VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HUY HÙNG PHONG
HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI - NĂM 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HUY HÙNG PHONG
HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐẶNG VŨ HUÂN
HÀ NỘI, NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai tại Tịa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh ....................... 47
Kết luận chương 2 .............................................................................................. 65
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM ........ 67
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật
về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân ở Việt
Nam ...................................................................................................................... 67
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về
hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam ... 72
Kết luận chương 3 .............................................................................................. 77
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- TAND
: Tòa án nhân dân
- TA
: Tòa án
- VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
: Bộ Tư pháp
- GCN
: Giấy chứng nhận
- TTLT
: Thông tư liên tịch
- QĐ
: Quyết định
- GQTC
: Giải quyết tranh chấp
- HĐXX
: Hội đồng xét xử
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Bảng số liệu thống kê công tác giải quyết các tranh chấp tại
Tịa án nhân dân quận Bình Tân từ 2015-2019;
Bảng 2: Bảng số liệu thống kê các tranh chấp đất đai được hòa giải ở
cấp sơ thẩm tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân từ 2015-2019;
Bảng 3: Bảng thống kê kết quả hòa giải các tranh chấp đất đại ở cấp sơ
quá trình tố tụng dân sự và đồng thời là phương thức giải quyết tranh chấp đất
đai có hiệu quả mà khơng cần phải thực hiện việc xét xử. Về bản chất, nó là
biện pháp hòa giải nhưng do thẩm phán trực tiếp thực hiện và được bảo đảm
thực thi như một quyết định của Tòa án. Ở giai đoạn hiện nay, khi đời sống,
kinh tế, xã hội ngày càng phát triển sẽ kéo theo nhiều tranh chấp, phức tạp
phát sinh trên nhiều lĩnh vực, trong đó tranh chấp đất đai là một điển hình.
Thực trạng này địi hỏi hệ thống pháp luật áp dụng giải quyết cần phảiđược bổ
sung và hồn thiện. Vì vậy, đặt vấn đề nghiên cứu các quy định pháp luật về
hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và thực trạng giải quyết tranh chấp
đất đai thông qua hòa giải tại Tòa án nhân dân để đề xuất những giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích cho cơng dân là vấn đề
có tính cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Hòa giải trong
giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Bình
Tân, thành phố Hồ Chí Minh”làm Luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu và xuất phát từ nhu cầu thực tế để giải quyết tranh chấp
đất đai, trong thời gian qua đã có một số tác giả có các cơng trình nghiên cứu
khoa học đề cập và nghiên cứu về hòa giải tranh chấp đất đai. Cụ thể:Các
cơng trình nghiên cứu, khóa luận, luận văn, luận án chuyên đề như:
Sách chuyên khảo “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt
Nam hiện nay ” do TS. Phạm Thị Hương Lan biên soạn;
Luận án Tiến sĩ luật học“Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam - Cơ sở lý luận và thực tiễn”, của tác giả Trần Văn Quảng, Đại
học Luật Hà Nội, năm 2008;
Luận văn Thạc sĩ luật học “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai” của tác giả Nguyễn Thị Hảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2014;
thực tiễn pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND,
từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm ở Việt
Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên
cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về hòa giải trong giải
quyết tranh chấp đất đai tại TAND;
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh
chấp đất đai tại TAND cấp sơ thẩm và đánh giá thực trạng thi hành chế định
pháp luật này tại TAND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh;
- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp
đất đai tại TAND cấp sơ thẩm từ thực tiễn TAND quận Bình Tân, thành phố
Hồ Chí Minh.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượngnghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn
pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đaitại TAND; các quy
định pháp luật của Việt Nam hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp
đất đai tại TAND; thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết
tranh chấp đất đai tại TAND quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, Luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn
pháp luật và thực tiễn tổ chức hoạt động hòa giải trong giải quyết tranh chấp
đất đai tại TAND cấp sơ thẩm qua thực tiễn của TAND quận Bình Tân, thành
phố Hồ Chí Minh. Từ đó mở rộng phạm vi nghiên cứu hoạt động hòa giải các
dựng các luận cứ khoa học trong q trình hồn thiện những vấn đề lý luận
pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND cấp sơ
thẩm ở Việt Nam hiện nay;
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giúp chính
quyền và các cơ quan ban ngành nghiên cứu hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại
TAND cấp sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về hòa giải trong giải quyết
tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hòa
giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân,
thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hồn thiện pháp luật, nâng cao
hiệu quả hịa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân ở
Việt Nam.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Một số vấn đề về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hòa giải trong giải quyết tranh
chấp đất đai
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách, pháp luật đất đai
hữu đối với đất đai” [31]. Cịn theo giáo trình của Trường Đại học Luật thành
phố Hồ Chí Minh ghi nhận: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn
giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử
dụng đối với một hoặc những thửa đất nhất định. Tranh chấp đất đai có thể
bao hàm cả tranh chấp về địa giới các đơn vị hành chính,…”[31].
