiếp đến hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn .................... 54
3.1.2. Thực trạng hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện
quyền của người sử dụng đất được mở rộng hơn mà điểm hình là các giao
dịch dân sự về đất đai được phép xác lập, thực hiện như chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn liên doanh bằng
giá trị sử dụng đất…đồng thời cũng chỉ rõ những nghĩa vụ mà người sử dụng
đất phải thực hiện nhằm bảo vệ, phát triển quỹ đất cũng như tạo sự bình đẳng
giữa những người sử dụng đất với nhau.
Thực tiễn cho thấy, tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp
xảy ra phổ biến, đa dạng và phức tạp. Các nhà làm luật cũng như các cấp
chính quyền trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã cố gắng đưa ra
không ít những kiến nghị, giải pháp nhằm hạn chế tranh chấp cũng như giải
quyết triệt để những tranh chấp đất đai khi đã phát sinh. Để giải quyết tranh
chấp đất đai thì ngoài con đường Tòa án, hòa giải cũng là một trong những
biện pháp hữu hiệu để giải quyết loại tranh chấp này. Tuy nhiên, điều đáng
nói là pháp luật về hòa giải đối với tranh chấp đất đai hiện nay chưa có sự
thống nhất, chưa có quy định cụ thể, từ đó gây khó khăn cho việc giải quyết
tranh chấp đất đai trên thực tế.
1
Mặc dù chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước ta có
nhiều thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn phát triển khác nhau, song bên
cạnh đó còn có nhiều quy định không nhất quán. Thêm vào đó, việc giải thích,
hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền cũng chưa đầy đủ và kịp thời. Do
đó, việc hòa giải tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính và Tòa án
nhân dân (TAND) trong những năm qua vừa không thống nhất, vừa không đạt
được hiệu quả như mong muốn.
Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về hòa giải
trong giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết đất đai thông qua hòa
giải, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả về hòa giải
trong giải quyết tranh chấp đất đai là việc làm có ý nghĩa quan trọng cả về
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài mà tác giả đã lựa chọn như trên, mục tiêu tổng quát của luận
văn là hướng tới việc nhìn nhận đánh giá một cách khách quan và toàn diện
hiệu quả của pháp luật hòa giải tranh chấp đất đai trên thực tế. Qua đó hoàn
thiện chính sách pháp luật về đất đai, đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả
về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:
- Lý giải một số vấn đề lý luận chung về hòa giải tranh chấp đất đai và
pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai;
- Đánh giá các quy định của pháp luật thông qua việc tìm hiểu, phân
tích các quy định của pháp luật hiện hành. Đồng thời nêu lên thực trạng áp
dụng các quy định về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và thực tiễn
thi hành pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại huyện Thường Tín, thành
phố Hà Nội;
- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh
chấp đất đai ở nước ta.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là:
3
- Các quy định hiện hành về hòa giải trong tranh chấp đất đai (tiền tố
tụng và tại tòa án)
- Thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành về hòa giải trong giải quyết
tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra; trong quá
trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hòa
giải tranh chấp đất đai
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về hòa giải tranh chấp đất đai và pháp
luật về hòa giải tranh chấp đất đai;
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hòa
giải tranh chấp đất đai tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội;
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả về hòa giải trong giải quyết
tranh chấp đất đai.
5
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1.1. Một số vấn đề lý luận về hòa giải tranh chấp đất đai
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai
1.1.1.1. Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai
Trong bất kỳ xã hội nào, đất đai luôn có vai trò và vị trí quan trọng đối
với con người, góp phần quyết định sự phát triển phồn vinh của mỗi quốc gia.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và đời sống, nhu cầu sử dụng đất của con
người ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Để thực hiện quyền của đại diện
chủ sở hữu, Nhà nước sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ đất đai
nhằm tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh cho hoạt động khai thác và
sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả.
Tuy nhiên, trong những năm qua, các tranh chấp đất đai phát sinh ngày
một nhiều hơn, đa dạng và phức tạp. Do vậy, việc đa dạng hóa các cơ chế
cập đến hành động và mục đích của hòa giải nhưng chưa nêu được các yếu tố
như bản chất, nội dung và chủ thể của hòa giải.
