BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------
PHẠM KIM NGÂN
HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Phương Thảo
HÀ NỘI – NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Trần Phương Thảo – Giảng viên Khoa Pháp luật
Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Những thông tin, số liệu và trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và chính xác.
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng
Bảng 3.1. Kết quả giải quyết các vụ án dân sự của hai cấp
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (từ năm 2011 đến năm
2015)
Trang
65
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài .....................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn..................................3
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn .....................................................................4
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn.................................................................4
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.........................................................5
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn .....................................................5
8. Kết cấu của luận văn ..........................................................................................5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ .....................7
1.1
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự ....................7
1.1.1 Khái niệm hòa giải vụ án dân sự .................................................................7
1.1.2 Đặc điểm của hòa giải vụ án dân sự ..........................................................12
1.1.3 Ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự.............................................................14
2.2.2 Những vụ án không tiến hành hòa giải được.............................................36
2.2.3 Vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn ...............................................39
2.3
Thành phần phiên hòa giải vụ án dân sự ...............................................39
2.3.1 Các chủ thể tiến hành hòa giải...................................................................40
2.3.2 Chủ thể tham gia hòa giải ..........................................................................42
2.4
Thủ tục hòa giải vụ án dân sự..................................................................50
2.4.1 Thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm ........................50
2.4.2 Thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại phiên tòa sơ thẩm ............................56
2.4.3 Thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại cấp phúc thẩm .................................60
Kết luận Chương 2 .............................................................................................62
Chương 3
THỰC TIỄN THỰC HIỆN HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI VỤ
ÁN DÂN SỰ........................................................................................................64
3.1
Thực tiễn thực hiện hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân trên địa
bàn thành phố Hà Nội........................................................................................64
3.1.1 Kết quả đạt được........................................................................................64
3.1.2 Những hạn chế, vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn hòa giải tại TAND
trên địa bàn thành phố Hà Nội .............................................................................66
3.2
cố trật tự công cộng. Hiện nay, nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới
đang có xu hướng sử dụng hòa giải nhiều hơn, đặc biệt là hòa giải trong tố tụng
tư pháp như một biện pháp giải quyết tranh chấp bởi nó có nhiều ưu điểm hơn so
với các biện pháp giải quyết tranh chấp khác.
Hiện nay, hòa giải vụ án dân sự giải đã được quy định khá đầy đủ, chi tiết
trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm
2011 và đã trở thành một phương thức hữu hiệu khi giải quyết các vụ án dân sự
tại Tòa án. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành Bộ luật này trong những năm qua
cho thấy một số quy định của BLTTDS cũng như vấn đề hòa giải đã bộc lộ
những hạn chế, bất cập; có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm
pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp),
chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau,... Do đó, ngày
25/11/2015 Quốc hội đã thông qua BLTTDS năm 2015 và Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/07/2016. So với BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung
năm 2011, BLTTDS năm 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm đáp
2
ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự trong giai đoạn
hiện nay.
Với những lý do trên, tôi xin mạnh dạn trình bày đề tài: “Hòa giải vụ án
dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà
Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải là một vấn đề quan trọng trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại
Tòa án. Vì vậy, ngoài việc được Nhà nước quan tâm quy định trong các văn bản
về pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) thì cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
khoa học pháp lý nghiên cứu về vấn đề này. Có thể thống kê một số luận văn,
luận án tiêu biểu sau đây: Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hòa giải trong tố tụng dân
giải vụ án dân sự có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau: hòa giải vụ án dân
sự có thể là một thủ tục tố tụng hay là một chế định pháp luật hoặc là một hoạt động
do Tòa án tiến hành để giải quyết tranh chấp).
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề về lý luận như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở
của hòa giải vụ án dân sự.
- Nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật TTDS về hòa giải vụ án
dân sự, so sánh những quy định của BLTTDS mới và BLTTDS trước đây và chỉ
ra những hạn chế, bất cập của pháp luật quy định về hòa giải vụ án dân sự nếu có.
- Khảo sát thực tiễn thực hiện hoạt động hòa giải vụ án dân sự và chỉ ra
những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện hoạt động này trong
thực tiễn.
