BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HOÀNG THỊ HẢI HÀ
GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG GIẢ TẠO TỪ THỰC
TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
HOÀNG THỊ HẢI HÀ
GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG GIẢ TẠO TỪ THỰC
TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
1.3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng giả tạo. .........................................11
1.4. Hợp đồng giả tạo, vấn đề pháp lý cần được nghiên cứu. ...............................13
Tiểu kết chương 1: .................................................................................................13
Chương 2: Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp hợp đồng giả tạo ...............15
2.1. Khái niệm. ......................................................................................................15
2.1.1 Khái niệm hợp đồng giả tạo. .....................................................................15
2.1.2. Khái niệm tranh chấp hợp đồng giả tạo. ..................................................16
2.2. Đặc điểm của hợp đồng giả tạo ......................................................................17
2.3. Phân loại hợp đồng giả tạo. ............................................................................19
2.4. Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp hợp đồng giả tạo. .............................20
2.4.1.Văn bản pháp luật áp dụng. ......................................................................20
2.4.2. Vấn đề áp dụng quy định chung của pháp luật về hợp đồng. ..................21
2.4.3.Nguyên tắc khi xem xét tính hiệu lực của hợp đồng. ...............................22
2.4.3.1.Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội. .............................................................................................................22
2.4.3.2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
........................................................................................................................23
2.4.3.3. Chủ thể tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự. ..................24
2.5. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng giả tạo. ................................25
2.5.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. ..25
2.5.2. Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh là quyền và nghĩa vụ của
đương sự. ...........................................................................................................26
2.6. Hợp đồng thông thường trong hợp đồng giả tạo. ...........................................27
2.6.1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. ........................................27
2.6.2. Hợp đồng bảo lãnh. ..................................................................................29
2.6.3. Hợp đồng vay tài sản. ..............................................................................29
2.7. Quy định của Bộ luật hình sự có liên quan ....................................................31
Tiểu kết chương 2 ..................................................................................................32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
BLTTDS
CM
Bộ luật dân sự
Bộ luật tố tụng dân sự
Cà Mau
TAND
VKS
Tòa án nhân dân
Viện kiểm sát
BĐS
DNNN
Bất động sản
Doanh nghiệp nước ngoài.
NĐCP
LĐĐ
NĐ
Nghị định chính phủ
Luật đất đai.
phạm tín dụng đen, thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng, ảnh hưởng đến nhiều cá
nhân, gia đình, tổ chức. Vì thiếu vốn làm ăn, thiếu hiểu biết về thủ tục vay vốn ngân
hàng hoặc không đủ điều kiện vay, thiếu hiểu biết về chuyển nhượng nhà đất nên đã
chọn con đường vay “tín dụng đen”. Hệ lụy từ “tín dụng đen” dẫn đến nhiều hành vi
vi phạm khác như bắt giữ người trái pháp luật, hủy hoại tài sản, vi phạm pháp luật
về cầm cố, thế chấp tài sản…1
Do các hình thức giao dịch là dân sự nên khi phát sinh tranh chấp, các bên
thường tự giải quyết với nhau hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Liên quan
đến vấn đề này tại TAND tỉnh CM thời gian từ năm 2010 đến 2015 đã có hàng chục
vụ án người dân khởi kiện đến Tòa án, một số vụ án cho vay sau đó dùng hình thức
bảo lãnh để nhằm buộc người được bảo lãnh phải thanh toán mức lãi suất cao hoặc
cho vay sau đó buộc người đi vay phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất (hợp
đồng giả tạo) nhằm chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra tại TAND tỉnh CM còn giải quyết
Theo kênh truyền hìnhVTV1 phát lúc 7h 25’ ngày 28/9/2015 chuyên đề về cải cách hành chính
1
2
các vụ án khác liên quan đến hợp đồng giả tạo như vụ án có yếu tố người nước
ngoài chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng người Việt Nam lại đứng tên trong
giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất...
