Khoá luận tốt nghiệp Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại tại Tòa án Thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình - Pdf 35

LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Kinh tế - Luật trường đại học Thương Mại và được
sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn TS. Đinh Thị Thanh Nhàn em đã thực hiện đề tài
nghiên cứu“Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại tại Tòa
án - Thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo đã
tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu và rèn luyện
ở trường Đại học Thương Mại.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn TS. Đinh Thị Thanh Nhàn đã tận
tình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện khóa luận này.
Trong quá trình thực tập, cũng như là trong quá trình làm bài báo cáo thực tập,
trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không
thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp Thầy, Cô để
bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Trong bối cảnh đất nước đang phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội;
hoạt động kinh doanh thương mại của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại những tác động cũng như đóng góp đáng kể cho sự
phát triển chung của đất nước. Sự phát triển của các thành phần kinh tế, sự gia tăng số
lượng các doanh nghiệp đã và đang tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn
nhưng cũng không kém phần phức tạp và cạnh tranh gay gắt. Các tranh chấp kinh
doanh, thương mại cũng từ đó mà phát sinh với số lượng ngày càng tăng qua các năm
cùng với tính chất phức tạp của nó. Vì vậy việc giải quyết các tranh chấp phát sinh là

Trong thời gian thực tập tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, em đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía cán bộ của cơ quan đã tạo điều kiện cho em có thể
thực sự tham gia vào hoạt động thụ lí đơn và xét xử các vụ án dân sự, hình sự và kinh
doanh thương mại. Đây có thể xem như một tiền đề về kiến thức thực tế quan trọng để
em bắt đầu sự nghiệp của mình. Chính từ thực tế này, em quyết định chọn đề tài “Pháp
luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại tại Tòa án - Thực tiễn thực
hiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình” là đề tài khóa luận của mình.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Theo số liệu đánh giá của ngành Tòa án, hàng năm mỗi đơn vị Tòa án cấp quận
huyện thụ lý hàng trăm vụ án lớn nhỏ liên quan đến tranh chấp kinh doanh thương
mại. Hầu hết là các tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp hợp đồng tín
dụng, tranh chấp hợp đồng dịch vụ, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán…Sự gia
tăng của các tranh chấp như trên cũng như những loại án đặc thù trong lĩnh vực kinh
doanh thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự không ngừng nghiên cứu
và làm mới các yêu cầu luật pháp cũng như chuyên môn trong lĩnh vực giải quyết
tranh chấp loại này để giải quyết ổn thỏa, đảm bảo quyền lợi cho các bên là việc làm
không phải đơn giản. Để đáp ứng nhu cầu này, đã có rất nhiều các công trình nghiên
cứu và nhiều bài viết về vấn đề này. Có thể kể đến là:
- Chuyên đề “ Thực trạng giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Tòa Kinh tế - Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam” được đăng tại thư viện chia sẻ luận
văn đăng ngày 11/12/2013.
- Chuyên đề “ Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Toà kinh
tế - Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ” đăng tại tài liệu – ebook ngày 22/01/2014.
- Tiểu luận môn học luật Kinh Doanh với đề tài: “Giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại bằng tố tụng tòa án” của nhóm lớp: MBA11B Thành viên
nhóm 13: 1) Nguyễn Trung Kiên – MBAB11026 2) Ngô Huỳnh Kỳ – MBAB11027 3)
Bùi Thành Kỷ – MBAB11028 4) Huỳnh Thị Bích Loan – MBAB11032 5) Trần Ngọc
Minh Thư – MBAB11044 Tp. HCM, tháng 12 năm 2011.
- Luận văn thạc sĩ học của Đinh Thị Trang thuộc Khoa luật – Đại học Quốc gia

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình
4.2 Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu một cách tổng quát
các vấn đề lý luận cơ bản trong quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại Tòa án (chủ yếu dựa trên văn bản pháp luật hiện hành là bộ luật
Tố tụng dân sự 2004 và các văn bản pháp lý có liên quan cùng với thực tiễn hoạt động
xét xử các loại án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân hiện nay). Từ đó, có
phương hướng đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết các vụ án
tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án hiện nay. Mục tiêu cụ thể như sau:
- Đánh giá thực trạng của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại bằng thủ tục tố tụng tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay.