Từ điển Pháp lý của Rothenberg, hòa giải là hành vi thỏa hiệp giữa các
bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít [57]. Còn Từ điển Luật
học của Black cho rằng hòa giải là sự can thiệp; sự làm trung gian hòa giải;
hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết
phục dàn xếp hoặc tranh chấp giữa họ [56]. Như vậy, có thể nhận thấy rằng
nếu như định nghĩa về hòa giải của Rothenberg đã nêu được bản chất của hòa
giải nhưng chưa nêu được hành vi, vai trò trung gian của bên thứ ba trong hòa
giải thì điều này đã khắc phục được trong Từ điển Luật học của Black.
Từ những phân tích nêu trên, xuất phát từ bản chất của phương thức
hòa giải có thể hiểu hòa giải tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải
quyết các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai
trò trung gian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải
pháp thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan
đến QSDĐ và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của mình.
7
Như vậy, qua khái niệm này cho thấy hòa giải có ba yếu tố: thứ nhất,
phải có tranh chấp phát sinh giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai;
thứ hai, có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông
qua việc nhượng bộ của mỗi bên; thứ ba, trong quá trình hòa giải phải có sự
tham gia của bên thứ ba độc lập cho ý kiến tư vấn để giúp các bên tìm kiếm
những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích
liên quan đến QSDĐ và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi
của mình.
1.1.1.2. Đặc điểm hòa giải tranh chấp đất đai
Có thể nói, tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân
sự, do có đối tượng của tranh chấp là QSDĐ. Do vậy, bên cạnh những đặc
quan tư pháp. Vấn đề quan trọng là cần phải thiết lập được cơ chế chuyển hóa
giữa kết quả hòa giải cơ sở, chính quyền địa phương và quyết định tư pháp do
Tòa án thực hiện có giá trị cưỡng chế thi hành.
Bốn là, hòa giải tranh chấp đất đai do UBND xã, phường, thị trấn tiến
hành trong một số trường hợp được coi là một giai đoạn tiền giải quyết tranh
chấp đất đai của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của Tòa án nhân dân có
thẩm quyền
Tính chất pháp lý của hòa giải tranh chấp đất đai do UBND cấp xã,
phường, thị trấn thực hiện nói trên thể hiện tập trung ở các khía cạnh sau:
- Hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, phường, thị trấn có thể
được coi là một trong những điều kiện để Tòa án có thẩm quyền xem xét thụ
lý, giải quyết tranh chấp đất đai.
- Giá trị pháp lý của hòa giải tranh chấp đất đai biểu hiện ở chỗ cơ quan
nhà nước có thẩm quyền có sự công nhận đối với kết quả hòa giải tranh chấp.
Trong đó điểm đặc biệt là đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi
hiện trạng về ranh giới, chủ sử dụng đất thì UBND xã, phường, thị trấn gửi
biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và
Môi trường để các cơ quan này trình UBND cùng cấp quyết định việc công
nhận thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới giấy chứng nhận QSDĐ.
Cũng cần lưu ý rằng, việc hòa giải tranh chấp đất đai trong trường hợp
9
nêu trên không phải là việc giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan có
thẩm quyền. Bởi lẽ, ở đây cấp xã, phường, thị trấn không phải là một cấp giải
quyết tranh chấp đất đai, mà chỉ đóng vai trò trung gian hòa giải, giúp đỡ,
hướng dẫn các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, xử lý giải quyết ổn thỏa
tranh chấp.
Năm là, hòa giải tranh chấp đất đai được coi là một thủ tục tố tụng bắt
buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án
đương sự tự thỏa thuận là việc các bên chủ động thương lượng, thỏa thuận mà
không có sự tham gia của Tòa án.