Thực tế khi giải quyết các vụ án liên quan đến loại hình hợp đồng giả tạo thì
những người có thẩm quyền giải quyết căn cứ vào quy phạm pháp luật tương ứng là
các chế định về hợp đồng để giải quyết. Tuy nhiên về thực tiễn thì còn có những
khó khăn, bất cập như một số vụ án cũng cùng nội dung nhưng lại có cách giải
quyết và nhìn nhận khác nhau, khi nào hợp đồng có hiệu lực và khi nào thì vô hiệu,
có phải tất cả mọi hợp đồng giả tạo đều bị vô hiệu. Cho nên cần có sự nhận thức
thống nhất, cũng như làm thế nào để hạn chế được tình trạng ký kết hợp đồng giả
các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể như hợp đồng
vô hiệu do giả tạo, do nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa…
Tác giả Vũ Thị khánh (2010), “Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối theo
pháp luật Việt Nam” luận văn thạc sĩ luật học, đề tài này tác giả tập trung nghiên
cứu lý luận và thực tiễn xét xử về giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối.
Tác giả Lê Thị Tuyết Hà (2016), “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương
mại ở Việt Nam hiện nay” luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, đề tài
này tác giả tập trung nghiên cứu về trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng được ký kết
hợp pháp trên nền tảng quy định về hợp đồng dân sự và phân tích những bản án sơ
thẩm, phúc thẩm về vi phạm hợp đồng thương mại từ năm 2006 đến năm 2016.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu như trên, còn có các công trình ngiên
cứu khác cũng liên quan về hợp đồng và cách thức xử lý hợp đồng như luận văn
thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh (2011) với đề tài “Xử lý hợp đồng vô hiệu
theo pháp luật dân sự Việt Nam”; luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Hồng Hà với
đề tài “Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới thực tiễn tại Tòa án” nhưng
tác giả chưa tìm thấy đề tài nghiên cứu về hợp đồng giả tạo, trong khi thực tiễn phát
sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng này ngày càng nhiều và phức tạp nên cần có
nghiên cứu riêng về vấn đề này. Do vậy tác giả chọn đề tài “Giải quyết hợp đồng
giả tạo từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau”, tác giả tập trung nghiên cứu
phân tích cách thức giải quyết của các bản án từ cấp sơ thẩm đến giám đốc thẩm,
mặc khác qua các bản án này cũng tập trung tìm hiểu các loại sách báo, tạp chí, để
nhằm làm sáng tỏ hơn các vấn đề giải quyết trong vụ án còn có quan điểm không
thống nhất với nhau để phục vụ tốt hơn cho công tác xét xử.
3.Mục đích nghiên cứu đề tài.
Với đề tài “Giải quyết hợp đồng giả tạo – Từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau” tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu để nhằm làm rõ một số vấn đề
sau :
Các bản án giải quyết tranh chấp về hợp đồng giả tạo tại TAND tỉnh CM từ
năm 2010 đến năm 2015 chủ yếu căn cứ theo quy định của BLDS năm 2005. Khi
nghiên cứu đề tài này đã có sự sửa đổi bổ sung BLDS năm 2015, trong đó có sửa
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở quan điểm, đường lối chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà Nước và phương pháp luận của Chủ Nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra để hoàn thành luận văn tác giả còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích luật viết:
Đề tài phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến hợp đồng dân sự để
giải quyết các tranh chấp hợp đồng giả tạo tại Tòa án.
Phương pháp phân tích vụ việc:
Phương pháp được sử dụng để phân tích các vụ án tranh chấp hợp đồng có liên
quan đến hợp đồng giả tạo mà Tòa án thụ lý, giải quyết.
5
Phương pháp so sánh:
So sánh cách thức giải quyết trong các vụ án, cũng cùng một nội dung nhưng
có cách thức giải quyết khác nhau, so sánh các quy định trong BLDS năm 2005 và
quy định trong Luật Đất đai năm 2003 và năm 2013.