5


- Đánh giá được thực trạng cũng như thực tiễn áp dụng áp dụng pháp luật trong
việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Thái
Bình.
- Tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng giải quyết
án kinh doanh thương mại tại Tòa án.
Qua đó tìm hiểu, phát hiện ưu và nhược điểm của thủ tục này để các cơ sở kinh
doanh thương mại có được sự lựa chọn tốt nhất trong việc giải quyết các tranh chấp
của mình, nhanh chóng khắc phục những hạn chế bất cập làm ảnh hưởng đến quá trình
sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng hoàn thiện pháp luật
tố tụng hiện nay ở Việt Nam để phục vụ tốt hơn trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình
- Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng dữ liệu giai đoạn
01/10/2010 đến 28/11/2015, đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2020.

sở lý luận khoa học hay luận cứ để đi sâu vào vấn đề giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại
- Thống kê các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổng
quan quy định về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại như: luật Thương
mại 2005, bộ luật Dân sự 2005, các văn bản pháp luật có liên quan từ đó đưa ra một số
nội dung pháp lý về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trong chương 1về:
khái niệm, nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mai, các
nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mai tại Tòa án.
- Thống kê sổ sách, số liệu có liên quan tới giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, để làm rõ thực trạng áp dụng
pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành
phố Thái Bình.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp trình bày các nội dung chính sau: ngoài phần mở đầu, kết
luận và tài liệu tham khảo, nội dung được trình bày theo 3 chương:
Chương I: Pháp luật về việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
Ở nội dung chương 1 chính là chương tổng quan về các quy định của pháp luật
liên quan tới việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại. Trong chương này,
phần lớn là tìm hiểu lý luận chung về tranh chấp thương mại, các quy định của pháp
luật về giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án. Tìm hiểu một số những nguyên
tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại và những quy định
về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án trong giải quyết các vụ tranh chấp.
Chương II: Thực trạng giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án Toà án nhân dân thành phố Thái Bình
Nội dung cơ bản của chương 2 đó là tìm hiểu về tình hình phát sinh tranh chấp
kinh doanh thương mại trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Thái Bình và
thực trạng giải quyết các tranh chấp đó tại tòa án nhân dân thành phố Thái Bình. Qua
quá trình giải quyết rút ra được những mặt tích cực mà hệ thống pháp luật mang lại

7

Từ các khái niệm trên có thể khái quát tranh chấp trong hoạt động kinh doanh
thương mại như sau: Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại là những mâu
thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên
quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại. Và có thể định nghĩa một cách
ngắn gọn đối với tranh chấp kinh doanh thương mại như sau: “Tranh chấp kinh doanh
thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa
các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động kinh doanh thương mại”.
Trong xu thế hội nhập phát triển, các chủ thể tham gia hoạt động giao thương
ngày càng đa dạng, tranh chấp về kinh doanh thương mại cũng trở nên phức tạp. Do
đó, việc xác định rõ các quan hệ tranh chấp trong kinh doanh thương mại là yếu tố cực
kỳ quan trọng trong việc áp dụng luật. Để xác định được vụ việc tranh chấp về kinh
doanh thương mại ta cần làm rõ chủ thể của hoạt động kinh doanh thương mại và bản
chất của tranh chấp kinh doanh thương mại.
1.2.

Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại Tòa án
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại tại Tòa án
Hệ thống pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra hành lang pháp lí để
công ty, đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước được tạo lập, vận hành và phát
triển, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua

9


các văn bản pháp luật như bộ luật Dân sự, luật Thương mại, luật Doanh nghiệp, luật
Lao động, bộ luật Tố tụng dân sự, luật Trọng tài thương mại và các văn bản hướng dẫn
có liên quan.
Để nền kinh tế thị trường vận hành hiệu quả, hoạt động kinh doanh thương mại


10


-

Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, Nhà nước bảo đảm các quyền, lợi
ích hợp pháp của mọi chủ thể. Khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm thì theo thủ tục do pháp luật quy định chủ thể đó được khởi
kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ. Và bộ luật Tố tụng dân sự 2004 là cơ sở
pháp lý quan trọng để Tòa án giải quyết vụ án các vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân. Điểm đặc thù khi giải quyết tranh chấp thương
mại tại Toà án là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản được quy định tại Chương II ,
Chương III bộ luật Tố tụng dân sự, từ Điều 3 đến Điều 45 trong đó có nguyên tắc thẩm
phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 12). Dựa
vào nội dung các tranh chấp thương mại mà Toà án có thẩm quyền giải quyết theo quy
định tại Điều 30 bộ luật Tố tụng dân sự 2004. Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 cho đến
nay thì những quy định tại bộ luật này vẫn đang phát huy tác dụng tích cực của nó.
-

Luật thương mại 2005

Bên cạnh pháp luật về thủ tục tố tụng trong bộ luật Tố tụng dân sự 2004 là nguồn
luật quan trọng để Toà án áp dụng khi xét xử tranh chấp đưa đến tại toà án, thì đối với
hoạt động quản lí lĩnh vực về thương mại tại tòa án nhân dân thành phố Thái Bình còn
phải tuân theo quy định tại luật Thương mại 2005. Luật thương mại 2005 là luật riêng
điều chỉnh cho hoạt động thương mại. Đối với những vấn đề phát sinh trong tranh
chấp từ quan hệ thương mại thì thứ tự ưu tiên áp dụng luật là: Luật chuyên ngành và

xem xét tới các quy định trong các bộ luật và các văn bản có liên quan như luật Kinh
doanh bất động sản 2014; luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010); luật Sở hữu
trí tuệ 2005; luật Xây dựng 2014; luật Doanh nghiệp 2014; luật Đầu tư 2014; luật Đầu
tư công 2014; luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) để
giải quyết vụ án một cách triệt để nhất.
1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh,

thương mại tại Tòa án
1.2.2.1 Phân loại các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
Trong nền kinh tế thị trường mở, nhiều thành phần các quan hệ kinh doanh rất đa
dạng và phức tạp. Tranh chấp kinh tế cũng vì vậy mà phức tạp không kém. Việc phân
loại tranh chấp kinh doanh, thương mại giúp chúng ta đơn giản hoá được chúng và có
cách giải quyết phù hợp nhất. Có nhiều cách để phân loại các tranh chấp kinh doanh
thương mại, ví dụ như dựa vào lĩnh vực tranh chấp, chủ thể tham gia quan hệ hợp
đồng kinh tế.
Theo quy định tại Điều 29 bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì những loại việc tranh
chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án được chia thành các nhóm:
-

Nhóm thứ nhất, các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa
cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Theo
quy định của pháp luật thì tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức phát sinh từ hoạt
động thương mại thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án khi những tranh chấp đó có đủ
3 điều kiện đó là: các tranh chấp này phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại
phải có mục đích lợi nhuận; các tranh chấp phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức với
nhau đồng thời các cá nhân, tổ chức phải là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật; các tranh chấp thuộc 14 lĩnh vực được quy định tại Khoản
1 Điều 29 bộ luật Tố tụng dân sự 2004. Các hoạt động được ghi nhận tại Khoản 1 Điều

