Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH TÚ
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Cừ

HÀ NỘI - 2012 3
MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN VÀ HẬU QUẢ PHÁP
LÝ CỦA LY HÔN

7
1.1. Khái niệm ly hôn 7

2.2. Thực trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội
52
2.2.1.

Nhận xét chung 52
2.2.2.

Tình hình ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố 53

4
Hà Nội được nghiên cứu trên một số phương diện
2.3. Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội
60
2.3.1.

Một số nguyên nhân khách quan 60
2.3.2.

Một số nguyên nhân chủ quan 68
2.4. Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 giải
quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội
88
2.4.1.

Các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội
88

Giải pháp từ mỗi cá nhân 115
3.3.4.

Giải pháp kinh tế 115

KẾT LUẬN
117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
119
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật Dân sự
HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa 7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác
nhau. Trong đó, gia đình được coi là sản phẩm của xã hội gắn liền với quá
trình phát sinh, phát triển của xã hội, ở bất kỳ chế độ xã hội nào thì gia đình
đều thực hiện những chức năng xã hội cơ bản của nó với vai trò là tế bào của
xã hội.
Sớm nhìn thấy vai trò nền tảng của gia đình và mối liên hệ hữu cơ
giữa gia đình và xã hội, sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã chỉ rõ: Quan tâm
đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì
gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Điều đó nói lên rằng phát
triển xã hội cùng với việc xây dựng xã hội mới phải quan tâm thường xuyên
đến việc củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ). Tuy nhiên, trong
những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự bùng
nổ của thời đại công nghệ thông tin và cùng với sự du nhập của nhiều luồng
văn hóa, tư tưởng, lối sống phương Tây đã làm thay đổi rất nhiều quan điểm,
lối sống và lý tưởng ở mỗi người, đặc biệt là trong quan hệ gia đình biểu hiện
rõ nhất là số vụ ly hôn ngày càng gia tăng.
Luật HN&GĐ năm 2000 của Nhà nước ta có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 01 năm 2001 đến nay đã được hơn 10 năm. Quá trình thi hành và áp
dụng Luật đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần xây dựng và củng cố
chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa, xây dựng chuẩn mực pháp lý
cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, xây dựng gia đình dân
chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp
pháp cho các đương sự. Thực tế cho thấy, các tranh chấp từ quan hệ HN&GĐ
xảy ra rất nhiều, trong đó các vụ việc ly hôn chiếm trên 90%.


9
(Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ Luật học, 2005); "Xác định chế độ tài sản
của vợ chồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nguyễn Hồng Hải, Luận
văn Thạc sĩ, 2002); "Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam"
(Vũ Thị hằng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2006); "Căn cứ pháp lý và thủ tục
giải quyết các vụ kiện ly hôn tại Tòa án Việt Nam" (Nguyễn Thị Túy Hoa,
Luận văn Thạc sĩ Luật học); "Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000" (Nguyễn Thị Lan, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, 2012)… Các công trình này có nghiên cứu liên quan đến vấn đề
chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn mà chưa nghiên cứu tổng thể về vấn đề ly
hôn nói chung.
- Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo:
Có một số công trình tiêu biểu như: "Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" (Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị
Hường, 2002, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); "Bình luận khoa học Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam" (Nguyễn Ngọc Điện, 2002, Nxb Trẻ, thành
phố Hồ Chí Minh); "Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam" (Đinh Thị Mai Phương - Chủ biên, 2004, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội); "Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" (Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2008)… Những công trình khoa học này thường thiên về bình
luận, giải thích Luật HN&GÐ mà chưa nghiên cứu sâu về tình hình ly hôn,
hậu quả pháp lý của ly hôn và thực tiễn áp dụng Luật HN&GÐ giải quyết các
vụ án ly hôn cũng như chưa đề cập đến các giải pháp nhằm hạn chế ly hôn ở
một địa phương cụ thể.
- Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí:
Một số bài viết tiêu biểu phải kể đến như: "Căn cứ ly hôn trong Cổ
luật Việt Nam" (Nguyễn Thị Thu Vân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
8/2005); "Áp dụng quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 để giải quyết" (Nguyễn Văn Chung, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/2008);

+ Đánh giá chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ năm 2000 trong việc
giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng từ đó tìm hiểu
một số những vướng mắc, hạn chế, nguyên dẫn đến ly hôn.
+ Đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc ly hôn hiện nay tại TAND quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân đặc biệt là các quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải
cách tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp của triết học duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử mácxít, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể.
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp của bộ môn khoa học khác như thống
kê, so sánh.
5. Những đóng góp của luận văn
- Luận văn phân tích khái niệm, căn cứ ly hôn trong pháp Luật
HN&GĐ Việt Nam qua các thời kỳ và có sự so sánh để đưa ra những nhận
định và đánh giá về căn cứ ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn.
- Đánh giá thực trạng chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam
năm 2000 trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội trong những năm qua.

12
- Đề xuất giải pháp phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất
lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 của TAND quận Hai Bà

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hôn nhân là hiện tượng
xã hội mang tính giai cấp sâu sắc, có quá trình phát sinh, tồn tại, chấm dứt gắn
liền với sự phát triển của xã hội. Bất cứ ai, khi nhận thấy tình yêu đã đủ độ
chín đều muốn tiến tới hôn nhân. Hôn nhân là hình thức biểu hiện rõ nhất sợi
dây tình cảm giữa hai người khác giới. Tình yêu nam nữ là cơ sở xác lập hôn
nhân, còn hôn nhân là cơ sở để hình thành gia đình. Tuy nhiên, gia đình là
phạm trù rộng hơn, bởi nó không chỉ có tình yêu mà còn phải có những trách
nhiệm, bổn phận của từng thành viên trong gia đình và những lo toan trong
cuộc sống mới. Trong tác phẩm Hồi ký Lênin, V.I. Lênin cho rằng, trong tình
yêu có hai người và xuất hiện cuộc đời mới. Cuộc đời thứ ba. Đây chính là
Điều quan tâm của xã hội. Cuộc đời thứ ba này chính là sự hòa hợp trong
cuộc sống giữa các thành viên trong gia đình. Bởi lẽ, một gia đình hòa thuận,
hạnh phúc, đầm ấm chính là ước mơ của bất kỳ đôi nam nữ nào khi họ bước
vào thời kỳ hôn nhân.
Tuy nhiên, trong cuộc sống hôn nhân vẫn có những trường hợp ngoại
lệ và những nghịch lý trái với mục đích ban đầu của hôn nhân. Sau khi kết
hôn vì nhiều nguyên nhân khác nhau đã dẫn đến cuộc sống gia đình phát sinh
nhiều mâu thuẫn không thể dung hòa được. Biểu hiện mâu thuẫn vợ chồng
đến mức trầm trọng, không tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân
không đạt được thì ly hôn sẽ là điều tất yếu để giải phóng cho vợ, chồng và
các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình, vì vậy, ly hôn có thể hiểu
là mặt trái của hôn nhân và là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân
tồn tại chỉ là hình thức. Thực chất quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc

14
sống gia đình vợ chồng đã mất hết ý nghĩa và không thể tiếp tục duy trì đời
sống chung.
Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của
vợ chồng hoặc một bên vợ hoặc một bên chồng và có giá trị pháp lý khi được
Tòa án có thẩm quyền công nhận. Đây có thể coi là biện pháp cuối cùng để

mức trầm trọng chưa, hạnh phúc gia đình có cứu vãn và hàn gắn được hay
không. Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định: "Tòa án xem xét yêu
cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích của hôn nhân không đạt thì Tòa án quyết định cho ly hôn" [28].
Chính vì vậy, khi đã có những điều kiện cần và đủ này thì ly hôn sẽ là giải
pháp cần thiết để vợ chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật.
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, vấn đề ly hôn cũng được
ghi nhận khác nhau. Ở một số quốc gia theo đạo Thiên Chúa (Thánh địa
Vantican, Chile, Ireland, Ailen, Philippin…) quy định cấm ly hôn, ở những
nước này việc kết hôn và ly hôn được tiến hành theo nghi thức và quyết định
của nhà thờ. Kết hôn thì dễ, nhưng ly hôn thì rất khó khăn và mất nhiều thời
gian. Ví dụ như ở Philippin, hôn nhân không đơn thuần là chuyện tình cảm
lứa đôi, mà coi là biểu hiện tiến bộ của xã hội. Vì thế, ly hôn đối với nước họ
được coi là chuyện rất khó được chấp nhận. Cùng với thánh địa Vantican,
Philippin đã trở thành quốc gia mà ở đó những cặp vợ chồng dù có chán nhau
đến mấy cũng không được phép ly hôn. Vì vậy, đất nước này cũng là nơi mà
rất nhiều người trên thế giới đến để tổ chức đám cưới với mong muốn không
bao giờ lìa xa. Trong khi đó, tại Ecuador, vợ chồng muốn ly hôn thì phải tuyệt
thực trong ba ngày, sang đến ngày thứ tư, nếu cặp đôi này còn khỏe mạnh thì
sẽ cho tiến hành ly hôn, nếu tình trạng sức khỏe yếu ớt thì sẽ được tuyên bố
vĩnh viễn không bao giờ được ly hôn.
Ở một số nước như: Chile, Ireland thì luật pháp của các quốc gia này đều
quy định cấm ly hôn. Do vậy, người dân ở hai nước này rất thận trọng khi kết
hôn, thậm chí người dân còn dần hình thành phong tục cưới muộn khi tuổi đời