Như vậy có thể nói rằng đứng trên các quan điểm khác nhau thì khái
niệm về tranh chấp đất đai được hình thành và được diễn giải khác nhau. Vì
vậy, khái niệm tranh đất đai hiện nay rất đa dạng trong cách hiểu, quy định
pháp luật và thực tiễn đời sống.
Khoản 24 Điều 3 LĐĐ 2013 đã quy định về khái niệm tranh chấp đất
đai như sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người
sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Có thể thấy,
khái niệm tranh chấp đất đai quy định trong LĐĐ là một khái niệm mang tính
pháp lý, bao trùm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản
gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính. Đất đang có tranh chấp về
tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính. Đất đang có tranh
chấp được hiểu là loại đất mà giữa người sử dụng hợp pháp đất đó với các cá
nhân khác, với Nhà nước hoặc giữa những người sử dụng chung mảnh đất đó
với nhau đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất,
về ranh giới, mục đích sử dụng đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong
quá trình sử dụng đất,… Đất đang có tranh chấp cũng có thể hiểu là đất tranh
chấp giữa các chủ thể chưa xác định được chủ thể nào là người sử dụng đất
hợp pháp [19].
Ở nước ta hiện nay, đất đai là tài nguyên đặc biệt thuộc quyền sở hữu
của toàn dân, người dân chỉ có quyền sử dụng đất do Nhà nước cấp đất, giao
đất và cho th đất, chứ khơng có quyền sở hữu đối với đất. Đất đai thuộc
quyền sở hữu chung của toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Đất đai
là tài nguyên và là nguồn lực quan trọng trong phát triển đất nước, đóng vai
Theo Từ điển Luật học ghi nhận: “Hòa giải là sự chấm dứt việc xích
mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự
trung gian của một người khác. Hịa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết
giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường
hợp chỉ vì mâu thuẩn nhỏ mà biến thành việc hình sự”[12].
Từ cách hiểu về hịa giải, có thể thấy rằng, hịa giải tranh chấp đất đai
được hiểu theo nghĩa là hòa giải các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng
đất. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải
quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó bên thứ ba độc
lập giữ vai trị trung gian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm
những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích
liên quan đến quyền sử dụng đất và thương lượng với nhau về việc giải quyết
quyền lợi của mình.
1.1.1.3. Đặc điểm của hịa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Có thể nói, tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân
sự, do có đối tượng của tranh chấp là quyền sử dụng đất. Do vậy, bên cạnh
những đặc điểm chung của hịa giải tranh chấp dân sự, thì việc hịa giải tranh
chấp đất đai cịn có những đặc trưng riêng như đối tượng của tranh chấp gắn
liền với quyền sử dụng đất nên việc hòa giải thường phải do cơ sở hoặc Tịa
án nơi có tài sản tranh chấp tiến hành; đối tượng của tranh chấp có thể trải qua
nhiều biến động theo thời gian với các chính sách pháp luật khác nhau, do
vậy, nội dung của tranh chấp thường phức tạp, đòi hỏi người hòa giải phải
nắm vững nguồn gốc, q trình sử dụng đất và chính sách pháp luật về đất đai
trong từng thời kỳ lịch sử. Cụ thể:
(i) Việc hòa giải được tiến hành tại địa bàn nơi có đất tranh chấp. Tranh
chấp đất đai ln gắn liền với quyền sử dụng đất nên việc hòa giải thường
phải được tiến hành tại nơi có tài sản tranh chấp. Thơng thường tổ hịa giải,
chính quyền địa phương hoặc Tịa án nơi có tranh chấp đất đai sẽ có điều kiện
loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của LĐĐ 2013 gồm: Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc
có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15/10/1993; giấy
tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với
đất; giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở
thuộc sở hữu nhà nước theo quy đinh pháp luật,…Và tranh chấp về tài sản
gắn liền với đất thì đương sự gửi đến TAND giải quyết.