+ Kết quả hòa giải được Thẩm phán lập biên bản, nếu các đương sự
thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án thì Thẩm phán ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận của cá đương sự. Còn trong trường hợp các bên
tự hòa giải và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết thì Tòa án có thể ra
quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Sáu là, hòa giải tranh chấp đất đai được tiến hành trên cơ sở tôn trọng
quyền định đoạt của các đương sự có tranh chấp
Mặc dù hòa giải tranh chấp đất đai là một hoạt động do tổ hòa giải hoặc
chính quyền cơ sở hoặc Tòa án tiến hành nhưng về bản chất hòa giải vẫn là sự
thỏa thuận của các đương sự. Chỉ có các đương sự có tranh chấp mới có
quyền thỏa thuận, thương lượng với nhau về tất cả những vấn đề đang cần
giải quyết trong vụ án, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm
hại hoặc tranh chấp. Họ là người hiểu rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ.
Khi tham gia vào quá trình hòa giải tranh chấp đất đai, các đương sự có
quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết những bất đồng về
quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện ý chí, thỏa thuận. Mọi sự tác
động từ bên ngoài trái với ý muốn của các đương sự đều bị coi là trái pháp
luật và không được công nhận. Tổ hòa giải, chính quyền cơ sở hoặc Tòa án
không được cưỡng ép, bắt buộc đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết
những mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ.
1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của hòa giải tranh chấp đất đai
Hòa giải tranh chấp đất đai là một biện pháp mềm dẻo, linh hoạt và
11
hiệu quả nhằm giúp cho các bên tranh chấp tìm ra một giải pháp thống nhất để
tháo gỡ những mâu thuẫn, bất đồng trong tranh chấp đất đai trên cơ sở tự
nguyện, tự thỏa thuận. Từ đó góp phần ổn định, hài hòa mối quan hệ giữa các
cường uy tín của cơ quan xét xử nói riêng cũng như cơ quan nhà nước nói
chung. Ngoài ra, trong trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai không thành thì
Tòa án cũng có điều kiện nắm vững nội dung tranh chấp, tâm tư nguyện vọng
của đương sự để xác định đường lối xét xử đúng đắn trong quá trình giải
quyết vụ án.
- Đối với các đương sự
Hòa giải tranh chấp đất đai giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm
với nhau góp phần khôi phục lại tình đoàn kết giữa họ, giúp họ giải quyết
tranh chấp với tinh thần cởi mở, giảm bớt mâu thuẫn, ngăn ngừa tội phạm có
nguồn gốc từ tranh chấp đất đai phát sinh. Trong trường hợp không hòa giải
thành thì quá trình hòa giải cũng giúp cho các đương sự ngồi lại với nhau,
hiểu rõ hơn nguyên nhân tranh chấp đất đai, được bày tỏ ý chí của mình. Từ
đó, họ có thể phần nào tìm được tiếng nói chung, hạn chế bớt mâu thuẫn.
Hòa giải góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự. Thông
qua việc giải thích pháp luật của Tòa án trong phiên hòa giải, các đương sự sẽ
phần nào hiểu được quy định của pháp luật về vấn đề mà họ đang tranh chấp.
Từ đó, các bên có thể hiểu và tự quyết định về việc giải quyết tranh chấp,
không trái quy định của pháp luật.
- Đối với trật tự xã hội
Thông qua hòa giải, nhiều tranh chấp đất đai đã được giải quyết mà
không cần mở phiên tòa xét xử. Nếu hòa giải không thành thì cũng giúp các
bên đương sự hiểu rõ hơn quyền, nghĩa vụ của mình, làm giảm bớt hoặc kiềm
chế mâu thuẫn. Như vậy, hòa giải tranh chấp đất đai góp phần vào việc giữ
gìn an ninh, trật tự, công bằng xã hội, làm cho quan hệ xã hội phát triển không
bằng mệnh lệnh mà bằng giáo dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành
viên trong xã hội.
Mặt khác, hòa giải làm cho sự hiểu biết chính sách pháp luật về đất đai
của các đương sự nói riêng và của người dân nói chung được nâng cao. Qua
13
14
gia của các tổ chức xã hội khác và được Nhà nước tạo điều kiện và khuyến
khích thực hiện, nhằm đảm bảo phát huy tối đa ưu thế và hiệu quả của hoạt
động này.