Phương pháp thống kê và phân tích số liệu:
Phương pháp này dùng để thống kê và phân tích số liệu liên quan đến giải
quyết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và hợp
đồng giả tạo.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và
thực tiễn về khi áp dụng giải quyết tranh chấp hợp đồng giả tạo tại Tòa án.
- Giá trị ứng dụng: Luận văn đề xuất những giải pháp về hoàn thiện các quy
định liên quan đến giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng dân sự và hợp
đồng giả tạo được quy định trong BLDS năm 2015, Luật đất đai năm 2013.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
nhà và đất, bà Th nghi vấn nhưng bà H giải thích là hình thức cho vay mới, sau đó
cả hai cùng đến phòng công chứng để thực hiện thủ tục chuyển nhượng 2.
Ngoài ra bên cho vay còn dùng các hình thức khác nhằm che giấu hợp đồng
vay như bên cho vay nhờ người thứ ba đứng tên chuyển nhượng nhà và đất của bên
đi vay, cụ thể tháng 5 năm 2011 bà Dương Phụng Q đã khởi kiện vợ chồng ông Hồ
Quân M ra TAND Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh buộc vợ chồng ông M phải
giao nhà cho Bà theo hợp đồng đã giao kết có công chứng. Ông M thì cho rằng ông
không giao dịch chuyển nhượng nhà gì với bà Q, trước đây vào tháng 3 năm 2009
bà Ph nhờ Ông đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng nhà với bà M, vì bà Ph cho
rằng do mua nhiều nhà, sợ đóng thuế cao, hợp đồng có công chứng nhưng Ông
Nguyễn Văn Dũng- Phòng tư pháp quận 8.
www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/tintuc/lists/posts/post.aspx?lits=f73cebc3-9669=400e-b5fd9e63a89949fo&ID=3380.
2
7
không được nghe đọc lại, Ông được bà Ph cho 2.000.000đ. Sau đó vào tháng 4/2009
bà Ph tiếp tục yêu cầu vợ chồng Ông đến phòng công chứng bổ sung thủ tục, lần
này Ông bà cũng không được nghe đọc hợp đồng, Ph có yêu cầu ông bà viết biên
nhận có nhận của bà Q 30 lượng vàng SJC, Ông không hiểu biết pháp luật và chỉ
nghĩ là không mua bán, không nhận tiền, không nhận nhà thì không ảnh hưởng gì
đến ai và còn được nhận một khoản tiền. Bà M là chủ nhà thì cho rằng bà vay của
bà Ph hai lần tổng cộng là 310.000.000đ với lãi suất 1,5 đến 2% để điều trị bệnh, bà
Ph có yêu cầu Bà đến phòng công chứng thực hiện thủ tục chuyển nhượng nhà cho
ông M, khi nào thanh toán hết nợ thì bà Ph hủy hợp đồng, trả lại giấy tờ nhà. Năm
2010 khi có nhu cầu lấy lại nhà thì Bà mới biết nhà của Bà đã bị chuyển nhượng 3.
Ngoài trường hợp trên thì TAND Thành phố Đà Nẵng cũng giải quyết tranh chấp
giữa vợ chồng ông Nguyễn Hùng C và bà Nguyễn Thị Ngọc Ng về tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, tranh chấp này
đồng cả hai bên hướng đến thực hiện. Do loại hợp đồng này không được quy định
cụ thể trong BLDS hay các luật có liên quan nên Tòa án các cấp không thống kê số
liệu cụ thể nhưng về mặt thực tế thì cơ quan Tòa án giải quyết rất nhiều các tranh
chấp loại hợp đồng này.
1.2. Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng giả tạo.
Trong giao dịch dân sự có rất nhiều hình thức giao dịch đa dạng khác nhau, ,
có thể là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự 5 nhưng mục đích của các chủ thể đều hướng đến
quyền và lợi ích của họ khi tiến hành giao kết và thực hiện giao dịch, hình thức các
chủ thể giao dịch trên thực tế chủ yếu là hợp đồng.
