Pháp luật đào tạo nghề và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại tòa án nhân dân quận 10, quận thủ đức thành phố hồ chí minh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VŨ TRỌNG ĐAN

PHÁP LUẬT ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ THỰC TIỄN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN 10 - QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ THÚY LÂM

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng kính trọng sâu sắc tới
PGS. TS Trần Thị Thúy Lâm - ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn em hoàn thành Luận
văn. Với sự hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình của Cô đã giúp em vƣợt qua những khó
khăn trong quá trình thực hiện Luận văn này.
Một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội đã truyền đạt cho em những kiến thức hữu ích trong
những năm học đã qua. Đặc biệt là các thầy, cô giáo trong tổ bộ môn Luật Lao
động, những ngƣời đã truyền đạt kiến thức để giúp cho em có thể hoàn thành khóa
luận này.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, mặc dù đã có rất nhiều
cố gắng song không thể tránh khỏi còn những hạn chế và thiếu sót. Kính mong Quý

1.1.1. Khái niệm ..................................................................................................7
1.1.2. Đặc điểm của đào tạo nghề .....................................................................10
1.1.3. Ý nghĩa đào tạo nghề ..............................................................................12
1.2. Phân loại đào tạo nghề ...................................................................................16
1.3. Đào tạo nghề theo pháp luật một số nƣớc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ....18
1.4. Đào tạo nghề theo pháp luật Việt Nam ..........................................................21
1.1.4. Các hình thức đào tạo nghề .....................................................................21
1.4.2. Hợp đồng đào tạo nghề ...........................................................................24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ..................................................................................................27
Chƣơng 2: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI
TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 VÀ
QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .......................................................28
2.1. Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp về đào tạo nghề tại
TAND ....................................................................................................................28
2.1.1. Tranh chấp về đào tạo nghề và sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp
đào tạo nghề tại Tòa án .....................................................................................28
2.1.2. Giải quyết tranh chấp đào tạo nghề tại tòa án .........................................33


2.2. Thực tiễn tình hình giải quyết tranh chấp đào đào nghề tại TAND quận 10
và quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh .........................................................52
2.2.1. Những kết quả đạt đƣợc ..........................................................................52
2.2.2. Những điểm còn tồn tại và nguyên nhân ...............................................56
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ..................................................................................................63
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TÒA ÁN VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI
TAND QUẬN 10 VÀ QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................64
3.1. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về đào tạo nghề và
giải quyết tranh chấp đào tao nghề tại Tòa án.......................................................64


: Hội đồng xét xử

HGVLĐ

: Hòa giải viên lao động

HTND

: Hội thẩm nhân dân

NLĐ

: Ngƣời lao động

NSDLĐ

: Ngƣời sử dụng lao động

QHLĐ

: Quan hệ lao động

TAND

: Tòa án nhân dân

TC

: Tranh chấp

giữa ngƣời lao động với ngƣời sử dụng lao động là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị
sức lao động. Những lợi ích đối lập giữa NLĐ và NSDLĐ sẽ trở thành những mâu
thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hòa đƣợc quyền lợi của nhau. Do vậy,
tranh chấp lao động kể cả trong quan hệ đào tạo nghề xảy ra là điều dễ nhận thấy.
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, khi các tranh chấp lao động
phát triển cả về số lƣợng, quy mô và hình thức thì các tranh chấp lao động cá nhân
về đào tạo nghề theo đó cũng tăng nhanh ở hầu hết các thành phần kinh tế. Nếu có
một cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thích hợp, thấu đáo thì chỉ có tại
hệ thống Tòa án nhân dân. Đây là con đƣờng giải quyết tranh chấp không chỉ bảo vệ
đƣợc quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân ngƣời lao động mà còn góp phần củng
cố, bảo vệ các quan hệ sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển.


2
Cùng với những nỗ lực của Nhà nƣớc và các nhà làm luật, các quy định của
pháp luật về tranh chấp và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân về đào tạo nghề
tại tòa án đã đạt đƣợc hoàn thiện đáng kể, tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết, phần nào
đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt
đƣợc thì việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân về đào tạo nghề tại tòa án trong
thực tế hiện nay còn gặp một số vƣớng mắc mà nguyên nhân chính xuất phát từ
những thiếu sót, mâu thuẫn của các quy định pháp luật. Mặt khác, hệ thống cơ quan
tòa án đôi khi vẫn còn lúng túng, sai sót trong việc giải quyết nên trong nhiều
trƣờng hợp quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời lao động vẫn chƣa đƣợc bảo vệ.
Do vậy, việc nghiên cứu cả về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn về tranh
chấp lao động nói chung và tranh chấp lao động cá nhân về đào tạo nghề nói
riêng nhằm khắc phục những điểm yếu, những điểm không phù hợp với tình hình
thực tế đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các bên tham gia quan hệ đào
tạo nghề. Đây là một vấn đề cấp bách đặt ra cho cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền và cũng là một nội dung quan trọng để các nhà làm luật hết sức quan tâm.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài: "Pháp luật

về đào tạo nghề tại Tòa án.
Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đào tạo nghề cũng nhƣ pháp luật về
đào tạo nghề.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết
tranh chấp về đào tạo nghề tại Tòa án, đặt trong mối quan hệ với các quy định pháp
luật trƣớc đó cũng nhƣ thực tiễn giải quyết tại TAND quận 10 và quận Thủ Đức
- Nghiên cứu về các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đào tạo nghề
cũng nhƣ giải quyết tranh chấp về đào tạo nghề tại tòa án. Đồng thời đƣa ra các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đào tạo nghề tại TAND quận 10
và quận Thủ Đức.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đào tạo nghề là một lĩnh vực rộng gồm nhiều mối quan hệ giữa các chủ thể
khác nhau và mục đích khác nhau. Luận văn này chủ yếu nghiên cứu đào tạo nghề
cũng nhƣ tranh chấp về đào tạo nghề dƣới góc độ của luật lao động và tập trung vào
mối quan hệ về đào tạo nghề giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động với
mục tiêu ngƣời lao động làm việc cho doanh nghiệp ( tức là đào tạo nghề gắn với


5
quan hệ lao động). Vì vậy những quan hệ đào tạo nghề giữa ngƣời học nghề với cơ
sở dạy nghề đơn thuần sẽ không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu các quy phạm pháp luật về giải quyết
tranh chấp lao động tại tòa án nhân dân theo BLTTDS năm 2015, và thực tiễn áp
dụng giải quyết các tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân quận 10 và quận Thủ
Đức trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm của
Đảng và Nhà nƣớc ta về Nhà nƣớc và pháp luật, về quyền con ngƣời và quyền công

nghề tại tòa án và các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về đào tạo
nghề tại TAND quận 10 và quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh


7

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của đào tạo nghề
1.1.1. Khái niệm
Khái niệm nghề: “Nghề” là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất
trong xã hội. Tuy nhiên cũng có rất nhiều quan niệm về thuật ngữ này. Tác giả
E.A.Klimov cho rằng: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất
và tinh thần của con ngƣời một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân
công lao động mà có). Nó tạo cho con ngƣời khả năng sử dụng lao động của mình
để thu lấy những phƣơng tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”.1
Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: “Những chuyên môn có những đặc điểm
chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là
nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức
mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng
cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu
và lợi ích của con người”.2
Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998 định nghĩa nghề nhƣ sau: “Nghề là
công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội”.
Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu Nghề là một dạng lao động vừa mang
tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (đáp ứng nhu cầu bản thân)
trong đó con ngƣời với tƣ cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những yêu
cầu của xã hội và cá nhân.

động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình. Nói
một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt,
nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) không đƣa ra khái niệm đào tạo nghề mà
đƣa ra khái niệm dạy nghề. Theo đó dạy nghề đƣợc hiểu là cung cấp cho người học
những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc
nghề nghiệp được giao”.4 Ở một số quốc gia trên thế giới, khái niệm đào tạo nghề
thƣờng đƣợc quy định tại Luật Dạy nghề hoặc Bộ luật lao động của quốc gia đó.
Nhƣ theo Luật Dạy nghề của Ðài Loan: “Dạy nghề là bao gồm việc đào tạo trƣớc
khi tham gia quan hệ lao động cho những ngƣời chƣa có việc làm và đào tạo trong
3

C.Mác Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198
/>
4


9
công việc cho những ngƣời đang có việc làm”. Nhƣ vậy theo quy định trên thì việc
dạy nghề của Ðài Loan là hoạt động đào tạo thực hiện trƣớc và trong quá trình
ngƣời lao động làm việc. Luật Dạy nghề của Hàn Quốc thì chỉ quan tâm tới đào tạo
nghề đối với những ngƣời lao động đang làm việc với mục đích nhằm nâng cao tay
nghề của họ: “Ðào tạo nghề là hoạt động đào tạo được thực hiện đối với người lao
động nhằm nâng cao khả năng thực hiện công việc của họ”.5 Bộ luật Lao động của
Pháp lại quan niệm đào tạo nghề có ý nghĩa rộng hơn. Đào tạo nghề là nghĩa vụ
quốc gia, mục đích giúp ngƣời lao động thích ứng với những thay đổi kỹ thuật và
điều kiện lao động, tiếp cận những trình độ văn hóa, nghề nghiệp khác nhau và giúp
cho sự đóng góp tích cực của ngƣời lao động vào sự phát triển kinh tế, văn hóa xã
hội.6 Các quốc gia khác nhau về điều kiện lịch sử và thực tế phát triển tạo nên nhu
cầu xã hội về lĩnh vực đào tạo nghề khác biệt dẫn đến quan niệm về đào tạo nghề

khá hợp lý vì đã nêu đƣợc các hoạt động trong đào tạo nghề đó là hoạt động dạy và
học nghề, nội dung liên quan đến việc trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề
nghiệp và mục đích là giúp ngƣời học nghề có thể tìm đƣợc việc làm hoặc giúp họ
nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Đào tạo nghề là hoạt động phong phú nên đƣợc thực hiện dƣới nhiều hình
thức và các mối quan hệ khác nhau. Đó có thể là quan hệ giữa cơ sở hoạt động giáo
dục nghề nghiệp và ngƣời học thông qua hình thức tuyển sinh theo chỉ tiêu tuyển
sinh do cơ quan quản lý nhà nƣớc về giáo dục nghề nghiệp ở trung ƣơng quy định
(đối với hình thức đào tạo chính quy)9 hoặc thông qua hợp đồng đào tạo giữa ngƣời
đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, lớp đào tạo nghề, tổ chức, cá nhân
với ngƣời học (đối với hình thức đào tạo thƣờng xuyên)10. Trong trƣờng hợp đặc
biệt, quan hệ học nghề là quan hệ giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động
khi doanh nghiệp tuyển ngƣời vào đào tạo để làm việc cho mình, hình thành trên cơ
sở hợp đồng đào tạo11. Nhƣ vậy, không phải trong mọi trƣờng hợp, quan hệ đào tạo
nghề đều có mục tiêu hƣớng đến quan hệ lao động và liên quan đến việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ lao động giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động.
Dƣới góc độ của luật lao động, luận văn này sẽ chủ yếu tập trung nghiên cứu quan
hệ đào tạo nghề giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động.
1.1.2. Đặc điểm của đào tạo nghề
Đào tạo nghề trƣớc hết là hoạt động đào tạo nên cũng có những đặc điểm của
đào tạo nói chung. Tuy nhiên vì là hoạt động đào tạo nghề nên bên cạnh các đặc
điểm chung đó, đào tạo nghề còn có những đặc điểm riêng sau đây:

8

Khoản 2 Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014
Điều 32 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014
10
Điều 39 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014
11

doanh nghiệp. Đây là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nguồn
nhân lực đảm bảo nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con ngƣời mới sáng tạo
ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra đƣợc quá trình sản xuất kinh doanh đó...
Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các
tổ chức đều cần phải có, nhƣng trong đó tài nguyên nhân văn - con ngƣời lại đặc


12
biệt quan trọng. Không có những con ngƣời làm việc hiệu quả thì tổ chức đó
không thể nào đạt tới mục tiêu.
Trong quá trình dạy học, ngƣời học muốn nắm đƣợc nội dung nghề nghiệp
thì phải trực tiếp chứng kiến quá trình sản xuất. Ðào tạo nghề trong doanh nghiệp
nói riêng cũng nhƣ đào tạo nghề nói chung là đào tạo thực hành sản xuất. Mục tiêu
quan trọng nhất của đào tạo nghề là sau khi đƣợc đào tạo ngƣời học có thể trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy trong quá
trình đào tạo kỹ năng thực hành nghề phải đƣợc doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.
Ðiều này đƣợc thể hiện rất rõ trong nội dung, phƣơng pháp và thời gian đào tạo.
Trong nội dung đào tạo có cả lý thuyết và thực hành nhƣng thời gian thực hành bao
giờ cũng phải dài hơn, trong quá trình đào tạo ngƣời học đƣợc tham gia trực tiếp
vào quá trình sản xuất nên họ cũng có thể tạo ra sản phẩm, hoặc góp phần tạo ra sản
phẩm nên họ phải đƣợc doanh nghiệp trả công tƣơng xứng.
- Hoạt động đào tạo nghề diễn ra dƣới nhiều hình thức vô cùng đa dạng,
phong phú: Theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, mục tiêu của
hoạt động dạy và học nghề là đào tạo các trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình
độ cao đẳng và các chƣơng trình đào tạo nghề nghiệp khác cho ngƣời lao động. Bởi
hình thức tổ chức, quy mô, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế
cũng vô cùng phong phú cho nên với mỗi trƣờng hợp, điều kiện hoạt động của
doanh nghiệp cụ thể lại tƣơng ứng với hình thức đào tạo phù hợp nhằm đem lại hiệu
quả đào tạo cao nhất cho doanh nghiệp.
1.1.3. Ý nghĩa đào tạo nghề

đào tạo nghề nghiệp cơ bản. Nhƣ vậy, đào tạo nghề nghiệp giữ vai trò quyết định
đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực hiện của con ngƣời. Trên cơ sở
năng lực này, ngƣời lao động có khả năng thích ứng đƣợc với những thay đổi của
công nghệ và nền kinh tế (cả tích cực và tiêu cực), điều này góp phần nâng cao năng
suất lao động, tăng trƣởng kinh tế bền vững.
Về vấn đề an sinh xã hội, vai trò của đào tạo nghề tác động trực tiếp tới đảm
bảo an sinh xã hội, nhất là đối với nhóm lao động nông thôn, lao động nghèo.
Thông qua việc trang bị các kiến thức, kỹ năng tối thiểu về nghề nghiệp từ các khoá
đào tạo ngắn hạn, ngƣời lao động nông thôn, nông dân đã có khả năng tìm kiếm
đƣợc việc làm, nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, thoát đƣợc nghèo một


14
cách bền vững. Thông qua các khoá đào tạo, ngƣời nông dân đƣợc trang bị những
kiến thức về khởi sự doanh nghiệp, mạnh dạn theo hƣớng sản xuất hàng hoá, thu hút
thêm lao động tại địa phƣơng vào làm việc. Ðây chính là sự tác động rõ nhất, trực
tiếp nhất của đào tạo nghề đối với an sinh xã hội ở nông thôn nƣớc ta.
Ngoài ra, một trong những nguyên lý cơ bản của ASXH là thực hiện phân
phối lại theo chiều dọc và theo chiều ngang. Phân phối theo chiều dọc là phân phối
giữa thế hệ này với thế hệ khác; phân phối giữa nhóm ngƣời này với nhóm ngƣời
khác theo thời gian (giữa nhóm có thu nhập cao và nhóm có thu nhập thấp; giữa
ngƣời trẻ và ngƣời già…); thậm chí là phân phối lại của chính một ngƣời theo thời
gian. Phân phối theo chiều ngang là phân phối giữa các nhóm xã hội trong cùng một
thời gian… Chính nguyên lý này của ASXH là nền tảng để góp phần thực hiện công
bằng xã hội, góp phần giảm chênh lệch về khoảng cách thu nhập và các điều kiện
sống giữa các nhóm dân cƣ, giữa các vùng miền. Tuy nhiên, để thực hiện đƣợc sự
phân phối này, ngƣời lao động phải có đƣợc thu nhập và phải tăng tỷ lệ ngƣời có
thu nhập cao. Trong bối cảnh kinh tế thị trƣờng, thu nhập cao chỉ có thể có đƣợc
một cách bền vững, khi ngƣời lao động đƣợc trang bị những kỹ năng nghề nghiệp
và kỹ năng thích ứng (kỹ năng mềm) cần thiết.