1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của hịa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai
Trong các phương thức giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và tranh
chấp trong lĩnh vực đất đai nói riêng thì giải quyết bằng hịa giải là hiệu quả
nhất, tốt nhất, nhanh nhất và tránh lãng phí nhất. Bởi hịa giải thành sẽ chấm
dứt mâu thuẫn, xung đột hoặc xích mích, kết thúc tranh chấp sớm, ổn thỏa
cũng như sau này khơng có sự phản đối, khiếu nại, khiếu kiện về sau.
Hiện nay thì tranh chấp đất đai thường xuyên diễn ra, nhiều tranh chấp
hết sức phức tạp, giá trị tranh chấp lớn, nhiều vấn đề phát sinh và liên quan
đến nhiều người, nhiều tổ chức, quy trình thủ tục giải quyết thì phức tạp và có
thể kéo dài thời gian. Trong khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp đất đai thì cịn nhiều khó khăn và hạn chế như: quy định tố
tụng, năng lực, trình độ chun mơn, cơ sở vật chất, đội ngủ nhân sự hạn
chế,… Vì vậy, hịa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai đóng vai trị quan
trọng, đem lại nhiều hiệu quả tích cực vì:
- Hịa giải giúp gìn giữ mối gắn kết, củng cố phát huy những tình cảm
và đạo lý truyền thống tốt đẹp của gia đình, cộng đồng;
- Giúp rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, chi phí, giảm tải áp lực
giải quyết án cho TAND trong giải quyết các tranh chấp đất đai;
- Giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả nhất khi được sự đồng thuận của
các bên tham gia tranh chấp và tránh được những khiếu nại, khiếu kiện về
biên bản cho Phịng Tài ngun & Mơi trường hoặc Sở Tài ngun & Môi
trường để được thông qua và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai mới.
+ Nếu hòa giải khơng thành: Đối với tranh chấp có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì các bên yêu cầu TAND giải quyết. Cịn nếu khơng có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì u cầu UBND có thẩm quyền giải
quyết hoặc khởi kiện ra TAND theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
Thứ hai là giải quyết tranh chấp: Tùy vào từng vụ việc mà sẽ do
UBND cấp huyện hay UBND cấp tỉnh giải quyết:
+ UBND cấp huyện: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân,
cộng đồng dân cư với nhau thì chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết. Nếu
khơng đồng ý với quyết định thì có quyền khiếu nại đến chủ tịch UBND cấp
tỉnh hoặc khởi kiện tại TAND theo quy định pháp luật về tố tụng hành chính.
+ UBND cấp tỉnh: Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ
chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngồi, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngồi thì chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết. Nếu không
đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên & Môi trường hoặc khởi kiện tại TAND theo quy định pháp luật về tố
tụng hành chính
Như vậy có hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là theo thủ tục
hành chính tại UBND và theo thủ tục tố tụng dân sự tại TAND và cả hai hình
thức giải quyết này đều có quy định ưu tiên phải thơng qua thủ tục hịa giải
tranh chấp đất đai. Đối với giải quyết tranh chấp đất đai bằng việc khởi kiện
ra TAND, thì TA sẽ tiến hành cho các bên hòa giải, nếu hòa giải thành TA sẽ
lập biên bản công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cịn nếu hịa giải
khơng thành sẽ tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
1.2. Một số vấn đề về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
tại Tòa án nhân dân
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của hòa giải trong giải quyết tranh
hợp đương sự tự thỏa thuận là việc các bên chủ động thương lượng, thỏa
thuận mà khơng có sự tham gia của Tòa án.
