TRN C THNH
B GIO DC V O TO
VIN I HC M H NI
LUN VN THC S
CHUYấN NGNH: LUT KINH T
pháp luật về GIảI QUYếT TRANH CHấP ĐấT ĐAI
LUT KINH T
Từ THựC TIễN tại TòA áN NHÂN DÂN
thành phố hòa bình
TRN C THNH
2015 - 2017
H NI - 2017
B GIO DC V O TO
VIN I HC M H NI
LUN VN THC S
pháp luật về GIảI QUYếT TRANH CHấP ĐấT ĐAI
Từ THựC TIễN tại TòA áN NHÂN DÂN
thành phố hòa bình
TRN C THNH
Chuyờn ngnh : Lut kinh t
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học,
Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập. Mặc
dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng
không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy
được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn
chỉnh hơn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động
viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu
của mình.
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Đức Thịnh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI
9
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THÔNG QUA TÒA ÁN NHÂN
DÂN
Lý luận về tranh chấp đất đai
22
1.2.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
24
1.2.3. Mục đích, ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai
28
1.2.4. Các hình thức giải quyết tranh chấp đất đai
29
1.2.
1.3.
Lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa án nhân dân
32
1.3.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa án nhân dân
32
Đặc điểm của hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa
33
40
dân
2.1.1. Nội dung các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai của pháp luật
40
đất đai
2.1.2. Các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai của pháp luật tố tụng
dân sự
46
2.1.3. Các quy định của hệ thống Tòa án
57
Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp đất
đai từ thực tiễn hoạt động tại Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình
59
2.2.1. Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân thành
phố Hòa Bình
59
Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật về
giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình
3.1.2. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015
81
3.1.3. Tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai thi hành Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
83
3.2.
Về phương diện bồi dưỡng nghiệp vụ giải quyết tranh chấp đất đai
83
3.2.1. Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ về giải quyết tranh chấp đất đai
84
3.2.2. Xây dựng nội dung bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ về giải quyết
tranh chấp đất đai
85
Về phương diện hướng dẫn thi hành pháp luật giải quyết tranh chấp
đất đai
: Bộ luật dân sự
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSDĐ
: Quyền sử dụng đất
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
UBND
: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
đai những giá trị ban đầu vốn có thì đất đai ngày càng trở nên có giá. Đây là một trong
những nguyên nhân khách quan khiến tranh chấp đất đai không chỉ gia tăng về số lượng
mà còn gia tăng về tính phức tạp, gay gắt về nội dung. Tranh chấp đất đai phát sinh không
chỉ phá vỡ sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình, mối quan hệ đoàn kết trong nội
bộ nhân dân mà còn tiềm ẩn trở thành "điểm nóng" có nguy cơ gây mất ổn định chính trị xã hội. Chính vì vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp
luật và dứt điểm có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là giải quyết tranh chấp
đất đai theo phương thức nào và cơ chế thực hiện cụ thể ra sao lại không hề đơn giản. Để
tránh tình trạng tự giải quyết tranh chấp đất đai bằng các biện pháp bạo lực, sử dụng "luật
rừng" giữa các bên đương sự; các quốc gia trên thế giới đã thiết lập một cơ quan tài phán
là Tòa án với chức năng làm trọng tài, giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong xã hội. Hệ
thống cơ quan tài phán này là một nhánh quyền lực độc lập với các cơ quan lập pháp và cơ
quan hành pháp nhằm đảm bảo tính độc lập, đưa ra phán quyết công bằng, khách quan và
vô tư. Với việc ra đời mô hình cơ quan tài phán độc lập giải quyết các tranh chấp nói chung
và tranh chấp đất đai nói riêng đã chứng tỏ bước phát triển của nhân loại trong việc giải
quyết hòa bình, văn minh những bất đồng, mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội và đem lại niềm
tin cho nhân dân vào công lý, sự nghiêm minh của pháp luật. Tiếp thu sự tiến bộ của văn
minh nhân loại, ở nước ta, hệ thống Tòa án nhân dân (TAND) được thành lập với chức
năng phán quyết, xét xử các tranh chấp nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng. Giải
quyết tranh chấp đất đai thông qua TAND không phải là vấn đề mới. Thời gian qua, đã có
nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này, nhiều giải pháp được đưa ra song
chất lượng và hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai thông qua TAND vẫn chưa
đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội. Số lượng các phán quyết của tòa án cấp dưới bị tòa án cấp
trên hủy bỏ, yêu cầu xét xử lại chiếm tỷ lệ không nhỏ. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục
nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện trên phương diện lý luận và thực tiễn hoạt động
giải quyết các tranh chấp đất đai của TAND để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng,
hiệu quả của hoạt động này. Đặc biệt trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai
năm 2013 và Luật tổ chức TAND năm 2014 được ban hành với nhiều sửa đổi, bổ sung liên
quan đến vị trí, vai trò của TAND nói chung và thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
học pháp lý, tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND nhận được sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, bằng chứng là vấn đề này đã được tìm hiểu, nghiên
cứu trong các công trình khoa học ở nhiều cấp độ khác nhau, từ khóa luận tốt nghiệp, luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, sách chuyên khảo hay các
bài viết đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu pháp luật có uy tín...