Chế định về hợp đồng được quy định trong 250 Điều luật (từ Điều 388 đến
593 và từ Điều 693 đến 732)của BLDS năm 2005, trong khi bộ luật này có 777
Điều, quy định này đã thể hiện rõ tầm quan trọng của chế định về hợp đồng trong
BLDS nói riêng và hệ thống pháp luật về dân sự nói chung. Về các loại hợp đồng,
trong BLDS năm 2005 có 13 loại hợp đồng dân sự thông dụng được quy định tại
Điều 428 đến Điều 593, chưa tính đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được quy định tại phần riêng trong BLDS; BLDS năm 2015 thì quy định về một số
hợp đồng thông dụng gồm có 13 loại từ Điều 430 đến Điều 5696, trong hợp đồng
thông dụng này có quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất khác với BLDS năm
2005, ngoài ra BLDS năm 2015 cũng tách phần hứa thưởng, thi có giải thành
chương riêng không nằm trong hợp đồng thông dụng như BLDS năm 2005. Như
vậy trong chế định về hợp đồng không có điều luật nào quy định về hợp đồng giả
tạo. Trên thực tế thì vẫn xảy ra việc giao kết loại hợp đồng này. Nguyên nhân vì sao
các chủ thể không lựa chọn các loại hình hợp đồng dân sự thông thường để giao
kết?.
Ví dụ: A chuyển nhượng cho B một lô đất với giá 500.000.000đ, hai bên
thỏa thuận cùng nhau thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, công chứng với giá
50.000.000đ. Vì sao họ lại có thỏa thuận như vậy, thỏa thuận của hai bên sẽ có lợi
5
Đối với việc thế chấp nhà, về trình tự thủ tục thế chấp nhà và đất tại các tổ
chức tín dụng rất chặt chẽ, cần phải chứng minh được thu nhập ổn định cũng như có
bất cập về định giá tài sản, ngoài ra đối với thế chấp nhà ở, theo quy định Luật nhà
ở năm 2005 thì chủ sở hữu nhà ở chỉ được thế chấp nhà ở để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ tại một tổ chức tín dụng7. Trong khi đó người có nhu cầu về vốn cấp bách
thì các tổ chức tín dụng không thể đáp ứng kịp thời được nên người đi vay tìm đến
các nguồn vốn tư nhân và tổ chức khác.
Đối với quyền được sử dụng đất và nhà ở cho người nước ngoài và người
nước ngoài ở Việt Nam, theo Luật đất đai năm 2003, luật nhà ở năm 2005 và năm
2014 thì chỉ có những người nước ngoài, sống và làm việc tại Việt Nam, có thời
7
Điều 114 Luật nhà ở năm 2005.
10
gian định cư tại Việt Nam theo luật quốc tịch thì mới được chuyển nhượng nhà gắn
liền với quyền sử dụng đất. Nên thời gian qua một số người nước ngoài ở Việt Nam
cũng như người Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhu cầu cần chuyển nhượng đất
ở Việt Nam nên đã chuyển tiền cho người thân ở Việt Nam để chuyển nhượng
quyền sử dụng đất hộ. Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng nhà ở và quyền sử
dụng đất đều đứng tên chủ sử dụng là người Việt Nam. Trường hợp khác hiện nay
đang tồn tại là người nước ngoài nhờ người Việt Nam chuyển nhượng quyền sử
dụng, sau đó người Việt Nam sử dụng quyền sử dụng đất này làm vốn góp vào
Công ty của người nước ngoài.
Đối với hợp đồng bảo lãnh, theo quy định của pháp luật là khi chủ thể bảo
lãnh đã thực hiện xong nghĩa vụ về vốn và lãi suất thì chủ thể bảo lãnh có quyền
yêu cầu người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với người bảo lãnh. Do
quy định của pháp luật có quy định về nghĩa vụ của người được bảo lãnh là phải
mong muốn đạt được mục đích mà các bên hướng tới, đa số là họ mong muốn đạt
được lợi ích về vật chất, các hợp đồng giả tạo này có thể không vi phạm pháp luật,
không trái đạo đức xã hội nhưng cũng có hợp đồng vi phạm những điều pháp luật
không cho phép họ thực hiện, cũng như hợp đồng vi phạm về điều kiện vô hiệu của
hợp đồng.