- Trên cơ sở những hạn chế, bất cập của pháp luật và những hạn chế, khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện hòa giải vụ án dân sự, đề xuất những
phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thực hiện
có hiệu quả hoạt động hòa giải vụ án dân sự. Qua đó phát huy vai trò của Tòa án
trong giải quyết các vụ án dân sự trong thời gian tới, bảo đảm cho việc giải quyết
các vụ án dân sự của Tòa án luôn tôn trọng sự tự nguyên thỏa thuận đương sự,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, xã hội và công dân.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Những vấn đề lý luận về hòa giải vụ án dân sự là gì?
- Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy định như thế nào về hòa giải vụ án
dân sự?
- Khi áp dụng các quy định của pháp luật trên thực tiễn còn gặp phải những
vướng mắc, bất cập gì? Giải pháp nào giúp hoàn thiện pháp luật cũng như bảo
đảm thực hiện các quy định liên quan đến hòa giải vụ án dân sự?
luận văn gồm 3 chương:
6
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hòa giải vụ án dân sự
Chương 2: Hòa giải vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân
trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của
hoạt động hòa giải vụ án dân sự
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm hòa giải vụ án dân sự
Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống và phổ
biến trong đời sống xã hội. Trong khoa học pháp lý, hòa giải được hiểu dưới
nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ là một thủ tục giải quyết tranh chấp thì thủ tục hòa giải là trình
tự mà các bên tham gia bao gồm các bên tranh chấp và bên trung gian hòa giải
cần tuân theo để đạt được tự nguyện thỏa thuận giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp
đang tồn tại giữa các bên.
Dưới góc độ pháp lý, hòa giải là một chế định pháp luật. Theo Giáo trình
Lý luận Nhà nước và Pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Chế định
pháp luật là một tập hợp được cấu trúc từ nhóm các quy phạm pháp luật điều
chỉnh nhóm quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau thuộc cùng một loại”
trình giải quyết những tranh chấp, bất đồng giữa các bên. Trong quá trình hòa
giải cần đến bên thứ ba với vai trò trung lập, làm trung gian giúp các bên tranh
chấp giải quyết được những bất đồng và đạt được một thỏa thuận phù hợp với
quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận
đó” [17]. Theo quan điểm này, hòa giải có mục đích giải quyết thành công tranh
chấp. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp hòa giải đều thành công. Khi
đó, dù mâu thuẫn chưa được giải quyết hoàn toàn nhưng các bên tranh chấp cũng
có cơ hội hiểu rõ hơn nội dung tranh chấp, bày tỏ ý chí của mình với đối phương
và cũng được nghe ý kiến của đối phương về vụ tranh chấp. Từ đó, hai bên có thể
phần nào tìm được tiếng nói chung và làm giảm mức độ mâu thuẫn.
Từ các quan điểm trên, có thể khái quát hòa giải là quá trình các bên đàm
phán với nhau để giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của bên thứ ba. Như
vậy, hòa giải có sự tham gia của hai bên tranh chấp và bên trung gian thứ ba.
Khác với phương thức giải quyết tranh chấp thương lượng, tức là hai bên, bằng
thiện chí của mình, cùng bàn bạc, thảo luận để đi tới một thỏa thuận giải quyết
tranh chấp, thì hòa giải coi trọng vai trò của bên trung gian thứ ba giúp các bên
tranh chấp đưa ra phương hướng giải quyết nhằm dung hòa quyền và lợi ích của
cả hai bên để từ đó các bên bàn bạc, thảo luận đi đến thống nhất phương án giải
quyết tranh chấp.