Những công trình nghiên cứu mang tính gợi mở có thể kể đến: i) Nguyễn Minh
Khoa (2007), "Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân theo khoản
1 Điều 136 Luật đất đai 2003", Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội; ii)
Trịnh Thị Lệ Quyên (2012), "Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân
dân - thực trạng và giải pháp hoàn thiện", Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà
Nội; iii) Nguyễn Thị Thu Hà (2013), "Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường Tòa
án ở Quận Hà Đông", Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; iv) Hồ
Xuân Hương (2004), "Giải quyết tranh chấp đất đai qua thực tiễn ở Hà Nội", Luận văn
thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; v) Nguyễn Văn Luật (chủ nhiệm) (2002),
"Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử
dụng đất tại Tòa án nhân dân", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - Tòa án nhân dân tối
cao (TANDTC); vi) Viện Khoa học xét xử - TANDTC (2012), "Thực tiễn giải quyết tranh
chấp về hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất - những
vướng mắc và kiến nghị", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ; vii) Mai Thị Tú Oanh (2013),
"Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án ở nước ta", Luận án tiến
sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội; viii) Doãn Hồng Nhung (chủ biên) (năm 2014),
"Kỹ năng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam", Nxb Lao
động, Hà Nội; ix) Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng (2011) "Giao dịch về quyền sử
dụng đất vô hiệu, pháp luật và thực tiễn xét xử", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; x) Nguyễn
Thị Dung (2004),"Về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong những quy định của
Luật đất đai", Tạp chí Luật học, Số chuyên đề về Luật đất đai 2003 xuất bản tháng 5; xi)
Nguyễn Quang Tuyến (2004), "Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án",
Tạp chí TAND, số 14; xii) Lưu Quốc Thái (2006), "Hoàn thiện các quy định pháp luật về
sĩ Luật học, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một số nội dung cụ thể sau:
- Giới hạn về nội dung: Nghiên cứu các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các
văn bản hướng dẫn thi hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của TAND; các
quy định của một số đạo luật có liên quan.
- Giới hạn về thời gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu pháp luật về giải quyết tranh
chấp đất đai từ năm 2003 - nay.
- Giới hạn về phạm vi: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn thi hành
pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai từ hoạt động xét xử của TAND thành phố Hòa
Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp diễn giải v.v... được sử
dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và giải
quyết tranh chấp đất đai thông qua TAND.
ii) Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp lập luận lôgic v.v...
được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp
đất đai thông qua TAND và thực tiễn thi hành tại TAND thành phố Hòa Bình.
iii) Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp bình luận v.v... được
sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua TAND thành phố Hòa
Bình.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn với đề tài "Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn tại Tòa
án nhân dân thành phố Hòa Bình" có những đóng góp nhất định. Những đóng góp này bao
hiểu thế nào là tranh chấp? Theo Đại từ điển Tiếng Việt (năm 1998) thì tranh chấp là giành
giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào, là bất đồng, trái ngược nhau.
Khái niệm tranh chấp đất đai đã được giải thích trong văn bản pháp luật đất đai.
Luật đất đai năm 2013 quan niệm: "Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ
của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai" [23, Khoản 24
Điều 3]. Phân tích quy định trên của Luật đất đai năm 2013, chúng ta thấy rằng các nhà
làm luật đưa ra định nghĩa về tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người
sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Các nhà làm luật đã định nghĩa
bằng cách sử dụng chính thuật ngữ cần định nghĩa để định nghĩa: "tranh chấp đất đai là
tranh chấp...". Cách định nghĩa như vậy chưa giúp người đọc hiểu được tranh chấp là gì?