Thứ ba, hòa giải của UBND xã, phường, thị trấn
Trường hợp các bên tranh chấp không tự hòa giải được thì có thể yêu
cầu UBND xã, phường, thị trấn để hòa giải. Đây là hình thức hòa giải do
chính quyền cơ sở thực hiện nhằm nhanh chóng giải quyết những bất đồng
trong nội bộ nhân dân về đất đai tại địa bàn dân cư do chính quyền sở tại trực
tiếp quản lý. Tuy nhiên, kết quả hòa giải thành này không có giá trị như một
phán quyết của cơ quan tư pháp.
Thứ tư, hòa giải tranh chấp đất đai trong tố tụng
Đây là phương thức hòa giải tại TAND, do cơ quan tư pháp tiến hành.
Điểm đặc biệt của phương thức này là kết quả hòa giải thành được Tòa án ghi
nhận có giá trị thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Tòa án có trách nhiệm
tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với
nhau về việc giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật tố tụng
dân sự. Trong hoạt động hòa giải, Tòa án xuất hiện không phải với tư cách
một bên tham gia hòa giải mà là người tổ chức, bố trí cho các đương sự
thương lượng, thỏa thuận với nhau. Với vai trò của mình, Tòa án giải thích
cho các đương sự hiểu được quyền, nghĩa vụ pháp luật có liên quan đến tranh
chấp cần hòa giải. Hoạt động hòa giải này được coi là một thủ tục tố tục bắt
buộc của Tòa án trước khi xét xử sơ thẩm. Tuy vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, tại
cấp phúc thẩm các vụ án tranh chấp đất đai, nếu các đương sự thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án có thể công nhận sự thỏa
thuận đó. Kết quả hòa giải do Tòa án tiến hành là những văn bản có tính chất
pháp lý (biên bản hòa giải thành hoặc không thành; quyết định công nhận sự
thỏa thuận của đương sự), tùy theo trường hợp sẽ là cơ sở để cưỡng chế thi
chấp đất đai phải lắng nghe ý kiến của các bên, đồng thời phải tìm hiểu về
nguồn gốc của đất đang tranh chấp; nguyên nhân dẫn đến phát sinh tranh chấp
và những vấn đề có liên quan để đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng của các
đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp.
16
Ba là, nguyên tắc tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, lợi ích công cộng
Với tư cách là bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục
các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát
sinh, do vậy, khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp mặc dù bên thứ
ba này không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì nhằm ràng
buộc các bên các bên tranh chấp mà quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về
các đương sự nhưng vẫn có những yêu cầu nhất định đặt ra cho chủ thể trung
gian này. Trong số đó, yêu cầu về việc tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng cũng luôn được coi trọng, bởi
lẽ có như vậy mới đảm bảo tính khả thi khi giải quyết tranh chấp đất đai, đồng
thời bảo vệ được những lợi ích hợp pháp.
Bốn là, nguyên tắc kết hợp hòa giải tranh chấp đất đai với việc giáo
dục, thuyết phục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai
Thực hiện nguyên tắc này không chỉ góp phần giải quyết được những
mâu thuẫn, bất đồng trong quan hệ đất đai mà còn làm cho mọi người hiểu,
thừa nhận và nghiêm chỉnh chấp hành các qui định của pháp luật trong lĩnh
vực đất đai.
Năm là, nguyên tắc thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai kịp thời,
nhanh chóng, ngăn chặn và loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật đất đai
Nội dung nguyên tắc này được hiểu là khi tiến hành hòa giải tranh chấp
tranh chấp dân sự. Quan hệ xã hội thuộc sự điều chỉnh của bộ phận pháp luật
này hẹp hơn so với quan hệ xã hội thuộc sự điều chỉnh của pháp luật về hòa
giải tranh chấp dân sự nói chung. Cụ thể ở đây, nhóm quan hệ này được xác
định là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên
trong quan hệ đất đai.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định: Pháp luật về hòa giải
tranh chấp đất đai là tổng hợp những quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà
18