9
Trong cuộc sống hàng ngày, việc xảy ra mâu thuẫn, xung đột trong giao lưu
dân sự là điều không thể tránh khỏi. Tranh chấp phát sinh từ nhiều quan hệ xã hội
khác nhau như quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh
doanh, thương mại, hay quan hệ lao động. Một khi tranh chấp về dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là “tranh
chấp dân sự”) giữa các bên được một bên yêu cầu Tòa án giải quyết thì điều này
có nghĩa là một bên đã chủ động lựa chọn phương thức tố tụng dân sự tại Tòa án
mà không phải nhờ tới “cửa quan”. Nếu hòa giải không thành công, các bên buộc
phải sử dụng đến các phương thức có tính chất hành chính hơn mà ở đó quyền
quyết định sự việc đã thuộc về bên thứ ba như Trọng tài hay Tòa án và các bên
phải chấp nhận, thi hành quyết định đó dù có hài lòng hay không. Tuy nhiên, dựa
trên bản chất của quan hệ pháp luật dân sự là tôn trọng sự thỏa thuận giữa các
bên nên trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng thủ tục TTDS, Tòa án vẫn
luôn chủ động dành cơ hội cho các bên tranh chấp thương lượng, đàm phán với
nhau. Tòa án sẽ là bên thứ ba đưa ra những hướng dẫn, tư vấn về điểm mạnh,
điểm yếu của mỗi bên trong tranh chấp cũng như những vấn đề pháp lý của vụ
việc và đặc biệt là hậu quả pháp lý mà mỗi bên phải gánh chịu khi Tòa án ra
quyết định, bản án giải quyết vụ án dân sự. Trên cơ sơ những phân tích, tư vấn
của Tòa án, các bên sẽ có nhận thức rõ ràng hơn về vụ việc và tại các thời điểm
khác nhau của quá trình tố tụng, các bên tranh chấp vẫn luôn được dành quyền
chủ động thỏa thuận về phương án giải quyết tranh chấp hợp tình, hợp lý. Nếu
thỏa thuận đó không trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội, Tòa án sẽ
công nhận thỏa thuận của các bên tranh chấp và bảo đảm hiệu lực pháp luật của
thỏa thuận đó thông qua quyết định, bản án chính thức của Tòa án. Cách thức giải
quyết này được gọi là hòa giải vụ án dân sự.
Hòa giải vụ án dân sự do Tòa án tiến hành là một trong những hình thức
hòa giải. Trên thực tế tồn tại nhiều hình thức hòa giải khác như hòa giải cơ sở,
hòa giải ở Ủy ban nhân dân (UBND),… Do đều là hòa giải nên giữa hòa giải vụ
án dân sự (hay hòa giải trong TTDS) và các hình thức hòa giải khác đều mang
đặc điểm chung của hòa giải. Thứ nhất, các hình thức hòa giải này đều là hình
thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự, tức là các bên trong
quan hệ pháp luật nội dung đã có mâu thuẫn về lợi ích. Mối quan hệ giữa họ cần
có một biện pháp đề điều hòa lợi ích giữa các bên. Thứ hai, các hình thức hòa
giải này đều có sự tham gia của chủ thế thứ ba đóng vai trò trung gian giúp đỡ
các bên giải quyết tranh chấp. Thứ ba, các bên tranh chấp có quyền quyết định và
tự định đoạt khi tiến hành giải quyết tranh chấp bằng hòa giải. Tuy vậy, các hình
thức này cũng có những điểm khác biệt nhất định, ví dụ như sau:
hết các tranh chấp được Tòa án thụ lý giải quyết.Trong khi đó, hòa giải ở UBND
chỉ bắt buộc đối với tranh chấp đất đai, đối với các loại tranh chấp khác thì các
bên cũng có thể yêu cầu UBND hòa giải nhưng đây không phải là thủ tục bắt
buộc.
- Thứ ba, về hiệu lực pháp luật của kết quả hòa giải thành. Đối với hòa
giải vụ án dân sự, kết quả hòa giải thành được Tòa án công nhận và được bảo
đảm thực thi bằng quyền lực nhà nước. Đối với hòa giải ở UBND, kết quả hòa
12
giải thành được thi hành phụ thuộc vào ý chí của các bên, không có cơ chế cưỡng
chế thi hành như đối với kết quả hòa giải thành vụ án dân sự.
Như vậy, từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm hòa giải vụ
án dân sự dưới góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp, theo đó, hòa giải
vụ án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự với vai trò của Tòa án là bên trung
gian thứ ba giúp đỡ các đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp dân sự.
1.1.2 Đặc điểm của hòa giải vụ án dân sự
Với khái niệm trên, có thể thấy hòa giải vụ án dân sự là một hoạt động tố
tụng đặc thù của tố tụng dân sự với các đặc điểm riêng biệt như sau:
1.1.2.1 Hòa giải về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự
Mặc dù hòa giải vụ án dân sự là một hoạt động do Tòa án tiến hành nhưng
về bản chất hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự. Chỉ có các đương sự
mới có quyền hòa giải với nhau về tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong
vụ án, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh
chấp. Họ là người hiểu rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ. Khi tham gia vào
quá trình hòa giải, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau để
giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện ý
chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của các đương sự
đều bị coi là trái pháp luật và không được công nhận. Không ai, bằng bất kỳ hình
bên đương sự.