Bản chất của nó như thế nào? Tranh chấp là những mâu thuẫn, xung đột, những quan điểm,
ý kiến khác nhau, thậm chí là đối nghịch, trái ngược nhau về cùng một vấn đề. Trong quan
hệ đất đai, tranh chấp chính là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể về các vấn đề
lợi ích, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên chủ thể trong quan hệ đất đai. Trong bất cứ quan
hệ nào, lợi ích luôn là vấn đề được các chủ thể đặt lên hàng đầu, lợi ích luôn gắn liền với
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Nói một cách trực diện là nếu không có lợi ích sẽ khó có
thể phát sinh quan hệ và không có quan hệ thì cũng không làm phát sinh các quyền và nghĩa
vụ giữa các bên chủ thể với nhau. Vì thế, nói đến quyền và nghĩa vụ không thể không nhắc
tới lợi ích đằng sau nó. Trong nội hàm của khái niệm tranh chấp đất đai tại khoản 24 Điều
3 Luật đất đai năm 2013, các nhà làm luật chỉ nói đến "quyền và nghĩa vụ" là chưa đầy đủ.
Điều này đã được quy định tại Luật đất đai năm 2003, nhưng đến Luật đất đai 2013 vẫn
không có sự sửa đổi là chưa phù hợp với bản chất của các quan hệ xã hội nói chung, quan
hệ đất đai nói riêng và vô hình chung thu hẹp nội hàm khái niệm tranh chấp đất đai trong
thực tế. Tiếp tục phân tích khái niệm tranh chấp đất đai tại quy định này: "Tranh chấp đất
đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên...". Trong
khái niệm này, nhà làm luật đã xác định chủ thể của tranh chấp đất đai là hai hoặc nhiều
bên trong quan hệ đất đai; đó có thể là bất đồng giữa những người sử dụng đất với nhau
hoặc giữa người sử dụng đất với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai về lợi ích, quyền và
miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hai là, ở nước ta không có tranh chấp về quyền sở hữu đất đai mà chỉ tồn tại tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hay nhiều bên trong quá trình
sử dụng đất. Do pháp luật nước ta chỉ thừa nhận một chế độ sở hữu đất đai - Chế độ đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Ba là, tranh chấp liên quan đến cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất giữa một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân trong việc ra quyết định giao đất, cho thuê đất; quyết định cho phép chuyển
mục đích sử dụng đất; quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ);
quyết định về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất v.v... là tranh chấp hành chính. Việc giải quyết các tranh chấp này do Tòa hành chính
giải quyết.
Trong khi đó, tranh chấp về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
khác là tranh chấp mang tính chất dân sự. Việc giải quyết loại tranh chấp này thuộc thẩm
quyền của Tòa dân sự.
Bốn là, tranh chấp đất đai luôn gắn liền với quá trình sử dụng đất của các chủ thể nên
khi xảy ra không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên tranh chấp mà còn làm ảnh
hưởng đến các bất động sản liền kề, gây mất ổn định, bất đồng trong nội bộ nhân dân và
ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, làm cho những chính sách, quy định pháp luật về đất
đai của Nhà nước không được thực thi một cách triệt để.
1.1.3. Hậu quả của tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai là hiện tượng xã hội không bình thường; bởi lẽ, chỉ khi nảy sinh
bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai thì
mới xuất hiện loại tranh chấp này. Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước
ta thì tranh chấp đất đai xảy ra là điều khó tránh khỏi. Tranh chấp đất đai phát sinh gây ra
một số hậu quả chủ yếu sau đây:
Một là, tranh chấp đất đai là sự tổn thương về quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất
suy nghĩ của các chủ thể có quyền quản lý và sử dụng đất đai. Những biểu hiện này rất đa
dạng, phong phú; vì vậy; tranh chấp đất đai tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy
theo mục đích nghiên cứu và tiêu chí phân loại mà tranh chấp đất đai được chia thành các
loại, dạng. Căn cứ vào bản chất pháp lý, có thể chia tranh chấp đất đai thành các dạng cơ
bản sau:
Thứ nhất, tranh chấp về quyền sử dụng đất (QSDĐ). Đặc trưng của dạng tranh
chấp này là các bên chủ thể đều có QSDĐ và có sự chiếm hữu, sử dụng thực tế đất đai có
tranh chấp. Dạng tranh chấp này được chia ra thành một số tranh chấp cụ thể sau:
Một là, tranh chấp ai là người có QSDĐ. Đây có thể là tranh chấp toàn bộ một thửa
đất hoặc nhiều thửa đất, tranh chấp một phần của thửa đất (tranh chấp ranh giới đất liền kề)
giữa những người sử dụng đất với nhau về ranh giới giữa những vùng đất mà họ được Nhà
nước cho phép quản lý và sử dụng. Loại tranh chấp này thường nảy sinh do một bên tự ý
thay đổi mốc giới hoặc hai bên không xác định được mốc giới sử dụng đất hoặc do quá
trình quản lý, cấp GCNQSDĐ chưa rõ ràng, còn nhiều sai sót.