đƣợc tuyển vào hoặc nhân viên cũ làm công việc mới. Phƣơng cách tốt nhất là đào
tạo ngƣời lao động của mình sao cho theo kịp tiến độ phát triển nhanh chóng của
thời đại, để đào tạo nghề trong doanh nghiệp là cơ sở giúp doanh nghiệp tạo lợi thế
cạnh tranh cho mình.
Khi ngƣời lao động đã đủ trình độ để thực hiện công việc của mình, họ sẽ
làm tăng năng suất lao động, nâng cao ý thức hành vi lao động của mình, giúp
doanh nghiệp giảm bớt đƣợc số lƣợng cán bộ giám sát trong bộ phận giám sát và
làm giảm các chi phí cho tổ chức.
Nhƣ vậy, đào tạo nghề trong doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với
hoạt động cũng nhƣ sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đối với một tổ chức
thì quan hệ giữa tổ chức đó với ngƣời lao động sẽ đƣợc cải thiện, gắn kết với nhau
hơn, nâng cao tính ổn định và năng động của doanh nghiệp, thỏa mãn mong muốn
cao nhất của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận của mình.
- Đối với người lao động: Khi đã đƣợc đào tạo nghề họ sẽ làm việc với tinh
thần tự tin hơn vào tay nghề của mình. Bởi mục đích của đào tạo là củng cố và nâng


16
cao trình độ tay nghề của ngƣời lao động để đáp ứng nhu cầu công việc, tạo ra tính
chuyên nghiệp cho họ. Nói tóm lại, ngƣời lao động đƣợc trang bị thêm kiến thức tạo
ra sự thích ứng với công việc mà doanh nghiệp yêu cầu cũng nhƣ trong tƣơng lai.
Ngƣời lao động sẽ nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của mình trong tổ chức, từ đó
tạo ra một sợi dây liên kết vô hình gắn kết giữa họ với doanh nghiệp. Điều quan
trọng là nó sẽ tạo ra động lực làm việc - là cơ sở đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng
phát triển của họ. Đào tạo và phát triển tạo ra cho ngƣời lao động cách nhìn đúng
đắn, tƣ duy mới trong công việc của họ và cũng là cơ sở phát huy tính sáng tạo của
ngƣời lao động hoạt động làm nghề.
1.2. Phân loại đào tạo nghề
Dƣới góc độ hoạt động đào tạo nghề trong doanh nghiệp có thể phân loại đào
tạo nghề theo các tiêu chí sau đây:

- Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật thƣờng đƣợc tổ chức
định kỳ nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật cập nhật với các kiến
thức, kỹ năng mới.
- Đào tạo và phát triển các năng lực quản trị nhằm giúp cho các quản trị gia
đƣợc tiếp xúc, làm quen với các phƣơng pháp làm việc mới, nâng cao kỹ năng thực
hành và các kinh nghiệm tổ chức quản lý và khuyến khích nhân viên trong doanh
nghiệp. Chƣơng trình thƣờng chú trọng vào các kỹ năng thủ lĩnh, kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng phân tích và ra quyết định.
Căn cứ vào đối tượng đào tạo gồm có:
- Đào tạo mới là áp dụng đối với các ngƣời lao động phổ thông, chƣa có trình
độ lành nghề mặc dù ngƣời lao động có thể mới lần đầu đi làm việc hoặc đã đi làm
việc nhƣng chƣa có kỹ năng để thực hiện công việc.
- Đào tạo lại là đào tạo đối với những lao động đã có kỹ năng, trình độ lành
nghề nhƣng cần đổi nghề do yêu cầu của doanh nghiệp.
- Đạo tạo nâng cao trình độ lành nghề là đào tạo cho những ngƣời đã có nghề
nhƣng tiến tới nâng cao chuyên môn của họ để họ có khả năng làm đƣợc những
công việc phức tạp hơn, yêu cầu trình độ cao hơn.
Theo địa điểm hoặc nơi đào tạo có hình thức: đào tạo tại nơi làm việc và đào
tạo ngoài nơi làm việc.
- Đào tạo tại nơi làm việc là doanh nghiệp: là hình thức đào tạo đƣợc thực
hiện trong doanh nghiệp, có thể là đào tạo trong chƣơng trình hội nhập nhân viên