-

công ty có tranh chấp với nhau, nhưng tranh chấp đó không liên quan đến việc thành
lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức
của công ty mà chỉ liên quan đến các quan hệ khác như quan hệ lao động, quan hệ dân
sự (ví dụ tranh chấp về bảo hiểm xã hội, về trợ cấp cho người lao động, về hợp đồng
lao động,…) thì tranh chấp đó không phải là tranh chấp về kinh doanh, thương mại
quy định tại Khoản 3 Điều 29 bộ luật Tố tụng dân sự 2004.
Cuối cùng là, các tranh chấp kinh doanh thương mại khác mà pháp luật có quy định
Hiện nay các tranh chấp về kinh doanh, thương mại rất đa dạng và phong phú,
khó có thể liệt kê hết được. Các tranh chấp khác trong kinh doanh thương mại có thể ví
dụ như tranh chấp phát sinh từ quan hệ ủy thác, giám định, đấu giá, đấu thầu, hay
những tranh liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh…
Việc phân loại cụ thể chi tiết từng loại tranh chấp kinh doanh, thương mại giúp
cho Tòa án có thể nhận dạng vụ tranh chấp một cách dễ dàng nhằm đánh giá đúng thực
chất của các vụ tranh chấp, trên cơ sở đó mà giải quyết chúng có hiệu quả cao nhất.
1.2.2.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại
Để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung, kinh doanh thương mại nói riêng,
Tòa án phải dựa vào yêu cầu cụ thể của người khởi kiện để xác định quan hệ pháp luật
mà đương sự tranh chấp. Từ đó, đối chiếu với các quy định về thẩm quyền của Bộ luật

13


Tố tụng dân sự để xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự có thuộc thẩm quyền của
Tòa án hay không.
Thẩm quyền xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân
thành phố Thái Bình nói riêng hiện nay được phân định theo nhiều tiêu chí: Thẩm
quyền theo việc (phân định thẩm quyền xét xử giữa các cấp Tòa án) và thẩm quyền
theo lãnh thổ (phân định thẩm quyền xét xử của cùng một cấp Tòa án theo tính chất
lãnh thổ), thẩm quyền theo cấp xét xử, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn.

dân cấp huyện.
-

Thẩm quyền theo lãnh thổ

14


Khi đã xác định tranh chấp được giải quyết tại Toà án cấp nào, còn phải xác định
Toà án ở địa phương nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Để tạo điều kiện thuận
lợi cho việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ và thi hành án, Điều 39 bộ luật Tố
tụng dân sự 2004 quy định: “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân
hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết
theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại
các Điều 26, 28, 30 và 32 của bộ luật này; Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với
nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn để giải quyết
những tranh chấp về kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30
và 32 của Bộ luật này; Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất
động sản có thẩm quyền giải quyết”
Như vậy tùy theo từng vụ án, xem xét tới hai bên nguyên đơn và bị đơn mà tòa
án nhân dân thành phố Thái Bình có thẩm quyền giải quyết các vụ án tranh chấp kinh
doanh thương mại theo lãnh thổ.
-

Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn

Trong thực tế, khi xác định thẩm quyền của Toà án theo cấp và theo lãnh thổ sẽ
có trường hợp có nhiều Toà án cùng có thẩm quyền giải quyết một vụ án. Chính vì
vậy, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, tạo điều kiện thuận lợi cho
nguyên đơn khi tiến hành khởi kiện, pháp luật còn quy định nguyên đơn có quyền lựa

thuộc vào ý chí của đương sự từ đó đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự.
Nguyên tắc quyền tự định đoạt giúp đương sự quyết định phương thức giải quyết vụ
việc thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả.
1.3.2

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người. Đó là quyền được xác
lập tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền có
vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau.. Đây là nguyên
tắc cơ bản của pháp luật nước ta, được quy định cụ thể tại điều 16 trong Hiến pháp
2013. Cụ thể tại Điều 16 Hiến pháp 2013 có quy định “1. Mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hóa, xã hội”
Điều 16 được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 52 của Hiến pháp 1992. So với
Hiến pháp 1992, điều này được bổ sung thêm cụm từ “Không ai bị phân biệt đối xử
trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” nhằm làm rõ việc mọi người
đều bình đẳng mọi mặt và không bị phân biệt đối xử với bất kỳ lý do gì. Như vậy, điều
16 quy định rõ hai vấn đề sau: một là, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; hai là,
không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Và không chỉ quy định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đồng thời cũng
khẳng định mọi người đều bình đẳng về mọi mặt và không bị phân biệt đối xử với bất
kỳ lý do gì.
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhất là
trong hoạt động xét xử tại Tòa án. Nguyên tắc này bảo đảm quyền bình đẳng đẳng của
các đương sự trước Tòa án, giúp cho hoạt động xét xử của Tòa án diễn ra thống nhất
đồng bộ và đạt hiệu quả cao, đảm bảo mọi phán quyết của Tòa án khách quan, toàn
diện, đầy đủ, đúng pháp luật, tránh bỏ sót tội phạm và xử oan cho người vô tội.

1.3.3


Quan hệ dân sự là quan hệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau trên cơ sở thỏa thuận
giữa các chủ thể đó. Khi một bên trong quan hệ thực hiện không đúng nội dung thỏa
thuận, xâm phạm đến lợi của bên còn lại thì bên còn lại có quyền yêu cầu bên vi phạm
bồi thường. Việc giải quyết khi một bên có hành vi vi phạm thỏa thuận trước hết do
các bên tự thỏa thuận giải quyết, nếu không thỏa thuận được xảy ra tranh chấp, một
trong các bên có thể khởi kiện đến Tòa án. Trong giải quyết tranh chấp dân sự, Tòa án
trên cơ sở đánh giá các chứng cứ do đương sự cung cấp xem xét yêu cầu của bên nào
phù hợp với quy định của pháp luật sẽ chấp nhận yêu cầu của bên đó. Tuy nhiên, trước
khi mở phiên tòa xét xử vụ án dân sự , Tòa án vẫn tiến hành hòa giải hòa giải và đây là
một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự.

17


Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương
sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự. Sau khi thụ lý vụ án để giải quyết
vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật, giúp đỡ đương sự giải quyết mâu thuẫn,
thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các tranh chấp. Cơ sở của hòa giải là quyền tự
định đoạt của đương sự. Điều 10 bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định, Tòa án có
trách nhiệm hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để đương sự thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết vụ án dân sự. Trong quá trình hòa giải Tòa án giữ vai trò đặc biệt quan
trọng, với tư cách là cơ quan xét xử của nhà nước, tòa án phải chủ động trong việc hòa
giải để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau. Vai trò chủ động này thể hiện ở chỗ
sau khi thụ lý vụ án, tòa án chủ động triệu tập các đương sự đến để hòa giải, tòa án giữ
vai trò trung gian không có quyền thương lượng điều đình mà để đương sự tự thỏa
thuận với nhau về giải quyết vụ án.
Nội dung hòa giải chính là các vấn đề của vụ án cần được các bên thỏa thuận với
nhau để giải quyết, tùy từng vụ án mà nội dung hòa giải sẽ khác nhau. Toà án xem xét
các yêu cầu cụ thể của đương sự trong vụ án phải giải quyết để tiến hành hoà giải từng
yêu cầu theo thứ tự hợp lý.