+ Kết quả hòa giải được Thẩm phán lập biên bản, nếu các đương sự
thỏa thuận được với nhau về tồn bộ nội dung vụ án thì Thẩm phán ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Còn trong trường hợp các
bên tự hòa giải và khơng u cầu Tịa án tiếp tục giải quyết thì Tịa án có thể
ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Hòa giải tranh chấp đất đai được tiến hành trên cơ sở tôn trọng quyền
định đoạt của các đương sự có tranh chấp. Mặc dù hịa giải tranh chấp đất đai
là một hoạt động do Tòa án tiến hành, nhưng về bản chất hòa giải vẫn dựa
trên cơ sở tự thỏa thuận của các đương sự. Tòa án chỉ giữ vai trị trung gian
hướng dẫn, chủ trì và ghi nhận việc hịa giải. Chỉ có các đương sự là các bên
trong quan hệ tranh chấp mới có quyền thỏa thuận, thương lượng với nhau về
tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ tranh chấp, bởi đương sự là
những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp. Họ là người hiểu
rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ. Khi tham gia vào q trình hịa giải
tranh chấp đất đai, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau
để giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự
nguyện ý chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của
các đương sự đều bị coi là trái pháp luật và không được cơng nhận.Trong q
trình các bên thỏa thuận, hịa giải, Tịa án khơng được can thiệp vào ý chí tự
nguyện của bất kỳ bên nào hoặc cưỡng ép, bắt buộc đương sự thỏa thuận với
nhau về giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ.
1.2.2. Bản chất pháp lý của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai tại Tòa án nhân dân
Nội dung cơ bản pháp lý của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai tại TA dựa trên cơ sở pháp lý: LĐĐ 2013; Nghị quyết 04/2017/NQHĐTP; BLTTDS 2015; và Luật Hòa giải, đối thoại tại TA. Nội dung pháp lý
như sau:
giải quyết vụ án dân sự (trong đó có tranh chấp đất đai) theo quy định của Bộ
luật này.
Hoạt động hòa giải được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm vụ tranh
chấp đất đai. Tuy vậy, theo các Điều 246, 278 BLTTDS thì tại phiên tịa sơ
thẩm, phúc thẩm, Tịa án cũng có trách nhiệm phải hỏi các đương sự có thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp đất đai hay không? Nếu
các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp đất
đai, thì Tồ án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Như vậy, việc hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc, trừ
những việc khơng hịa giải được hoặc pháp luật quy định khơng được hịa giải
.Quy định này xuất phát từ tầm quan trọng của hịa giải. Nếu hịa giải thành
cũng có nghĩa là Tịa án đã hoàn thành việc giải quyết vụ tranh chấp đất
đaimà khơng cần mở phiên tịa.
Trong thời gian qua, Nhà nước ln khuyến khích các bên tranh chấp
đất đai tự hịa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thơng qua hòa giải ở cơ
sở và hòa giải ở TAND. Hiện nay, cả nước đã thực hiện thí điểm thành lập
trung tâm hòa giải, đối thoại tại 16 tỉnh, thành phố và đã đem lại nhiều hiệu
quả trong công tác giải quyết tranh chấp, giảm áp lực cho TA. Theo đề án thí
điểm, trung tâm hịa giải đối thoại có nhiệm vụ thực hiện hòa giải các tranh
chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, hơn nhân gia đình, lao động; đối thoại
giải quyết các khiếu kiện hành chính trước khi TA thụ lý. Theo Luật Hòa giải,
đối thoại tại TA, trung tâm hòa giải, đối thoại được đặt trụ sở tại các TA,
nhưng khơng phải là một tổ chức có cơ cấu, bộ máy riêng, không thuộc biên
chế của TAND. Đây là một tổ chức tự quản của các hòa giải viên, đối thoại
viên, có chức năng điều phối hoạt động hòa giải vụ việc dân sự, đối thoại
khiếu kiện hành chính, được TAND hỗ trợ một số hoạt động. Về kinh phí
hoạt động của trung tâm này, các quy định sẽ do TAND tối cao và UBND hỗ
trợ. Hòa giải viên, đối thoại viên chính là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra