Các qui định của bộ luật tố tụng dân sự việt nam 2004 về hòa giải vụ việc dân sự và thực tiễn thực hiện tại tòa án nhân dân huyện hoài đức, thành phố hà nội - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỨC THỊ HÒA

CÁC QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ
VIỆT NAM 2004 VỀ HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN
SỰ
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hµ néi - 2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỨC THỊ HÒA

CÁC QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ
VIỆT NAM 2004 VỀ HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN
SỰ
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
Chuyên ngành : Luật dân sự


Khái niệm, cơ sở và vai trò của chế định hòa giải vụ việc
dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

7

1.1.1.

Khái niệm chế định hòa giải vụ việc dân sự trong pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam

7

1.1.2.

Cơ sở của chế định hòa giải vụ việc dân sự trong tố tụng
dân sự Việt Nam

12

1.1.2.1. Cơ sở lý luận

12

1.1.2.2. Cơ sở thực tiễn

14

1.1.3.


1.2.4.

Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004

28

1.2.5.

Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

32

1


Chương 2:

Nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự việt

35

nam 2004 về hòa giải vụ việc dân sự

2.1.

Các quy định chung về hòa giải vụ việc dân sự

36

2.1.1.


Các quy định về thủ tục hòa giải vụ việc dân sự

54

2.2.1.

Các quy định về chuẩn bị phiên hòa giải vụ việc dân sự

54

2.2.2.

Các quy định về tiến hành phiên hòa giải vụ việc dân sự

56

2.2.3.

Các quy định về quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự

61

2.2.4.

Các quy định về giải quyết trường hợp hòa giải không thành,
không hòa giải được

65


79

3.2.

Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải vụ việc dân
sự trong tố tụng dân sự

83

2


3.2.1.

Các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự

83

3.2.1.1. Về nguyên tắc tiến hành hòa giải

83

3.2.1.2. Cần bổ sung quy định về mục đích hòa giải

85

3.2.1.3. Cần bổ sung quy định về địa điểm hòa giải

85


92

3.2.2.1. Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật
Tố tụng dân sự Việt Nam 2004, trong đó có chế định hòa giải

92

3.2.2.2. Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ
năng hòa giải cho đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử

94

3.2.2.3. Nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân

103

KẾT LUẬN

105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

108

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT



Số hiệu

Tên bảng

Trang

bảng
3.1

Kết quả giải quyết các vụ án dân sự

69

3.2

Kết quả giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình

70

3.3

Kết quả giải quyết các việc dân sự

82

5


MỞ ĐẦU

Hòa giải đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật do Nhà nước
ta ban hành từ trước tới nay như Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải
cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974
của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn về công tác hòa giải trong
tố tụng dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989
(PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994,
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996... Đặc biệt, Bộ
luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) Việt Nam 2004 được ban hành đã đánh dấu
một mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta
nói chung và hoàn thiện về chế định hòa giải các vụ việc dân sự nói riêng.
Tuy nhiên, qua một thời gian áp dụng cho thấy nhiều quy định của BLTTDS
vẫn còn hạn chế, trong đó có các quy định về hòa giải vụ việc dân sự. Vì vậy,
việc thực hiện trên thực tế không tránh khỏi lúng túng, thiếu thống nhất.
Chẳng hạn, đối với các vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nếu hòa giải
vợ chồng về đoàn tụ thành thì ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự hay công nhận hòa giải đoàn tụ? đối với các vụ án tranh chấp về tài
sản hòa giải thành ngay từ khi chưa định giá tài sản thì án phí sẽ được tính
toán dựa trên cơ sở nào? Đối với trường hợp khi tham gia phiên hòa giải, bị
đơn nhất trí với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn với điều kiện nguyên đơn
phải rút đơn khởi kiện, nhưng nguyên đơn lại không rút đơn vì lo sợ bị đơn sẽ
thay đổi quan điểm sau khi Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ
án thì Tòa án phải làm thế nào?…
Là một cán bộ trực tiếp làm công tác xét xử, tôi muốn thông qua thực
tiễn để xác định những điểm còn chưa hợp lý của các quy định về hòa giải
trong BLTTDS, từ đó có những kiến nghị trong việc sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp với tình hình phát triển của đời sống kinh tế, xã hội của nước ta hiện nay
và trong thời gian tới. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài "Các qui định của Bộ luật
Tố tụng dân sự Việt Nam 2004 về hòa giải vụ việc dân sự và thực tiễn thực