Mặc dù Tòa án không phải là một chủ thể của hòa giải, nhưng với tư cách
là cơ quan xét xử, Tòa án giữ vai trò trung gian cho quá trình hòa giải giữa các
đương sự. Tòa án có nhiệm vụ tổ chức cho các bên đương sự gặp nhau để thương
lượng, thỏa thuận về quyền lợi của họ. Khi hòa giải, Tòa án chủ động giải thích
pháp luật liên quan đến quan hệ tranh chấp, động viên, khuyên giải, giúp đỡ họ
tháo gỡ những vấn đề vướng mắc trong tâm tư tình cảm của mình để họ thỏa
thuận với nhau giải quyết các vấn đề của vụ việc. Đây chính là những yếu tố
quyết định đến sự thành công hay không của việc hòa giải. Và do vậy, việc hòa
giải giữa các đương sự, mặc dù dựa trên sự tự nguyện và ý chí của đương sự
nhưng lại được bảo đảm phù hợp với pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội.
Như vậy, Tòa án là một chủ thể không thể thiếu giữ vai trò trung gian giúp đỡ các
đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự. Đặc điểm này là dấu
hiệu để phân biệt hòa giải với trường hợp các đương sự tự thỏa thuận, đây là hai
trường hợp khác nhau trong tố tụng dân sự.
Kết quả tự thỏa thận của đương sự là do các đương sự thực hiện quyền tự
định đoạt của mình và Tòa án không hề tham gia vào hoạt động thỏa thuận đó.
14
Còn đối với trường hợp hòa giải do Tòa án tiến hành, mặc dù các đương sự vẫn là
chủ thể của hòa giải nhưng kết quả hòa giải có vai trò rất lớn của Tòa án. Khi tiến
hành hòa giải giữa các đương sự, Tòa án giữ vị trí đặc biệt quan trọng, Tòa án
như một người “trọng tài” giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau trong việc
chủ động xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hòa giải, số lần hòa
giải, giải thích pháp luật, nội dung tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các
bên…để từ đó các đương sự nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình và
đi đến thỏa thuận.
1.1.2.3 Hòa giải vụ án dân sự phải được tiến hành theo thủ tục do pháp
quyết tranh chấp [9, tr.41].
Hòa giải vụ án dân sự bảo đảm được quyền tự định đoạt của đương sự, là
cơ hội để các đương sự có thể bàn bạc, thỏa thuận với nhau về cách giải quyết
tranh chấp. Thông qua việc giải thích pháp luật của Tòa án, các đương sự sẽ hiểu
biết và thông cảm với nhau, giải quyết được những vướng mắc trong tâm tư, tình
cảm của các đương sự, đồng thời nắm rõ được các quy định của pháp luật liên
quan đến quan hệ đang tranh chấp, hiểu được quyền và nghĩa vụ hợp pháp của
mình. Trên cơ sở đó, họ hành động phù hợp với quy định của pháp luật. Trong
trường hợp không hòa giải thành cũng giúp cho các đương sự kiềm chế mâu
thuẫn và không làm cho tranh chấp phát triển phức tạp.
Thứ hai, ý nghĩa đối với Tòa án
Xét xử đúng đã là tốt nhưng không phải xét xử mà vẫn giải quyết được
tranh chấp còn tốt hơn, vì vậy hòa giải luôn được khuyến khích khi giải quyết vụ
án dân sự. Trong trường hợp hòa giải thành, Tòa án giảm bớt được nhiều thời
gian, công sức, tiền của cho việc giải quyết vụ án dân sự. Việc hòa giải thành
được thực hiện trước khi mở phiên tòa sẽ giúp cho Tòa án giảm bớt được nhiều
thủ tục tố tụng phức tạp và khó khăn như phiên tòa sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm,
thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm và các thủ tục tố tụng quay lại và
giai đoạn thi hành án. Mặt khác, các quyết định của Tòa án công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự thường được thực hiện dứt điểm. Việc khiếu nại, kháng
nghị quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ít khi xảy ra. Trong
thực tiễn, nhiều vụ án đưa ra xét xử đã bị kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại nhiều
lần. Việc giải quyết những vụ án này kéo dài rất phức tạp, tốn kém tiền của, công
sức, thời gian của Nhà nước và đương sự. Thực tiễn cho thấy, thông qua hòa giải
một số lượng lớn các vụ án dân sự đã được giải quyết. Mặt khác, trong trường
hợp hòa giải thành, các đương sự đã thuận được với nhau về nội dung tranh chấp
nên cũng thường tự nguyện thi hành các nghĩa vụ của mình. Do đó, việc thi hành
16
hành các cam kết với ý thức tự nguyện cao, mà không cần có sự tác động của cơ
quan Nhà nước, và do đó việc thi hành án trở nên đơn giản dễ dàng, nhanh gọn
không có những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
17
Như vậy, hòa giải góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự công bằng xã
hội, làm cho mối quan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh, mà bằng
giáo dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội.
