Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh tại các trường tiểu học quận thủ đức thành phố hồ chí minh - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thò Mai Thu

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CỦA
HỌC SINH
TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH

Chuyên ngành

: Quản lý giáo dục

Mã số

: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HUỲNH VĂN SƠN

Thành phố Hồ Chí Minh -2009


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là một động lực quan trọng quyết đònh sự phát triển của đất nước. Nghò
quyết Trung ương 2 khoá VIII đã khẳng đònh:“ Muốn tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại

nảy sinh một yêu cầu và cũng là một quá trình: sự lónh hội độc lập các tri thức và phát triển
kó năng. Do đó quản lí hoạt động dạy học theo đònh hướng phát huy tính tích cực nhận thức
cho học sinh là một yêu cầu cần thiết trong công tác quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu
trưởng Trường TH nói chung và Hiệu trưởng các trường TH Quận Thủ Đức nói riêng.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của
Hiệu trưởng theo đònh hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh tại các
trường TH Quận Thủ Đức” được xác lập.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng theo đònh
hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh tại các trường TH Quận Thủ Đức –
Thành phố Hồ Chí Minh, một số nguyên nhân của thực trạng này và đề xuất những biện
pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí hoạt động dạy học của Hiệu trưởng theo đònh
hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học ở TH của cán bộ quản lý theo đònh hướng phát
huy tính tích cực nhận thức của học sinh trong các trường TH quận Thủ Đức - Thành phố Hồ
Chí Minh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng theo đònh hướng phát huy tính
tích cực nhận thức của học sinh tại các trường TH Quận Thủ Đức –Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường TH vẫn
còn nặng tính hình thức; công tác tổ chức, kiểm tra hoạt động dạy học chưa được quan tâm


sâu sắc. Đa số các Hiệu trưởng vẫn còn thói quen quản lý theo nề nếp cũ, còn nhiều bất cập
dẫn đến hiệu quả chưa cao, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục – đào tạo trong
giai đoạn hiện nay.



Phiếu điều tra dành cho cán bộ quản lý gồm 6 câu hỏi nhằm điều tra thực trạng quản

lý hoạt động dạy học theo đònh hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, những
thuận lợi và khó khăn, các nguyên nhân và biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo đònh
hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh có hiệu quả. Số lượng phiếu khảo sát
40 phiếu, thu về 35 phiếu.
+ Mẫu 2:
- Phiếu điều tra dành cho giáo viên gồm 5 câu hỏi nhằm tìm hiểu nhận thức và mức độ
thực hiện, thuận lợi, khó khăn và biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo đònh hướng
phát huy tính tích cực của học sinh. Số lượng phiếu khảo sát 200 phiếu, thu về 181 phiếu.
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn
- Trò chuyện với CBQL, giáo viên về thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học
theo đònh hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh ở các trường TH quận Thủ
Đức, thành phố Hồ Chí Minh (CBQL:30 người, GV: 20 người).
6.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Tham khảo giáo án của giáo viên và phiếu dự giờ của BGH, TTCM các trường TH
quận Thủ Đức.

6.2.5. Phương pháp thống kê toán học
- Xử lý kết quả điều tra khảo sát nhằm đánh giá thực trạng và đònh hướng nâng cao
hiệu quả công tác quản lý hoạt động dạy học theo đònh hướng phát huy tính tích cực nhận
thức của học sinh.
7. Giới hạn đề tài
7.1. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu công tác Quản lý hoạt động dạy học
của Hiệu trưởng theo đònh hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh tại các
trường TH ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
7.2. Đòa bàn nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu ở tất cả các trường TH gồm 20 trường TH
ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.


P.V.Zimin, M.I.Konđakôp, N.I.Saxerđôtốp đã đi sâu nghiên cứu công tác lãnh đạo hoạt
động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong công tác
quản lý của hiệu trưởng [26, tr.28].
Đối với việc tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy của giáo viên, tác giả
V.A.Xukhomlinxki đã thừa nhận tầm quan trọng của biện pháp này và chỉ rõ thực trạng yếu
kém của việc phân tích sư phạm bài dạy, cho dù hoạt động dự giờ và góp ý với giáo viên
sau giờ dự của hiệu trưởng diễn ra thường xuyên. Từ thực trạng đó, tác giả đã đưa ra nhiều
cách phân tích sư phạm bài dạy của giáo viên.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học được nhiều
tác giả như Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chúng, Hà Só Hồ và Lê Tuấn, Nguyễn Văn Lê,
Hoàng Tâm Sơn, Nguyễn Văn Tường… quan tâm nghiên cứu. Các tác giả đã nghiên cứu và
đi sâu vào những bình diện khác nhau nhưng đều nhằm giải quyết mối quan hệ giữa giáo
viên và nhà quản lý, những nội dung quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng.
Tác giả Nguyễn Văn Lê, trong cuốn: “Khoa học quản lí nhà trường” đã đề cập đến
phương pháp tổ chức và quản lí nhà trường trên mọi lónh vực: giảng dạy, học tập, hướng
nghiệp, công tác quản lí nội bộ, đi sâu vào các công việc và sự quan tâm thiết thực của
người hiệu trưởng [23].
Tác giả Hà Só Hồ và Lê Tuấn khi nghiên cứu về mục tiêu, nội dung, biện pháp quản
lý nhà trường cũng đã khẳng đònh: “Việc quản lý hoạt động dạy và học (hiểu theo nghóa
rộng) là nhiệm vụ quản lý trung tâm của nhà trường” và “Người Hiệu trưởng phải luôn luôn
kết hợp một cách hữu cơ quá trình dạy và học” [17].
Nói tóm lại, nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu việc quản lý hoạt động dạy học của
hiệu trưởng. Một số luận văn cũng quan tâm đến đề tài quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng
cao chất lượng dạy học. Tuy nhiên đa số các luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu công
tác quản lý các hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng trường TH. Một số luận văn thạc só
nghiên cứu về “biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn Tiếng việt bậc
TH” – Trần Thò Sáu (2006). Huỳnh Thò Kim Trang với đề tài: “Thực trạng về công tác quản
lý việc dạy và học ở trường TH của một số Phòng Giáo dục – Đào tạo quận (huyện) tại



và diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi người”.
Dạy học là hoạt động thống nhất hữu cơ của dạy và học, trong đó hoạt động dạy là
hoạt động nhằm tổ chức hoạt động học mà kết quả là người học lónh hội được kiến thức, kó
năng, kó xảo và phát triển năng lực nhận thức, hình thành những cơ sở ban đầu của thế giới
quan và nhân sinh quan đúng đắn. Hoạt động học là hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi ngay
trong chính bản thân của người học những nhận thức mới về thế giới quan, về cuộc sống.
Tóm lại: Hoạt động dạy học là một hoạt động trong đó dưới tác động chủ đạo (tổ
chức, điều khiển, lãnh đạo) của thầy, học sinh tự giác, tích cực tổ chức tự điều khiển hoạt
động nhận thức, nhằm thực hiện tốt các hoạt động dạy học.
1.2.1.2 Hoạt động dạy học ở trường TH
a. Khái niệm về trường TH
Trường TH là đơn vò cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân nước Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghóa Việt Nam trực tiếp đảm nhiệm việc giáo dục từ lớp 1 đến lớp 5 cho trẻ em từ 6
đến 14 tuổi, nhằm hình thành ở học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân
cách con người Việt Nam Xã Hội Chủ Nghóa theo mục tiêu giáo dục TH. Trường TH có tư
cách pháp nhân và con dấu riêng.
b. Mục tiêu dạy học TH
Phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở học sinh lòng
ham hiểu biết và những đức tính, kó năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học
tập tốt. Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập TH trong cả nước, tăng tỷ lệ huy động học
sinh trong độ tuổi đến trường từ 97% năm 2005 và 99% năm 2010 [2].
Giáo dục TH nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kó năng cơ bản để học
sinh tiếp tục học trung học cơ sở [25].
Từ mục tiêu này, học sinh học xong bậc TH phải đạt được những yêu cầu sau:
- Có lòng nhân ái, mang bản sắc con người Việt nam: yêu quê hương, đất nước, hòa
bình và công bằng bác ái, kính trên , nhường dưới, đoàn kết và sẵn sàng hợp tác với mọi