nước và ngoài nước thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
1.3.6

Nguyên tắc xét xử công khai
Nguyên tắc công khai là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự.
Đảm bảo tính công khai trong hoạt động tố tụng là vấn đề rất được nhà nước quan tâm.
Tư tưởng về tính công khai trong hoạt động tố tụng là vấn đề rất được nhà nước quan
tâm. Tư tưởng về tính công khai trong hoạt động được ghi nhận được nhiều trong
nhiều văn bản pháp luật. Vấn đề đảm bảo tính công khai minh bạch được quy định
xuyên suốt trong hệ thống pháp luật Việt Nam và được cụ thể hóa trở thành một
nguyên tắc quan trọng tại Điều 15 bộ luật Tố tụng dân sự 2004.
Nguyên tắc xét xử công khai có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xét xử, đảm
bảo cho việc xét xử có hiệu quả. Bảo đảm cho nhân dân giám sát được hoạt động xét
xử được đúng đắn, nâng cao tinh thần trách nhiệm của Tòa án cũng như Thẩm phán,
Hội Thẩm nhân dân, Luật sự bào chưa… phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật khi
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Hơn nữa hoạt động xét xử công khai góp phần
vào việc giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của nhân dân, tạo điều kiện
cho tòa án có thể thông qua hoạt động xét xử thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật.

1.4
1.4.1

Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại
Một vụ án dân sự nói chung, một vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại
nói riêng chỉ được bắt đầu nếu có đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện thể hiện ý chí đơn
phương của nguyên đơn mà không cần sự thỏa thuận của các bên như đối với thỏa
thuận trọng tài trong tố tụng trọng tài. Đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ được
nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện đến Tòa án theo những quy định về thẩm quyền

giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Tòa án ra
quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, đồng thời ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án. Nếu các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
toàn bộ vụ án thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

1.4.3

Phiên tòa sơ thẩm
Phiên tòa sơ thẩm diễn biến theo trình tự các công việc: chuẩn bị khai mạc phiên
tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án
và tuyên án.
Bản án và quyết định của phiên tòa sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Đối với
các bản án, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng
cáo. Đối với các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án, thời hạn kháng cáo
là 7 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định. Đơn kháng cáo
được gửi cho Tòa án đã xử sơ thẩm, kèm theo là tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để
chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. Nếu hết thời hạn kháng

20


cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị (của Viện Kiểm sát), bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật.
1.4.4

Thủ tục phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc
kháng nghị. Người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp
được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.


Tổng quan tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại và các nhân
tố ảnh hưởng đến giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân
dân thành phố Thái Bình
2.1.1 Tổng quan tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các tranh chấp về kinh doanh,
thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp, nhiều quan hệ kinh tế cũng mang những
diện mạo sắc thái mới. Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các
tranh chấp kinh tế ngày càng muôn hình muôn vẻ và với số lượng lớn. Ở Việt Nam các
đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án như
một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất
bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hoà giải.
Đảm đương trách nhiệm của mình, trong thời gian qua, Tòa án nhân dân thành
phố Thái Bình đã và đang làm tròn nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của mình một
cách tốt nhất. Trong vài năm trở lại đây, tại Thái Bình, với việc mở rộng các khu công
nghiệp như Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, các cụm công nghiệp Phong Phú…làm
cho quan hệ kinh tế trên địa bàn thành phố ngày càng phức tạp. Sự phát triển không
ngừng của nền kinh tế trên địa bàn thành phố Thái Bình đã dẫn đến sự ra đời hàng loạt
các khu công nghiệp, cụm công nghiệp hoạt động sản xuất với quy mô lớn, tạo một
môi trường kinh doanh năng động, hấp dẫn nhưng cũng đầy những cạnh tranh gay gắt.
Với tiềm năng kinh tế của mình, thành phố Thái Bình ngày càng phát triển, khiến nơi
đây lọt vào tầm ngắm chiến lược của các nhà đầu tư lớn, hình thành những quan hệ
kinh tế đa dạng phức tạp. Và cũng từ đây, các tranh chấp kinh doanh thương mại phát
sinh giữa các chủ thể ngày càng nhiều, đặt ra yêu cầu giải quyết lớn cho Tòa án nhân
dân thành phố Thái Bình. Mặc dù số vụ án tranh chấp kinh tế do Tòa án nhân dân
thành phố Thái Bình thụ lí trong vài năm trở lại đây có xu hướng gia tăng, nhưng trong
hoạt động xét xử của mình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình luôn luôn xét xử
đảm bảo sự công minh nhanh chóng chính xác và kịp thời, không để xảy ra tình trạng
tồn đọng án, giải quyết án kéo dài gây sự mệt mỏi cho các đương sự.

