Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thực tiễn giải quyết tại tòa án nhân dân huyện ứng hòa thành phố hà nội - Pdf 48

BỘ G IÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

B Ộ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TƢỞNG THỊ LAN

THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƢƠNG M ẠI
– THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÕA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
M ã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚN G DẪN K HOA HỌC: TS. NGUYỄN CÔN G BÌN H

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM Đ OAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn ch ưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN



:

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

KDTM

:

Kinh doanh thương mại

LTM

:

Luật Thương M ại

LSĐBSBLTTDS

:

Luật Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự

NXB

:

Nhà xuất bản

VKS

36

THƢƠN G MẠI TẠI TÕA ÁN N HÂN DÂN HUYỆN ỨN G H ÕA
THÀNH PH Ố HÀ NỘI

2.1. Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và đội ngũ cán bộ Tòa án nhân

36

dân huyện Ứng Hòa ảnh hưởng đến giải quyết vụ án kinh doanh thương
mại tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thàn h phố Hà nội
2.2. Kết quả giải quyết vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân

41

huyện Ứng Hòa thành phố Hà nội
2.3. Những tồn tại và nguyên nhân trong giải quyết vụ án kinh doanh thương

43

mại tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thành phố Hà nội
Chƣơng 3: M ỘT SỐ K IẾN NG HỊ RÖT RA TỪ THỰC TIỄN G IẢI

55

QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH THƢ ƠNG MẠI TẠI T ÕA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN ỨNG H ÕA T HÀNH PH Ố HÀ NỘI

3.1. M ột số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật thủ tục sơ thẩm vụ án kinh


phức tạp bởi Ứng Hòa trướ c đây là một huyện của tỉnh Hà Tây cũ nhưng kể từ
năm 2008 đã được sáp nhập vào thành phố Hà Nội, trở thành một huyện ngoại
thành thành phố Hà Nội nên tốc độ đô thị hóa nhanh, trình độ dân trí không đồng
đều, công tác quản lý nhiều bất cập... Thực tế việc giải quyết các vụ án KDTM
của các Tòa án cho thấy các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành còn
nhiều bất cập, các tranh chấp KDTM có nhiều điểm khác với tranh chấp dân sự
nhưng được giải quyết theo các quy định chung về thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự nói chung mà không có các quy định riêng là chưa phù hợp. Vì vậy,
BLTTDS tuy đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 nhưng vẫn cần tiếp tục được
nghiên cứu sửa đổi, bổ sung. Xuất phát từ những lý do trên, Tác giả đã lựa chọn
đề tài “Thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại - Thực tiễn giải quyết tại
Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ luật
học của mình.


2

2. TÌNH HÌNH NGH IÊN CỨU ĐỀ TÀI

Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung và thủ tục sơ thẩm vụ án
KDTM nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp
làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu. Nh iều vấn đề còn
vướng mắc khi áp dụng BLTTDS và LSĐBSBLTTDS trong thực tiễn giải quyết
các vụ án KDTM đã được các bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý đề cập,
trao đổi như bài "Áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh
chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án - Những vấn đề đặt ra cho việc hoàn
thiện BLTTDS” của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương đăng trên tạp chí Nhà nước
và pháp luật số 3/2010; bài "Một số khó khăn khi áp dụng các Biện pháp khẩn
cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án ” của
tác giả Vũ Đức Hoàng đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 19/2010; bài "Một số

- Các giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về thủ tục sơ thẩm vụ án
KDTM .
4. MỤC ĐÍC H VÀ NHIỆM VỤ NG HIÊN CỨU Đ Ề TÀI

Việc nghiên cứu đề tài nhằm các mục đích sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM ;
- Đánh giá đúng thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục sơ
thẩm vụ án KDTM ;
- Nhận diện được những vướng mắc, bất cập của pháp luật Việt Nam hiện
hành về thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM và thực tiễn thực hiện để từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả việc giải quyết sơ thẩm vụ án KDTM của Tòa
án nhân dân huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội.
Để đạt được các mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục sơ thẩm vụ án
KDTM như khái niệm, đặc điểm thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM ;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục sơ
thẩm vụ án KDTM ;


4

- Khảo sát và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa
thành phố Hà Nội để nhận diện những vướng mắc, bất cập từ đó đề xuất các giải
pháp hoàn thiện và thực hiện.
5. PHƢƠN G PHÁP NG HIÊN CỨU

Đề tài Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa M ác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư
tưởng Hồ Chí M inh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và

Chƣơng 3: M ột số kiến nghị rút ra từ thực tiễn giải quyết vụ án kinh doanh
thương mại tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội.