1.3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng giả tạo.
Qua cách thức giải quyết tranh chấp về hợp đồng giả tạo của các Tòa án nhân
dân các cấp có thẩm quyền trên phạm vi cả nước, có thể thấy một điểm chung là các
Tòa án đều xem xét các bên giao dịch thực chất với nhau là mối quan hệ gì, tranh
chấp cụ thể là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay tranh
chấp hợp đồng vay tài sản, vì khi phát sinh tranh chấp các bên đương sự đều khẳng
định mối quan hệ giao dịch là không thống nhất, một bên khẳng định hợp đồng
chuyển nhượng một bên khẳng định không có việc chuyển nhượng mà là hợp đồng
vay tài sản. Việc giải quyết căn cứ vào chứng cứ mà các bên chứng minh, hợp đồng
nào được thực tế các bên giao dịch đúng ý chí mà hai bên thỏa thuận, đã có nhiều
bản án giải quyết tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu
và hợp đồng bị che giấu là hợp đồng vay tài sản có hiệu lực pháp luật, cụ thể các vụ
án sau.
Ngày 26/5/2015 TAND Quận T Thành phố Hồ Chí Minh xét xử tranh chấp
“Hợp đồng tặng cho nhà, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” giữa NĐ
Nguyễn Văn T, Trần Thị Thúy Ng và BĐ Hoàng Văn T, Châu Yến Phụng. Nội
dung, NĐ thực hiện hợp đồng tặng cho tài sản cho BĐ để nhờ BĐ vay tiền hộ, BĐ
thì cho rằng trước đây NĐ có vay Ngân hàng 500.000.000đ và thế chấp căn nhà
113, không có khả năng trả nợ nên NĐ đã nhờ BĐ thanh toán tiền cho Ngân hàng.
Hai bên thỏa thuận khi thanh toán tiền cho Ngân hàng xong thì BĐ có quyền sở hữu
và định đoạt nhà. BĐ đã thanh toán tiền cho Ngân hàng 800.000.000đ nên mới có
sự kiện NĐ làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho BĐ dưới hình
thức tặng cho. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của NĐ tuyên bố hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất là vô hiệu; Viện kiểm sát nhân dân quận T kháng nghị
từ phản ánh thực tế nên Ủy ban nhân dân tỉnh CM đã chủ trì các cuộc họp với các
cơ quan như Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án, Thi hành án… để tìm cách hạn chế và
giải quyết, xử lý những tranh chấp liên quan đến các hợp đồng giả tạo.
Trường hợp hợp đồng giả tạo có tranh chấp phát sinh, thì khi Tòa án giải
quyết cũng cần phải căn cứ vào thực tế hai bên đã giao kết thực hiện hợp đồng và
các chứng cứ để chứng minh cho việc thực hiện hợp đồng. Chẳng hạn như hợp đồng
9
Bản án sơ thẩm số 750/2015/DSPT ngày 25/6/2016 TAND Thành phố Hồ Chí Minh.
13
được ký kết giá trị là 50.000.000đ nhưng thực chất đã giao nhận 500.000.000đ, sau
đó phát sinh tranh chấp thì căn cứ vào hợp đồng giao kết, giá trị thực tế của hợp
đồng và hai bên đã tiến hành giao nhận tiền như thế nào, chứng cứ nào chứng minh
cho việc giao nhận…chỉ khi nào hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo
đức xã hội, giả tạo…thì hợp đồng mới vô hiệu.
