Những bất cập và đề xuất trong pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai - Pdf 49

NHÓM 3
Đề tài:Những

bất cập và đề xuất trong pháp luật về giải quyết
tranh chấp đất đai

NHỮNG BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI HIỆN NAY.
Khái niệm tranh chấp đất đai:
Khái niệm tranh chấp đất đai có sự khác biệt giữa hai điều luật trong cùng bộ
Luật Đất đai 2013. Nếu Khoản 24 Điều 3 quy định với phạm vi rộng “tranh chấp
đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc
nhiều bên trong quan hệ đất đai” thì Điều 203 thu hẹp tranh chấp đất đai xảy ra
trong một số trường hợp cụ thể là tranh chấp đất đai giữa những chủ thể có giấy tờ
và tranh chấp giữa những chủ thể không có giấy tờ theo quy định tại Điều 100. Sự
khác nhau đó dẫn đến tình trạng phân loại tranh chấp để xác định cơ quan có thẩm
quyền giải quyết tương đối khó khăn và gây nhầm lẫn.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
Tại Khoản 2 Điều 203 Luật Đất Đai 2013 quy định đương sự không có giấy
chứng nhận hoặc không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 thì lại được có hai sự
lựa chọn giải quyết tranh chấp là khiếu kiện lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền
hoặc khởi kiện ra Tòa án. Trong khi đó tại Khoản 1 điều này lại quy định đương sự
có giấy chứng nhận đầy đủ lại chỉ có quyền khởi kiện ra Tòa án. Như vậy, liệu rằng
lợi ích của những đương sự có giấy chứng nhận và các giấy tờ theo Điều 100 có bị
hạn chế không?Và liệu điều này phải chăng đang ngầm khuyến khích đương sự
không hoàn tất các loại giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất?
Việc quy định UBND các cấp vừa là cơ quan quản lý, vừa thực hiện giải
quyết tranh chấp dễ nảy sinh xu hướng vi phạm nguyên tắc khách quan, công bằng,
đặc biệt trong trường hợp tranh chấp có liên quan từ các quyết định hành chính.
Vậy lợi ích của người sử dụng đất sẽ như thế nào?
Thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai.

đất đai theo hướng phù hợp với Điều 203 để dễ dàng trong việc giải quyết những
vụ tranh chấp đất đai.
Thứ hai, nên đổi ngược lại thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa
Khoản 1 và Khoản 2 Điều 203 Luật đất đai để khuyến khích người dân hoàn thành
thủ tục giấy tờ cần thiết, đảm bảo đúng luật nhằm giảm khó khăn trong quá trình
giải quyết.


Thứ ba, sửa đổi, bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời
hạn, thời hiệu giải quyết khiếu nại tố cáo, tranh chấp đất đai, bảo đảm thống nhất,
đồng bộ giữa Luật đất đai, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật tố tụng hành chính, Bộ
luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan. Cần khẩn trương hướng dẫn Luật
đất đai bảo đảm cụ thể, khả thi.
Thứ tư, cần khẩn trương kiện toàn về tổ chức và nâng cao trách nhiệm của
các cơ quan tiếp dân từ Trung ương đến địa phương. Tăng cường trách nhiệm, tính
chủ động của người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong việc tiếp công dân và
giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai để giải quyết kịp thời, dứt điểm, công bố
công khai kết quả giải quyết, không để khiếu kiện vượt cấp, diễn biến phức tạp,
khiếu kiện đông người; chịu trách nhiệm về việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố
cáo.
Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ của các cấp,
các ngành trong giải quyết khiếu nại tố cáo, khắc phục tình trạng chuyển đơn thư
của công dân lòng vòng hoặc chậm giải quyết, né tránh trách nhiệm. Thường xuyên
kiểm tra, thanh tra, phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, vi phạm trong thực hiện
các quy định về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trong giải quyết
các thủ tục hành chính về đất đai.
Thứ sáu, chúng ta khuyến khích các bên hòa giải, nhưng không nên quy
định đây là thủ tục bắt buộc phải thực hiện trước khi khởi kiện ra tòa án (như quy
định tại Đ 203). Tranh chấp đất đai là việc dân sự, vì vậy, nên tôn trọng quyền tự



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status