6

Chƣơng 1:
THỦ TỤC SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƢƠNG MẠI
1.1. K H ÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TH Ủ TỤC SƠ TH ẨM VỤ ÁN
K INH DO ANH TH ƢƠ NG MẠI

1.1.1. Khái niệm thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh thƣơng mại
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam chưa có điều luật n ào quy
định cụ thể về khái niệm tranh chấp KDTM cũng như khái niệm về thủ tục sơ
thẩm vụ án KDTM . Thuật ngữ KDTM còn được hiểu nhầm lẫn với các thuật ngữ
khác như thương mại, kinh tế... dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về vụ án
KDTM . Vì vậy, việc xây dựng hoàn chỉnh khái niệm tranh chấp KDTM cũng
như khái niệm thủ tục sơ thẩm vụ án KDTM là điều cần thiết để làm cơ sở pháp
lý cho việc xác định ranh giới thẩm quyền cũng như trình tự thủ tục trong quá
trình giải quyết các vụ án KDTM.
Ở góc độ ngôn ngữ phổ thông, "kinh doanh" là tổ chức, sản xuất, buôn bán
sao cho sinh lời, "kinh tế" là tổng thể nói chung những quan hệ sản xuất của một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định, "thương mại" là thực hiện lưu thông hàng hóa
bằng mua bán [51].
Theo cách hiểu này, nội hàm tranh chấp kinh tế rộng hơn, bao gồm cả
tranh chấp kinh doanh, thương m ại. Có thể bao quát tranh chấp kinh tế gồm các
tranh chấp kinh doanh, thương mại: Tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư,
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi, tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu
tư, tranh chấp giữa quốc gia trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương m ại

Trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền
kinh tế thế giớ i, với việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 của W T O năm
2007, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các chủ thể kinh doanh, bên cạnh các
Doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã, xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các loại hình công ty và hộ kinh doanh
cá thể. Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú
và tính chất phức tạp. Trong điều kiện đó, Nhà nước phải tạo ra một môi trường


8

kinh doanh lành mạnh, để các quan hệ kinh tế được xây dựng và thực hiện trên
cơ sở nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm về hoạt
động kinh doanh của m ình. Trong giai đoạn này, kinh doanh đúng pháp luật để
đạt lợi nhuận tối đa là mục tiêu của các doanh nghiệp. M ôi trường đó phát sinh
ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền và n ghĩa vụ
của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế. Đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cần
phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh tế.
Trong Luật Thương mại năm 2005 (LTM ) không đưa ra khái niệm về
tranh chấp thương m ại, m à đưa ra khái niệm hoạt động thương m ại, theo đó hoạt
động thương mại là "hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi khác" (Khoản 1 Điều 3 LTM ). Theo khái niệm này, quan niệm về
hoạt động thương mại cũng đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục
đích sinh lợ i. Hướng tiếp cận này của LTM cho thấy, khái niệm về hoạt động
thương mại đã được mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật
Doanh nghiệp 2005: "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (Khoản 2 Điều 4 Luật

được thực hiện theo các quy định từ Điều 161 đến Điều 310 BLTTDS 2004. Còn
những vấn đề chung về thủ tục giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án
KDTM nói riêng được quy định tại Phần thứ nhất của B LTTDS (từ Điều 1 đến
Điều 160) bao gồm những quy định về nguyên tắc, thẩm quyền của Tòa án nhân
dân, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng, chứng minh và chứng cứ, biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấp, thông báo, tống
đạt các văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi kiện, án phí. Các quy
định này quy định về nguyên tắc, trình tự thủ tục giải quyết vụ án KDTM , quyền
và nghĩa vụ của những ngườ i tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng khi giải quyết
vụ án KDTM.
Theo Từ điển Tiếng Việt 1997 của Viện Ngôn ngữ học thì “thủ tục là
những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc
có tính chất chính thức” [51, tr 927]. Thủ tục bảo đảm việc giải quyết công việc
có hiệu quả. Khi giải quyết các công việc đều phải theo thủ tục nhất định. Theo


10

quy định của B LTTDS, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM và lao
động đều được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, thủ tục giải quyết vụ
án KDTM là một trong những thủ tục của thủ tục tố tụng dân sự (TTDS).
Theo quy định tại Điều 17 BLTTDS, Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét
xử: sơ thẩm và phúc thẩm. Do vậy, các vụ án K DTM cũng có thể được xét xử ở
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, không phải bất kỳ vụ
án KDTM nào cũng phải trải qua xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm và Tò a án cấp
phúc thẩm. Tùy vào kết quả việc giải quyết vụ án K DTM ở Tòa án cấp sơ thẩm
và tùy thuộc vào việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự mà việc giải
quyết vụ án KDTM ở cấp sơ thẩm có thể kết thúc ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ
thẩm hoặc phiên tòa sơ thẩm.
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà

pháp luật có quy định khác) – đó là các cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có
thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn một yêu cầu nữa đối với chủ thể khởi kiện
vụ án KDTM đó là khi tham gia quan hệ KDTM đòi hỏi các bên chủ thể của
quan hệ đó đều có mục đích lợi nhuận.
- Về các tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện, đối với vụ án
KDTM do chủ thể khởi kiện chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
nên khi nộp đơn khởi kiện, để được Tòa án chấp nhận thụ lý và giải quyết theo
trình tự, thủ tục giải quyết vụ án KDTM thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp
kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Điều lệ hoạt động của pháp
nhân… để chứng minh tư cách chủ thể của mình.
- Về hình thức đơn khởi kiện, đối với các vụ án KDTM cần lưu ý đến
người đứng tên trong đơn khởi kiện. Đương sự trong các tranh chấp KDTM
thường là các chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân như Côn g ty nhà nướ c,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hay
hộ kinh doanh cá thể, do đó, người ký đơn khởi kiện trong trường hợp này là
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Người đại diện theo pháp luật của


12

pháp nhân cũng có thể ủy quyền cho người khác ký đơn khởi kiện và tham gia tố
tụng tại Tòa án. Khi đó, Tòa án cần kiểm tra việc ủy quyền ký đơn khởi kiện và
tham gia tố tụng đó có đúng quy định pháp luật hay không. Ngoài ra, đương sự là
công ty thì đơn khởi kiện phải có dấu của công ty vào cuối đơn.
- Về sự tham gia của Kiểm sát viên , trên thực tế đối với các vụ án KDTM
thường rất phức tạp, để giải quyết đúng vụ án thì Tòa án đều phải tiến hành thu
thập chứng cứ nên hầu hết đều có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và sự có m ặt
của Kiểm sát viên tại phiên tòa là bắt buộc. Nếu vắng m ặt Kiểm sát viên thì
HĐXX phải hoãn phiên tòa.

sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự l à khả
năng pháp luật quy định cá nhân, tổ chức có các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân
sự. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa
vụ dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.
Đối với vụ án KDTM , chủ thể khởi kiện chỉ có thể là cá nhân, tổ chức có
đăng ký kinh doanh (trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác) - đó là
các cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Điều đó có
nghĩa là khi nộp đơn khởi kiện, để được Tòa án chấp nhận thụ lý và giải quyết
theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án KDTM thì người nộp đơn khởi kiện phải
nộp kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Điều lệ hoạt động của pháp
nhân để chứng minh tư cách chủ thể của mình.
Đương sự trong các tranh chấp KDTM thường là các chủ thể kinh doanh
có tư cách pháp nhân. Đó là công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể. Vì vậy,
cần lưu ý đến người đứng tên trong đơn kiện các vụ án KDTM . Người ký đơn
khởi kiện trong trường hợ p này là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân.
Riêng đối vớ i công ty hợp danh, các thành viên hợp danh đều có quyền đại diện
theo pháp luật của công ty nhưng C hủ tịch H ội đồng thành viên kiêm G iám đốc
là đại diện cho công ty vớ i tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn trước Toà án. Do
đó, Chủ tịch Hội đồng thành viên có quyền kí đơn khởi kiện. Đối với doanh
nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp là người kí đơn khởi kiện. Người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, cũng có thể uỷ quyền
cho ngườ i khác kí đơ n kiện và tham gia tố tụng tại Toà án. Ngoài ra, đương sự
là công ty thì đơn kiện phải có dấu của công ty vào cuối đơn.


14

Ngoài ra, còn một yêu cầu nữa đối với chủ thể khởi kiện vụ án KDTM đó

15

Ngoài ra, việc khở i kiện phải được thực hiện bằng đơn khởi kiện gửi cho
Tòa án có thẩm quyền. Nội dung đơn khởi kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều
164 BLTTDS và m ẫu đơn ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2012/NQ -HĐTP
ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
(HĐTPTANTC) hướng dẫn thi hành một số quy định tron g Phần thứ hai “Thủ
tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của B LTTDS đã được sửa đổi, bổ
sung theo LSĐBSBLTTDS.
1.2.1.2. Thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Thụ lý vụ án KDTM là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện vụ án KDTM của
người khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết. Cũng như các vụ án dân sự
nói chung, theo Điều 167 và Điều 168 BLTTDS, thụ lý vụ án KDTM thuộc trách
nhiệm của Tòa án nơi nhận được đơn khởi kiện vụ án KDTM . Sau khi nhận được
đơn khởi kiện vụ án KDTM của đương sự, Tòa án phải tiến hành các quy trình tố
tụng trong thời hạn nhất định bao gồm:
Thứ nhất, Tòa án tiến hành nhận đơn khởi kiện và nghiên cứu trong thời
hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn để ra một trong các quyết định sau:
Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu v ụ án thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc
Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện nếu
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác hoặc trả lại đơn khởi kiện.
Nếu thấy nội dung đơn khởi kiện không đáp ứng các nội dung cơ b ản phải có
được quy định tại Khoản 2 Điều 164 BLTTDS thì Tòa án phải thông báo cho
người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn do Tòa án ấn định
nhưng không quá 30 ngày, trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể gia hạn
nhưng không quá 15 ngày [18]. Sau khi người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn
khởi kiện theo đúng quy định thì Tòa án tiếp tục làm thủ tục thụ lý vụ án. Nếu họ
không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
và tài liệu chứng cứ kèm theo cho n gười khởi kiện.
Thứ hai, Tòa án sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo,