- Thứ hai, cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của Tòa án nhân dân thành phố
Thái Bình tuân theo quy định của luật Tổ chức tòa án nhân dân và phát huy tối đa vai
trò của mình
Hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo địa hạt hành chính và có thẩm
quyền xét xử chung như hiện nay có ưu điểm là công tác xét xử bám sát với nhiệm vụ
chính trị của các địa phương, bám sát cơ sở, đồng bộ với các cơ quan tiến hành tố tụng
và bổ trợ tư pháp của địa phương. Cơ cấu tổ chức bộ máy của mỗi cấp Tòa án được tổ
chức theo thẩm quyền xét xử và theo quy định của pháp luật tố tụng, do đó tương đối
linh hoạt, đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn xét xử các loại vụ án, và đảm bảo
23


sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan bổ trợ tư pháp với Tòa án.
Những ưu điểm nêu trên có tác dụng đảm bảo cho hệ thống Tòa án trong thời gian vừa
qua về cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu của công tác xét xử các loại vụ án thuộc thẩm
quyền của Tòa án mỗi cấp.
Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, hiện biên chế có 19 cán bộ, công chức
gồm: 09 Thẩm phán (trong đó 01 Chánh án, 02 Phó Chánh án), 08 Thư ký, 01 cán bộ
văn phòng, 01 kế toán; 02 cán bộ hợp đồng theo Nghị định 68 của Chính phủ. Với cơ
cấu tổ chức như hiện tại, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đủ điều kiện để giải
quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.
2.1.2.2 Các nhân tố chủ quan
Hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án của Toà án phụ
thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố, không chỉ những nguyên nhân khách quan mà chủ
yếu phụ thuộc vào nguyên nhân chủ quan. Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân nói chung,
trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án nói riêng, đó là: Chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức Ngành Toà án mà trước hết là trình độ chuyên môn,
phẩm chất đạo đức, năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán.
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… là những người trực tiếp được giao nhiệm vụ

thống các văn bản pháp luật được ban hành khá đầy đủ, tương đối phù hợp với thực
tiễn làm cơ sở cho các Tòa án nhân dân xét xử các vụ án kinh doanh thương mại. Để
bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tố tụng dân sự đáp ứng được nhu
cầu trong giai đoạn mới, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XII đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật Tố tụng dân sự. Ở lần
sửa đổi, bổ sung này, có nhiều điểm mới trong quy định sẽ giúp ích cho Tòa án trong
quá trình áp dụng pháp giải quyết các tranh chấp dân sự. Điển hình đó là:
-

Thứ nhất, nhiều tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Toà án cấp
tỉnh trước đây, nay thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện giải quyết
Theo quy định tại Điều 33 bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì Toà án nhân dân cấp
huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh, thương mại từ điểm a đến điểm i Khoản 1 Điều 29 bộ luật tố Tụng dân sự 2004
giữa các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận. Song với luật sửa đổi, Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tất
cả các tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc Khoản 1 Điều 29 bộ luật Tố tụng dân
sự 2004. Vì thế, các tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu; những
tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng tín dụng có liên quan đến ngân hàng; những
tranh chấp từ hợp đồng bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự ... theo quy
định của luật sửa đổi thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.
Đây chính là việc tăng thẩm quyền cho Toà án cấp huyện giải quyết các tranh chấp dân
sự theo lộ trình tăng thẩm quyền mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra.
-

Thứ hai, đơn giản hoá thủ tục khi xem xét đơn khởi kiện

Theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự 2004 và hướng dẫn của ngành Toà án
thì khi thụ lý hồ sơ khởi kiện, Toà án phải xem xét đơn khởi kiện, đánh giá đơn khởi
kiện có phù hợp với mẫu đơn khởi kiện đã được quy định hay không. Một trong những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status