người; có ý thức về bổn phận của mình với người thân, bạn bè, cộng đồng, môi trường sống;

của học sinh.
+ Tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước trong khu vực và trên thế giới.
Nội dung chương trình TH mới được soạn thảo hiện đại, tinh giản, thiết thực và cập
nhật sự phát triển của khoa học – công nghệ, kinh tế- xã hội, tăng cường thực hành vận
dụng, gắn bó với thực tiễn Việt Nam, tiến kòp trình độ phát triển chung của chương trình
giáo dục phổ thông của các nước trong khu vực và quốc tế.
d. Đổi mới phương pháp dạy học ở TH
 Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là hệ thống những cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh
nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học xác đònh.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học.
- Phương pháp dạy: Phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển các hoạt
động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức và thái độ đúng đắn cho học sinh.
- Phương pháp học: Phương pháp nhận thức và rèn luyện để hình thành hệ thống tri
thức và kó năng thực hành, hình thành nhân cách người học.
Hai phương pháp này không tồn tại độc lập, tách rời nhau mà nó liên quan và phụ
thuộc nhau, chúng vừa là mục đích vừa là nguyên nhân tồn tại của nhau.
 Bản chất của phương pháp dạy học mới:
Cùng với việc đổi mới của mục tiêu, nội dung chương trình TH, và cách đánh giá
kết quả học tập của học sinh, phương pháp dạy học cũng buộc phải thay đổi theo. Đổi mới
phương pháp dạy học là nội dung hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và
học.
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dục
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới cách thực hiện phương pháp dạy học sẽ làm
thay đổi tận gốc nếp nghó, nếp làm của các thế hệ học trò – chủ nhân tương lai của đất
nước. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình
giáo dục và đào tạo. Nó tạo ra sự hiện đại hóa của quá trình này.


Đổi mới phương pháp dạy học thực chất không phải là sự thay thế các phương pháp

cho đúng cách làm, cách tiến hành các phương pháp dạy học,và các linh hoạt sáng tạo trong
sử dụng nó ở những hoàn cảnh và tình huống khác nhau để những phương pháp dạy học có
tác động tích cực đến người học. Những phương pháp như thế mới được gọi là phương pháp
tích cực. Như vậy, tính tích cực của phương pháp không nằm ở tên gọi mà nằm ở quá trình
sử dụng nó.
Nội dung và phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau. Muốn phát triển
các kỹ năng giao tiếp, người học phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự
hướng dẫn của người dạy. Đó chính là lý do ra đời của phương pháp dạy học mới, trong đó
người dạy đóng vai trò người tổ chức hoạt động – mỗi người học đều được hoạt động, để
khẳng đònh mình và được phát triển.
Đổi mới phương pháp dạy học theo đònh hướng của đổi mới mục tiêu giáo dục hiện
nay, về bản chất là sự đổi mới cách thức tổ chức dạy học theo hướng “phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh”. Sao cho người học thực sự trở thành chủ thể tích cực,
tự giác trong hoạt động của chính mình.
Đổi mới phương pháp dạy học còn là sự kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo giữa kinh
nghiệm của giáo viên - tích cực phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền
thống với những yếu tố mới của phương pháp dạy học hiện đại.
1.2.2. Tính tích cực nhận thức và dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận
thức
1.2.2.1. Tính tích cực nhận thức
1.2.2.1.1. Khái niệm về tính tích cực
Theo từ điển tiếng Việt, tính tích cực gồm ba nghóa:
- Một là: Có ý nghóa, có tác dụng khẳng đònh, thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực.
- Hai là: tính chủ động có những hoạt động nhằm tạo ra những biến đổi theo phương
hướng phát triển.
- Ba là: hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc.