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị

2.000.000.000 đồng

tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị

4.000.000.000 đồng

tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị
tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc
nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải n ộp tiền tạm ứng án phí.
Thứ ba, khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án
phí, Tòa án ra quyết định thụ lý vụ án và vào sổ thụ lý vụ án.
Quy định về việc thụ lý vụ án có ý nghĩa quan trọng vì nó đặt ra trách
nhiệm cho Tòa án phải giải quyết vụ án trong thời gian luật định. Việc thụ lý vụ
án còn nhằm bảo vệ kịp thời những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể,
giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân.
1.2.2. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thƣơ ng mại
Chuẩn bị xét xử vụ án KDTM là một giai đoạn độc lập trong thủ tục giải
quyết vụ án KDTM tại Tòa án bao gồm các ho ạt động từ sau khi thụ lý như phân

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án KDTM , các công việc chuẩn
bị xét xử chủ yếu được tiến hành bao gồm:
Thứ nhất, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án.


18

Vì Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng nên trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử, sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải
quyết vụ án. Việc phân công này là cơ sở để Thẩm phán toàn tâm toàn ý với vụ
án đã được giao, đồng thời để Thẩm phán thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn
được quy định tại Điều 41 BLTTDS, đ ảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng,
khách quan, đúng pháp luật.
Theo quy định tại Điều 172 B LTTDS thì: “Trong thời hạn ba ngày làm
việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải
quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, nế u Thẩm phán được phân công
không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân công
Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ, trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm
phán dự khuyết thì vụ án được xét xử lại từ đầu ”[18].
Thứ hai, thông báo việc thụ lý vụ án.
Sau khi đã tiến hành các công việc thụ lý, Tòa án phải thông báo bằng văn
bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
việc giải quyết vụ án để họ biết được vụ án đã được thụ lý. Tòa án cũng phải thông
báo cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án
để VKS thực hiện chức năng kiểm sát của mình đối với việc giải quyết vụ án của
Tòa án.
Theo quy định tại Điều 174 BLTTDS: "trong thời hạn 3 ngày làm việc kể
từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải gửi thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho VKS cùng cấp về
việc Tòa án đã thụ lý vụ án. Văn bản thông báo phải có các nội dung sau:

BLTTDS). Nếu vụ án KDTM thuộc trường hợp phải tiến hành hòa giải song đã
được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định mà không có thủ tục hòa giải
thì đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bản án, quyết đị nh đó có thể bị
hủy.
Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa án phải thông báo cho các đương
sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần
hòa giải ( Điều 183 BLTTDS).
Thành phần tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 184 BLTTDS bao
gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải; Thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải; các
đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ; Người phiên dịch nếu đương sự
không biết tiếng việt; Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu cá
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hòa giải. Trình tự tiến hành
hòa giải được quy định tại Điều 185a BLTTDS.
Việc quy định bắt buộc hòa giải trong giải quyết vụ án KDTM tại Tòa án
là xuất phát từ nguyên tắc chung được quy định tại Điều 5 BLTTDS về quyền


21

quyết định và tự định đoạt của đương sự, trong đó quy định các đương sự có
quyền thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức
xã hội nên trong quá trình giải quyết vụ án KDTM , trước khi đưa vụ án ra xét xử
Toà án phải tiến hành hoà giải để các đương sự tự thoả thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án.
Trong quá trình hòa giải vụ án KDTM , ngoài việc là người đứng ra chủ trì
pháp lý, Thẩm phán còn có vai trò như một nhà phân tích tâm lý học am hiểu về
tâm lý con người. Ngoài việc phân tích những khía cạnh thuận lợi nếu hòa giải
thành như: giảm 50% án phí, không phải đưa vụ án ra xét xử sẽ giảm được chi
phí và thời gian tham gia tố tụng, duy trì được mối quan hệ đoàn kết, hợp tác
kinh doanh, thuận lợi về thi hành án, Thẩm ph án cũng cần xoa dịu sự bất đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status