7


9


Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về hòa giải,
chế định hòa giải vụ việc dân sự như khái niệm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở của
chế định hòa giải vụ việc dân sự; các quy định của BLTTDS về hòa giải vụ
việc dân sự và thực tiễn áp dụng chúng tại TAND huyện Hoài Đức, thành phố
Hà Nội; những giải pháp giải quyết những bất cập của các quy định này để
nâng cao hiệu quả của công tác hòa giải vụ việc dân sự trong TTDS.
Các quy định của BLTTDS về hòa giải vụ việc dân sự là một đề tài
có nội dung nghiên cứu rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề khác nhau. Tuy vậy,
phạm vi đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của
BLTTDS về hòa giải vụ việc dân sự trước khi mở phiên tòa, phiên họp dân
sự với ý nghĩa là một bộ phận của PLTTDS nhằm làm rõ những nội dung cơ
bản của chúng và thực tiễn thực hiện chúng tại TAND huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội.
4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nghiên cứu làm rõ thêm những
vấn đề lý luận về hòa giải, phân tích làm rõ nội dung các quy định về hòa giải
vụ việc dân sự trong BLTTDS cũng như thực tiễn áp dụng những quy định
này tại TAND huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất các giải
pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
hòa giải trong TTDS.
Để đạt được những mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có những
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận của việc giải quyết vụ việc dân sự
bằng phương thức hòa giải tại Tòa án; nghiên cứu nội dung các quy định của
BLTTDS về hòa giải vụ việc dân sự.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS về hòa giải

luật tố tụng dân sự Việt Nam

11


Chương 2: Nội dung các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt
Nam 2004 về hòa giải vụ việc dân sự
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự Việt Nam 2004 về hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội và kiến nghị.

12


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI VỤ VIỆC DÂN SỰ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM, CƠ SỞ VÀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI VỤ
VIỆC DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

1.1.1. Khái niệm chế định hòa giải vụ việc dân sự trong pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam
Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thông thường, khi bắt đầu xảy ra
tranh chấp, các bên tranh chấp sẽ cố gắng trực tiếp gặp nhau để dàn xếp, đàm
phán, thương lượng. Nếu không có kết quả, họ sẽ tìm đến người thứ ba để
giúp họ giải quyết tranh chấp. Người thứ ba mà họ tìm đến trước tiên sẽ
không phải là những người xa lạ mà chính là những người gần gũi nhất của
hai bên. Nếu những người thân không giúp họ tự hòa giải được, họ sẽ tìm gặp

chấp tại Tòa án là cách thức tích hợp hòa giải vào tố tụng tư pháp với vai trò
của Tòa án là người trung gian thứ ba giúp đề xuất các cách giải quyết thân
thiện để hai bên tự thỏa thuận, đồng thời công nhận giá trị pháp lý và bảo đảm
thi hành bằng sức mạnh của Nhà nước kết quả thỏa thuận của các bên [18, tr.
21]. Có quan điểm lại cho rằng: Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do
Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải
quyết vụ án dân sự [61, tr. 257].
Cũng có quan điểm cho rằng: Hòa giải trong TTDS là một cách thức
giải quyết các tranh chấp dân sự được pháp luật quy định theo một trình tự
và thủ tục nhất định, theo đó Tòa án giải thích pháp luật làm cho các bên
hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ tranh chấp nhằm mục
đích hướng các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh
chấp giữa họ [16, tr. 43].

14


Từ những quan điểm đã nêu và các quy định của pháp luật hiện hành
cho thấy hòa giải trong TTDS có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hòa giải là một nguyên tắc, thủ tục của quá trình giải quyết
vụ việc dân sự.
Hòa giải đã được PLTTDS Việt Nam quy định là một nguyên tắc, thủ
tục của quá trình giải quyết vụ việc dân sự để các đương sự thực hiện quyền
tự định đoạt của mình và tạo cơ hội rút ngắn thời gian tố tụng, đồng thời góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án. Theo Điều 10 của BLTTDS:
"Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các
đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định
của Bộ luật này". Theo Điều 180 của BLTTDS: "Trong thời hạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với
nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc

định của pháp luật và đạo đức xã hội. Trường hợp các đương sự thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự thì Thẩm phán cần kiểm tra
lại. Nếu sự thỏa thuận của họ không trái với những quy định của pháp luật và
đạo đức xã hội thì mới ra quyết định công nhận.
Như vậy, có thể thấy rằng hòa giải trong TTDS có rất nhiều đặc trưng
khác biệt so với hòa giải ngoài tố tụng. Mặc dù kết quả hòa giải là sự tự
nguyện thỏa thuận của các đương sự, nhưng sự tự nguyện thỏa thuận đó phải
phù hợp với những quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội và
được Tòa án công nhận. Ngược lại, Tòa án là người chủ động mở phiên hòa
giải, hướng dẫn và tạo điều kiện để các đương sự tự nguyện thỏa thuận với
nhau nhưng mọi hoạt động của Tòa án cũng không thể vượt ra ngoài những
quy định của pháp luật. Quá trình hòa giải phát sinh các mối quan hệ khác
nhau giữa Tòa án và những chủ thể tham gia vào quá trình này. Để đảm bảo
sự công bằng, tính đúng đắn và minh bạch của hòa giải trong TTDS thì cần
phải có một hành lang pháp lý cho hoạt động này. Tức là Nhà nước phải đặt
ra các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình
hòa giải. Tập hợp các quy định này tạo thành chế định hòa giải trong
PLTTDS. Chế định hòa giải trong PLTTDS không chỉ bao gồm những quy

17


định về hòa giải trong các văn bản chuyên biệt về tố tụng dân sự mà còn bao
gồm cả các quy định trong các văn bản khác có liên quan. Do vậy, có thể đưa
ra định nghĩa về chế định hoà giải trong PLTTDS như sau:
Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự là tổng thể các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình hòa giải các
vụ việc dân sự, là cơ sở để Tòa án tiến hành hòa giải và giúp đỡ các đương sự
tự nguyện thỏa thuận với nhau, bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh
chóng, đúng đắn, phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.

phần giữ gìn sự hòa thuận, yên vui cho từng gia đình, làng xóm, sự hòa hợp của
cộng đồng dân tộc, tạo nên nội lực phát triển bền vững của đất nước. Vì thế,
hòa giải được hình thành một cách khách quan từ nhu cầu của đời sống xã hội
và cơ sở của hòa giải chính là quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp.
Trong thời đại ngày nay, khi xã hội dân sự ngày càng được coi trọng
thì hòa giải vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy tác dụng. Hòa giải không chỉ
thể hiện trình độ văn hóa trong quan hệ xã hội mà còn góp phần nâng cao chất
lượng của nền tư pháp nói chung và của hoạt động xét xử nói riêng. Hòa nhịp
với phong trào "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", mỗi
cán bộ làm công tác xét xử cần phải ghi nhớ lời dạy của Bác: "Xét xử đúng là
tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn" [1].
Cũng như các quan hệ xã hội khác, các quan hệ phát sinh trong lĩnh
vực hòa giải được Nhà nước thừa nhận và điều chỉnh bằng các quy phạm
pháp luật. Các quy phạm pháp luật về hòa giải trong quá trình giải quyết các
tranh chấp dân sự tạo nên chế định hòa giải trong TTDS.
Chế định hòa giải trong PLTTDS không chỉ đơn thuần mang tính chất
giai cấp của thể chế chính trị đương thời mà nó còn mang ý nghĩa xã hội sâu
sắc. Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định
của pháp luật được khuyến khích. "Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa
dùng vũ lực trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự" [35]. Quy định này

19


không chỉ thể hiện việc Nhà nước bảo vệ quyền tự định đoạt của mỗi cá nhân
mà còn là cơ sở quan trọng cho sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.
Trải qua các giai đoạn phát triển của xã hội, chế định hòa giải trong
TTDS được hình thành và hoàn thiện dần, từ chỗ chỉ là những quy định sơ
khai ban đầu đã phát triển thành một bộ phận quan trọng của PLTTDS.
BLTTDS được ban hành đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc

trọng của công tác hòa giải trong giải quyết các vụ việc dân sự. Việc hòa giải
thành vừa đảm bảo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự nếu
sự thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội, lại vừa đảm bảo giải
quyết nhanh gọn và triệt để vụ việc; đồng thời bảo đảm được sự đoàn kết, ổn
định trong nội bộ nhân dân. Báo cáo tổng kết công tác xét xử ngành Tòa án
năm 2000 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2001 đã khẳng định:
"Kiên trì hòa giải, thuyết phục để đương sự thỏa thuận với nhau là một
phương châm công tác của ngành Tòa án" [51].
Báo cáo tổng kết công tác xét xử ngành Tòa án năm 2007 và phương
hướng nhiệm vụ công tác năm 2008 đã chỉ rõ: "Do các Tòa án đã quan tâm
làm tốt công tác hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự nên tỷ
lệ các vụ việc dân sự được hòa giải thành chiếm 45% tổng số các vụ việc dân
sự đã giải quyết" [58]. Báo cáo tổng kết công tác xét xử ngành Tòa án năm
2008 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2009 cũng ghi nhận:
Trong quá trình giải quyết, các Tòa án luôn đảm bảo tôn trọng
quyền tự định đoạt của đương sự, coi trọng và làm tốt công tác hòa
giải, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, qua đó góp
phần hàn gắn, củng cố mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Tỷ lệ các
vụ việc dân sự được giải quyết bằng hòa giải thành chiếm 44% [60].
Khi trả lời chất vấn tại phiên họp thứ X Quốc hội khóa VIII, cố Chánh
án TANDTC Trịnh Hồng Dương đã nhấn mạnh: "Việc dân sự cốt ở yên dân".
Có nghĩa là khi giải quyết các tranh chấp dân sự, Tòa án không thể chỉ cứng
nhắc tuân theo các quy định của pháp luật mà cần phải mềm dẻo, tùy cơ ứng

21


biến, tạo điều kiện để các bên đương sự tự hòa giải, cốt làm sao để sự việc
được giải quyết một cách nhanh chóng nhất và các bên không còn ý kiến thắc
mắc hay khiếu kiện gì về kết quả giải quyết đó.

niên, thậm chí mời cả đại diện hai bên nội, ngoại của đương sự cùng tham gia
vào phiên hòa giải để giúp cho việc xét xử của Tòa án đạt hiệu quả tốt. Các
đơn vị TAND có tỷ lệ hòa giải thành cao trong Cụm thi đua số III đáng được
biểu dương là: TAND tỉnh Quảng Nam đạt 52,96%, TAND tỉnh Quảng Trị
đạt 67,46% [2].
Từ thực tiễn xét xử của TAND các cấp đã khẳng định hòa giải là một
trong những biện pháp quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự cần
được tiếp tục duy trì và phát triển. Thông qua thực tiễn này, chế định hòa giải
trong TTDS được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đáp ứng với yêu cầu của đời
sống xã hội đặt ra.
Ngoài ra, ở nhiều nước, hòa giải cũng được coi là chế định quan trọng
của PLTTDS. Điều 21 của BLTTDS Cộng hòa Pháp quy định: "Thẩm phán
có trách nhiệm hòa giải các bên đương sự" [3]. Một trong năm vấn đề cải cách
TTDS của Pháp hiện nay là tăng cường, khuyến khích hòa giải và thỏa thuận.
Hòa giải được tiến hành trước khi xét xử cũng như trong quá trình tiến hành
các thủ tục tố tụng tiếp theo. Theo BLTTDS Liên bang Nga, việc hòa giải các
tranh chấp dân sự được các cơ quan xét xử hết sức chú trọng. Bên cạnh việc
củng cố "Tòa án đồng chí", PLTTDS Nga đã hình thành chế định "Thẩm phán
hòa giải". Tại Điều 23 quy định về thẩm quyền của Thẩm phán hòa giải [64].
Theo đó, thẩm quyền hòa giải các vụ việc dân sự được quy định một cách cụ thể,
phạm vi rộng, tạo điều kiện cho việc giải quyết nhanh chóng các tranh chấp dân
sự trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự. Ngay ở Trung
Quốc - một nước láng giềng gần gũi nhất của nước ta cũng coi hòa giải là một
biện pháp giải quyết tranh chấp hữu hiệu trong hoạt động của Tòa án từ trước
năm 1949. Từ sau tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
được thành lập, hòa giải vẫn được coi trọng và ngày càng phát triển. Tại Điều 9
của BLTTDS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1991 quy định: "Tòa án nhân
dân giải quyết các vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải theo nguyên tắc tự
nguyện và hợp pháp. Trường hợp không hòa giải được thì phải kịp thời xét


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status