Tính tích cực dưới góc độ triết học (duy vật biện chứng), theo Mác –Ăngen, V.I.Lênin:
“Tính tích cực có nguồn gốc từ yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, trong đó yếu tố bên

- Động cơ, nhu cầu, hứng thú hoạt động chính là nguồn gốc bên trong của tính
tích cực, là động lực thúc đẩy con người hoạt động.
- Tính tích cực là sự cố gắng, nỗ lực, vượt khó của chủ thể để đạt được mục đích
đã vạch ra.
Đây cũng là nội hàm của khái niệm công cụ để chúng tôi nghiên cứu tính tích cực
của con người trong đó có tính tích cực nhận thức của học sinh TH.

1.2.2.2. Khái niệm về tính tích cực nhận thức
a. Khái niệm về tính tích cực nhận thức
TTCNT (tính tích cực nhận thức) cũng là một khái niệm được nhiều tác giả đề cập,
nghiên cứu và phân tích. Để làm rõ khái niệm này ta cần xem xét cả về nội hàm cũng như
biểu hiện của nó.
Tác giả.Kharlamov I.F [19] cho rằng, TTCNT là trạng thái hoạt động của học sinh đặc
trưng bởi nguyện vọng học tập, nỗ lực trí tuệ và nghò lực trong quá trình nắm vững tri thức.
Ở đây tác giả đã đặt TTCNT trong hoạt động học tập và phân tích dựa trên biểu hiện về
nhu cầu, ý chí của chủ thể nhận thức để xem xét khái niệm TTCNT cũng như biểu hiện của
nó. TTCNT là một phần phẩm chất nhân cách, một thuộc tính của quá trình nhận thức, giúp
con người thực hiện các nhiệm vụ nhận thức có kết quả cao.
I.I.Samôva xem TTCNT như mục đích hoạt động, phương tiện và kết quả của hoạt
động. Trên thực tế mục đích của việc học tập không phải chỉ là nắm tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo mà là hình thành những phẩm chất nhân cách. Theo tác giả, một trong những phẩm
chất đó chính là TTCNT, được biểu hiện ở tính đònh hướng, tính bền vững của hứng thú
nhận thức, sự cố gắng tím tòi phương thức hiệu quả để nắm vững kiến thức và phương pháp
hành động, tập trung chú ý để đạt được mục đích học tập.


Chenn Rath-Sôpha đã viết trong luận án tiến só (1989): TTCNT là thái độ cải tạo của
chủ thể đối với khách thể, thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, trong
đó có tính độc lập và tư duy sáng tạo của chủ thể.
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo, thì TTCNT là thái độ cải tạo của chủ thể đối với