1.4. Hợp đồng giả tạo, vấn đề pháp lý cần được nghiên cứu.
Trong xã hội đã và đang tồn tại nhiều hợp đồng giả tạo như nêu trên thì xã
hội đó có phát triển hài hòa lợi ích hay không, hay mang đến những bất ổn về tình
hình kinh tế, chính trị. Một điều thực tế là khi đã thực hiện những hợp đồng về dân
sự, nói đến hợp đồng thì gắn với quyền lợi và nghĩa vụ của các bên, khi một bên vi
phạm thì phát sinh tranh chấp. Nếu có nhiều tranh chấp mà tranh chấp này lại liên
quan đến hợp đồng thật và hợp đồng giả thì quá trình giải quyết đương nhiên sẽ có
những cách thức giải quyết không giống nhau, do tùy vào cách thức giao dịch và tài
liệu chứng minh cho việc thực hiện giao kết hợp đồng, việc giải quyết các loại tranh
chấp không giống nhau dẫn đến tình trạng bất ổn cho xã hội. Như vậy câu hỏi đặt ra
là liệu những quy định của pháp luật hiện nay có gì chưa rõ ràng hay đã rõ ràng
2.1.1 Khái niệm hợp đồng giả tạo.
Hợp đồng: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, chỉ khi có sự tự nguyện thỏa thuận và thống
nhất ý chí thì lúc này hợp đồng mới được hình thành. Các bên được thiết lập, tự do
thoả thuận hợp đồng nhưng sự tự do ấy phải được đặt trong giới hạn lợi ích của
người khác và trong khuôn khổ pháp luật quy định, phù hợp với lợi ích chung của
toàn xã hội.
Theo quy định của bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Hợp đồng dân sự là
sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”10. BLDS năm 2015 đã sửa đổi không còn quy định khái niệm hợp đồng dân
sự mà chỉ quy định về hợp đồng như “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chất dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
Như vậy, so với BLDS hiện hành thì BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “Dân
sự” sau hai từ “Hợp đồng”. Việc sửa đổi này xuất phát từ thực tiễn áp dụng vì
BLDS năm 2005 quy định là hợp đồng dân sự nên khi có những tranh chấp phát
sinh thì ngoài quy định tại BLDS này không còn bộ luật nào quy định cụ thể chi tiết
về hợp đồng, kể cả luật chuyên ngành là Luật Thương mại cũng không quy định cụ
thể chi tiết, nên nếu có tranh chấp hợp đồng thương mại, hợp đồng đầu tư… thì áp
dụng thực tiễn có khó khăn, đã không phải là hợp đồng dân sự nên chúng sẽ không
chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự hiện hành. Cho nên, quy định mới về khái
niệm hợp đồng theo BLDS năm 2015 là hợp lý, phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp
luật.11
Giả tạo: Là cách thức thực hiện của một hay nhiều người tiến hành làm việc
nào đó không được thật.
Hợp đồng là thỏa thuận phải gặp và diễn ra hằng ngày trong cuộc sống đối với tất cả
các chủ thể, do vậy việc nắm rõ bản chất và cách thức vận dụng là hết sức cần thiết
để bảo vệ quyền và lợi ích của tất cả các chủ thể khi tham gia hợp đồng hằng ngày.
Một hợp đồng khi hai bên tiến hành giao kết thì nhất định phải có tên gọi. Khi hợp
Điều 388 BLDS năm 2005.
Hồng phong- Điểm mới về hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2015, />10
Theo từ điển tiếng Việt “Tranh chấp là sự tranh đấu, giằng co khi bất đồng ý
kiến giữa hai bên”12.
Theo tiến sĩ Đào Văn Hội “Tranh chấp, hiểu theo nghĩa khái quát nhất đó là
những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào
các quan hệ pháp luật”13.
Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiêng Việt năm 2000, NXB.Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
Đào Văn Hội (2004), Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.10.
12
13
17
Theo BLDS “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”14.