18
mới nhƣ đào tạo về chuyên môn, về môi trƣờng làm việc của doanh nghiệp, cũng có
thể là đào tạo trong quá trình làm việc. Đây là hình thức đào tạo nhằm bổ sung,
nâng cao kiến thức, kỹ năng cho ngƣời lao động để họ có thể thực hiện tốt hơn công
việc hiện tại và tƣơng lai.
- Đào tạo ngoài nơi làm việc: đây là hình thức đào tạo và phát triển nhân lực
đƣợc thực hiện ở các tổ chức bên ngoài doanh nghiệp. Doanh nghiệp gửi ngƣời lao

tạo nghề ở Hàn Quốc đƣợc phân thành hai loại hình là đào tạo chuẩn và các loại đào
tạo khác. Trong đó đặc biệt quan tâm tới đào tạo nghề giải quyết việc làm cho ngƣời
thất nghiệp. Những tổ chức đào tạo nghề phải tiến hành đào tạo nghề để tìm việc
làm cho ngƣời thất nghiệp, cho những thanh niên không có điều kiện học cao hơn,
những ngƣời thuộc đối tƣợng hƣởng lợi theo quy định của Luật bảo đảm thu nhập
cơ bản, nông dân, ngƣ dân, ngƣời chuyển đổi sang nghề khác, những ngƣời đã và sẽ
xuất ngũ sau thời gian phục vụ quân đội, đào tạo nghề cho những ngƣời không nơi
nƣơng tựa nhằm giúp họ có thể tự nuôi dƣỡng bản thân”.13 Ðồng thời còn quan tâm
tới đào tạo các đối tƣợng là “những ngƣời thất nghiệp, những ngƣời bị mất việc làm
do điều chỉnh hay do thay đổi việc làm hoặc vì các lý do khác để họ đƣợc tuyển
dụng lại”. Ngoài ra, Luật Dạy nghề Hàn Quốc còn quy định: “Ngƣời đứng đầu các
cơ sở đào tạo nghề phải mở các khóa đào tạo đặc biệt để mở rộng cơ hội học nghề
cho những thanh niên không có điều kiện tiếp tục theo học các trƣờng phổ thông
bậc cao hơn, ngƣời tàn tật, ngƣời già, phụ nữ làm công việc nội trợ...”. Từ các quy
định trên có thể thấy Luật Dạy nghề Hàn Quốc rất quan tâm tới công tác đào tạo
nghề. Ngoài ra còn quan tâm “trợ giúp cho các hoạt động dạy nghề cho các công ty
để khuyến khích các thành phần kinh tế khác nhau tham gia vào hoạt động dạy
nghề”, trợ giúp cho việc phát triển kỹ năng nghề độc lập bằng cách “Bộ Trƣởng Bộ
Lao động sẽ cho họ vay hoặc trợ cấp chi phí đào tạo để ngƣời lao động sau khi đƣợc
tuyển dụng vào làm việc cố gắng cải thiện và nâng cao năng lực nghề nghiệp của
mình”. Nguồn tài chính để thực hiện việc trợ giúp và cho vay để hoạt động dạy
nghề đƣợc trích từ Quỹ Bảo đảm việc làm theo Luật Bảo đảm việc làm của Hàn
Quốc. Cùng với các quy định trên về các chính sách đối với đào tạo nghề, phƣơng
pháp đào tạo nghề Hàn Quốc còn quy định chính sách báo cáo và thanh tra về công
tác đào tạo nghề: “Khi cần thiết, Bộ trƣởng Bộ Lao động có thể đề nghị các cơ sở
đào tạo nghề nộp các tài liệu, báo cáo để thanh tra các tài liệu có liên quan”. Ðồng
13

Điều 16, Hàn Quốc (1997), Luật Dạy nghề Hàn Quốc (số 5474 ngày 24/12/1997, đƣợc sửa đổi, bổ sung
bằng Luật 6455 ngày 28/3/2001)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status