1.2 Cơ sở của hòa giải vụ án dân sự
1.2.1 Cơ sở lý luận
Xuất phát từ việc giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội là mục đích cao
nhất trong xã hội văn minh đề cao quyền con người thì phương thức thỏa thuận
giải quyết tranh chấp là phương thức văn minh nhất và được các chủ thể trong
quan hệ xã hội hướng tới. Bản chất của quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động là sự tự nguyện, bình đẳng, tự thỏa thuận
và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự;
không bên nào được lừa dối, ép buộc, cưỡng ép bên kia xác lập, thực hiện các
giao dịch trái với ý chí chủ quan của họ. Trong quan hệ pháp luật này thì chính
các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật có quyền và lợi ích về dân sự do vậy họ
có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết quyền và lợi ích
hợp pháp của mình khi có tranh chấp. Đồng thời, phạm vi ảnh hưởng của các
quan hệ này chỉ mang tính riêng biệt đối với những đương sự có quyền và lợi ích
liên quan, và vị thế của các chủ thể là bình đẳng với nhau mà hòa giải vụ án dân
sự là một đặc trưng của luật TTDS, được pháp luật TTDS quy định mà không
được pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tố tụng hành chính quy định. Sở dĩ có
sự khác nhau này là vì trong tố tụng hình sự, quan hệ pháp luật được giải quyết
trong vụ án là quan hệ hình sự giữa Nhà nước với bị can, bị cáo (người thực hiện
hành vi phạm tội); còn trong tố tụng hành chính, mối quan hệ pháp luật cần giải
dân sự, đồng thời xuất phát từ vai trò của Nhà nước trong việc đứng ra dàn xếp
các tranh chấp trong đời sống xã hội để bảo đảm trật tự xã hội và quyền tự định
đoạt của các đương sự trong TTDS mà hòa giải vụ án dân sự được quy định là
hoạt động bắt buộc của tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự.
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp phát
sinh trong đời sống xã hội. Phương thức hòa giải đã hình thành một cách khách
quan trước yêu cầu của đời sống kinh tế xã hội và chịu sự tác động sâu sắc của
các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, tập quán trong từng giai đoạn phát triển lịch
sử. Các tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thường có tình có lý, đảm bảo
quyền lợi của các bên và đặc biệt hòa giải là phương thức hàn gắn tình cảm và
giữ gìn tình đoàn kết của các bên có tranh chấp. Do vậy mà phương thức hòa giải
đã thể hiện được truyền thống đoàn kết từ lâu đời của dân tộc ta. Xuất phát từ sự
tồn tại thực tế của hòa giải và tính hiệu quả của phương thức giải quyết tranh
chấp bằng hòa giải, Nhà nước đã thừa nhận và luật hóa các quy định về hòa giải
19
trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và trong đó, phải kể đến việc hòa giải đã
trở thành một nguyên tắc trong pháp luật TTDS, mọi quan hệ phát sinh trong quá
trình hòa giải các vụ án dân sự đều được pháp luật điều chỉnh.Vì vậy hòa giải là
một vấn đề nhất thiết phải được đặt ra trong TTDS, điều đó vừa phù hợp với mục
tiêu chính trị của nhà nước, vừa phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc.
Thêm vào đó, việc luật hóa các quy định về hòa giải là phù hợp với xu thế
chung của thời đại. Trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế diễn ra mạnh
mẽ, giao lưu dân sự kinh tế ngày càng phát triển đa dạng, đan xen và phức tạp,
việc giải quyết các tranh chấp nói chung và các vụ án dân sự nói riêng bằng biện
pháp hòa giải đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng để giải quyết hòa bình,