Hai là, tranh chấp về QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trong quan hệ ly hôn giữa vợ
và chồng. Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân được pháp luật quy định thuộc sở hữu
chung hợp nhất. QSDĐ và các tài sản gắn liền với đất như nhà cửa, công trình xây dựng
v.v... là những tài sản có giá trị lớn. Vì vậy, khi vợ chồng "đường ai nấy đi" nảy sinh tranh
chấp về chia tài sản chung là nhà, đất . Dạng tranh chấp này còn liên quan đến tranh chấp
tặng cho QSDĐ; vì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng thường được bố mẹ chồng hoặc bố
mẹ vợ tặng cho QSDĐ.
Ba là, tranh chấp về QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trong quan hệ thừa kế. Dạng
tranh chấp này phát sinh khi các chủ thể có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật đối
với phần di sản thừa kế là QSDĐ và/hoặc tài sản gắn liền với đất trong trường hợp không
có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp một phần hay toàn bộ và các bên không tự thỏa
thuận phân chia được với nhau.
Bốn là, tranh chấp trong quan hệ tặng cho QSDĐ nhưng không có hợp đồng. Trường
hợp này, giữa các bên tặng cho thường có quan hệ thân thiết, gần gũi với nhau như bố mẹ
đai năm 2013 không quy định về quyền bảo lãnh QSDĐ của người sử dụng đất. Tuy nhiên,
trên thực tế vẫn xảy ra tranh chấp về mức bồi thường do hợp đồng bảo lãnh bằng QSDĐ
được ký kết trong giai đoạn trước nhưng nay mới phát sinh tranh chấp hoặc đến nay vẫn
chưa giải quyết xong.
Thứ ba, các dạng tranh chấp phát sinh trong quá trình quản lý đất đai của Nhà
nước. Chủ thể của dạng tranh chấp này tương đối đặc biệt hơn so với các dạng tranh chấp
kể trên, đó là một hoặc cả hai bên tranh chấp là cơ quan được Nhà nước giao quyền quản
lý đất đai. Nhà nước thông qua các cơ quan này thực hiện quyền quản lý về đất đai trên
phạm vi toàn quốc, trong quá trình đó cũng phát sinh một số dạng tranh chấp cụ thể sau:
Một là, tranh chấp về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia,
công cộng. Đây là tranh chấp giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với người sử
dụng đất khi họ cho rằng mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa thỏa đáng.
Hai là, tranh chấp về địa giới hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa
các cấp đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh) liền kề với nhau; vì nhiều lý do như ở vị trí dọc
theo các triền sông lớn, không có mốc giới, ranh giới rõ ràng nhưng có vị trí quan trọng
(cửa sông, cửa biển...) hoặc có nguồn tài nguyên phong phú (khoáng sản, lâm, hải sản...).
Đây là dạng tranh chấp mà cả hai bên đều là các cơ quan được Nhà nước giao quản lý đất
đai tại địa phương.
Ba là, các tranh chấp về mục đích sử dụng đất. Để đảm bảo sự quản lý thống nhất,
đồng bộ quỹ đất trong phạm vi cả nước, Nhà nước đã có sự phân bổ và quy hoạch sử dụng
đất. Theo đó, căn cứ vào mục đích sử dụng mà đất đai được chia thành đất nông nghiệp,
đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất ở (đất thổ cư)... Trong quá trình sử dụng
đất thường phát sinh tranh chấp khi các bên sử dụng đất sử dụng không đúng mục đích
theo quy hoạch như tranh chấp phát sinh trong nhóm đất nông nghiệp giữa đất trồng lúa
với đất nuôi trồng thủy sản, tranh chấp về mục đích sử dụng đất giữa đất trồng cây lâu năm
và đất trồng cây hàng năm; tranh chấp phát sinh trong nhóm đất thổ cư như tranh chấp đất
hương hỏa và đất thổ cư hay tranh chấp về mục đích sử dụng đất giữa các nhóm đất với