quyết những vấn đề nhận thức. Tác giả nhấn mạnh khi các chức năng tâm lý được vận dụng
cao nhất để giải quyết các vấn đề học tập thì tính tích cực nhận thức được thể hiện rõ nhất,
cao nhất [5].
Tác giả Nguyễn Kỳ nhấn mạnh tính tích cực nhận thức là sự ham muốn, hứng thú
hoạt động nhận thức của chủ thể. Chính lòng ham muốn hiểu biết đã hình thành lên động cơ
nhận thức. Theo GS. Thái Duy Tuyên thì tính tích cực nhận thức biểu thò sự nỗ lực của chủ
thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập nhằm đạt được các mục đích đã đề ra
[34].
Như vậy có thể thấy rằng tính tích cực nhận thức bao gồm các thành phần: nhận
thức, tình cảm, ý chí hay nói khác đi nó xoay quanh ba mặt: nhận thức, thái độ và hành
động cụ thể. Từ đó, có thể coi tính tích cực nhận thức là một phẩm chất tâm lý của nhân
cách; thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua việc huy động ở mức độ
cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những nhiệm vụ nhận thức.
b. Các biểu hiện hay dấu hiệu của tính tích cực nhận thức
Khái niệm TTCNT khá phong phú và phức tạp cho nên việc xác lập các biểu hiện
của nó cũng không đơn giản. Các biểu hiện của TTCNT cũng được khá nhiều tác giả nhìn
nhận và đề cập khác nhau.
Theo Từ điển sư phạm bách khoa toàn thư của Liên Xô [32] thì sự phát triển của
TTCNT có những dấu hiệu sau:
- Thái độ tích cực đối với thế giới xung quanh.
- Sự ham muốn vượt ra ngoài những gì đã hiểu biết.
- Sự mong mỏi mở rộng phạm vi hiểu biết và sử dụng chúng một cách sáng tạo trong lý
luận.


Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo nhìn nhận và xem xét TTCNT ở bình diện rộng và đã nêu
bật những đặc trưng của TTCNT:
- Lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức
- Đề ra mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi lựa chọn đối tượng
- Cải tạo đối tượng trong hoạt động để giải quyết vấn đề [4].

- Sự nỗ lực vượt khó.
- Mức độ trong quan hệ hợp tác nhằm giúp cho nhận thức sâu hơn.
- Kết quả của hoạt động nhận thức.
Tác giả Đặng Quốc Bảo và Đinh Thò Kim Thoa cho rằng: Trong quá trình lónh hội kiến
thức, kó năng kó xảo ở HS, tính tích cực được thể hiện từ cấp độ thấp nhất đến cấp độ cao
nhất như sau:
Bắt chước: tính tích cực thể hiện ở sự cố gắng làm theo mẫu hành động, thao tác, cử
chỉ hành vi hay nhắc lại những gì trải qua…
Tìm hiểu và khám phá: tính tích cực thể hiện ở sự chủ động hoặc ý muốn hiểu thấu đáo
vấn đề nào đó để sau đó có thể tự giải quyết vấn đề…
Sáng tạo: tính tích cực thể hiện ở khả năng linh hoạt và hiệu quả trong giải quyết vấn
đề…[1]
Đây là ba dấu hiệu cơ bản mà chúng tôi chọn lọc và xác lập làm cơ sở nghiên cứu
TTCNT.
1.2.2.2. Dạy học theo đònh hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS
Xu hướng tích cực hóa trong dạy học là bước tiến trong dạy học. Điểm nổi bật ở mức
dạy học này là dạy học vì sự phát triển của người học, hướng đến sự phát triển mọi tiềm
năng và sự sáng tạo của người học. Đồng thời khai thác, phát huy vai trò chủ thể và tính tích
cực, chủ động của người học trong quan hệ tương tác với người dạy. Trong dạy học hướng
vào người học, người học giữ vai trò chủ động việc học của mình, còn người dạy có chức
năng trợ giúp, với các mức độ khác nhau trong những tình huống cụ thể.
Theo PGS TS Phan Trọng Ngọ: tính tích cực (dạy học hướng vào người học) có hai
cấp độ: cấp độ xã hội và cấp độ cá nhân.Ở cấp độ xã hội, tính tích cực trong dạy học được


thể hiện qua mức độ đáp ứng các yêu cầu về sự phát triển của xã hội và sự phát triển nhân
cách người học, phù hợp với các chuẩn mực, quy đònh chung. Mức độ đáp ứng càng cao, dạy
học càng tích cực và ngược lại. Cấp độ tích cực cá nhân thể hiện qua mức độ đáp ứng nhu
cầu cá nhân của người học, qua đó phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
người học. Trong dạy học cần kết hợp cả hai cấp độ tích cực nêu trên [25, tr.179].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status