Hiện nay do chưa có khái niệm về tranh chấp hợp đồng, cũng như tranh chấp
về hợp đồng giả tạo, tuy nhiên có thể qua khái niệm tranh chấp và khái niệm về hợp
đồng, hợp đồng giả tạo mà tác giả đã tổng kết được để có cách khái quát chung nhất
về tranh chấp hợp đồng. Tranh chấp về hợp đồng là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến
giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoặc tranh chấp của bên thứ ba, liên quan
đến giá trị pháp lý của hợp đồng, việc thực hiện hoặc không thực các quyền và
nghĩa vụ theo hợp đồng. Tranh chấp hợp đồng có các yếu tố sau:
* Có một quan hệ hợp đồng tồn tại giữa các bên tranh chấp.
* Có sự vi phạm hoặc giả thiết là vi phạm nghĩa vụ của một bên làm ảnh
hưởng tới lợi ích của bên kia hoặc việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng
làm ảnh hưởng đến bên thứ ba.
* Có sự bất đồng ý kiến của các bên về sự vi phạm hoặc xử lý hậu quả phát
sinh từ sự vi phạm hợp đồng.
của các bên trong hợp đồng được thỏa thuận là thật, cũng có thể quyền và nghĩa vụ
của các bên phát sinh trong hợp đồng được thỏa thuận là giả.
Ví dụ: Hợp đồng giả là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi
giao kết hợp đồng này thì quyền và nghĩa vụ của hợp đồng thật là hợp đồng vay tài
sản phát sinh, bên vay nhận được vốn vay và bên cho vay nhận được lãi suất như
hai bên thỏa thuận theo hợp đồng vay.
Thứ ba: Hình thức của hợp đồng không có giá trị bắt buộc đối với các bên,
chỉ mang tính hình thức. Hợp đồng bị che giấu mới là hợp đồng thật là hợp đồng mà
các bên mong muốn thực hiện.
Hai bên cùng thỏa thuận hợp đồng thật có thể bằng văn bản hoặc cùng có thể
thỏa thuận bằng lời nói mà không lập thành văn bản, không thông qua cơ quan chức
năng quản lý cùng như không công chứng. Để đảm bảo cho hợp đồng thật được
thực hiện thì hai bên cùng thỏa thuận lập hợp đồng giả tạo, hợp đồng này được thực
hiện bằng văn bản có công chứng, về hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.
Thứ tư: Nội dung của hợp đồng giả tạo thể hiện chủ thể, đối tượng của hợp
đồng, giá trị, phương thức thanh toán…tuân theo quy định của pháp luật, một số
hợp đồng tiến hành thực hiện, một số hợp đồng không tiến hành thực hiện nội dung
của hợp đồng. Một số hợp đồng cả hai bên chủ thể đều thống nhất ý chí, cũng có
một số loại hợp đồng không phải là ý chí của các bên hướng đến, vẫn thể hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên đã quy định cho nhau.
Thứ năm: Mục đích của hợp đồng giả tạo hướng đến là lợi ích của cả hai
bên, chỉ khi mục đích của hợp đồng được chứng minh hoặc được thừa nhận là hợp
pháp, không trái đạo đức xã hội thì hợp đồng dân sự mới phát sinh hiệu lực, qua đó
quyền và nghĩa vụ của các bên mới có thể thực hiện được trên thực tế.
Thứ sáu: Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng giả tạo phải có ít nhất từ hai
bên trở lên, vì hợp đồng là một giao dịch pháp lý song phương hay đa phương. Các
chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp
ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân
sự.
chủ thể giao dịch.
Về hình thức hợp đồng: Thể hiện bằng văn bản, một số hợp đồng có công
chứng, chứng thực, đúng trình tự luật định.
Về nội dung: Những thỏa thuận trong hợp đồng được thực hiện, các bên chủ
thể trong hợp đồng đều thống nhất về mặt ý chí.
Ví dụ: Người nước ngoài mua đất tại Việt Nam, nhờ người Việt Nam đứng
tên, trong đó chủ thể trong hợp đồng chỉ đứng tên thay cho người thứ ba, thực tế