16
còn khá cao để sau khi kết hôn không phải "hối hận nghìn năm vì một phút sai
lầm". Có thể nói, việc cấm ly hôn hay hạn chế ly hôn đều trái với quyền tự do
dân chủ của cá nhân. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn tồn tại khá lâu trong đời
sống cộng đồng Công giáo và được coi là nền tảng của luật giáo hội về gia đình.

những chức năng cơ bản của gia đình.
Pháp luật nước ta đã ghi nhận và bảo đảm quyền ly hôn của vợ chồng,
việc ly hôn chỉ được pháp luật ghi nhận khi có những căn cứ pháp lý nhất
định, khi giải quyết ly hôn vấn đề hậu quả pháp lý phát sinh được pháp luật
đảm bảo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng cũng như các
thành viên khác trong gia đình.
1.2. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ LY HÔN
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hôn nhân nói chung, ly
hôn nói riêng là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp. Pháp luật xã hội chủ
nghĩa (XHCN) thừa nhận quan hệ hôn nhân xây dựng trên cơ sở tình yêu chân
chính, tự do và tự nguyện của đôi nam nữ, điều này được thể hiện trong việc
kết hôn cũng như ly hôn. Có thể nói, quyền tự do ly hôn xuất phát từ bản chất
của chế độ xã hội. Ở chế độ XHCN là chế độ duy nhất xây dựng một nền dân
chủ thực sự mà trong đó quyền lợi của tất cả mọi người thuộc các tầng lớp
khác nhau đều được đảm bảo. Ly hôn chính là sự giải phóng cho vợ chồng khi
bản chất cuộc hôn nhân không tồn tại trên thực tế và Nhà nước cho phép họ ly
hôn. Điều này không những đem lại lợi ích cho cả vợ chồng mà còn bảo vệ
được lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Pháp luật của nhà nước XHCN không đặt ra điều kiện hạn chế quyền
tự do ly hôn của vợ chồng. Đây chính là ưu điểm khác về bản chất của pháp
luật XHCN so với pháp luật của nhà nước dưới chế độ phong kiến, nhất là các
nhà nước phong kiến phương đông luôn luôn thừa nhận quan hệ bất bình đẳng
giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng với tư tưởng: "Trọng nam khinh nữ " khởi
nguồn từ Nho giáo. Pháp luật phong kiến cho phép người chồng "năm thê bảy

18
thiếp" trong khi đó người vợ phải tuyệt đối trung thành với chồng "tại gia
tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử". Ở chế độ tư sản, mặc dù có
nhiều điểm tiến bộ hơn về nhân quyền, trong quan hệ hôn nhân Nhà nước tư
sản duy trì chế độ một vợ một chồng trước pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế

hội. Chế độ XHCN là chế độ duy nhất xây dựng một nền dân chủ thực sự, mà
trong đó quyền lợi của tất cả mọi người thuộc các tầng lớp khác nhau đều
được đảm bảo. Bởi vậy, xét thấy ly hôn là sự giải phóng cho vợ chồng khi bản
chất của cuộc hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, Nhà nước cho phép họ
ly hôn. Giải pháp này không những đem lại lợi ích cho đương sự mà còn bảo
vệ được lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Nhà nước XHCN, giải quyết ly hôn là dựa vào thực chất của quan hệ
vợ chồng, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan thực trạng quan hệ hôn nhân
mà không xuất phát từ ý chí chủ quan của cán bộ Tòa án hay của các đương
sự. Do đó, giải quyết ly hôn không căn cứ trên cơ sở lỗi của vợ hoặc chồng.
Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc hôn nhân này
là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa
dối. Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng
không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự
kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết,
bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc
vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của
những bên hữu quan… [22, tr. 119].
Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trên đó hôn
nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất, hôn nhân tự
nó đã bị phá vỡ rồi. Việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể
là việc ghi nhận biên bản sự tan rã bên trong của nó [21, tr. 121].
Chính vì vậy mà so với pháp luật tư sản việc thừa nhận việc tự do ly
hôn trong pháp luật XHCN có ý nghĩa đặc biệt, nhất là đối với người phụ nữ -
những người luôn phải chịu thiệt thòi khi hôn nhân tan vỡ.

20
Theo V.I. Lênin:
Người ta không thể là một người dân chủ và xã hội chủ
nghĩa nếu ngay từ bây giờ, không đòi quyền hoàn toàn tự do ly hôn,

Một bên vợ chồng có sự thông gian hoặc ngược đãi đến mức không thể chung
sống được… mà nếu lý do xin ly hôn không phù hợp với luật định thì cũng
không thể ly hôn. Những điều kiện do luật định thực chất cũng chỉ nhằm mục
đích hạn chế ly hôn, trong khi ngược lại nó lại là những điều kiện thuận lợi
cho phép những người đàn ông trong xã hội tư bản bắt buộc người phụ nữ
chấp nhận ly hôn, trong xã hội tư bản thì việc ly hôn chỉ mang tính hình thức,
về mặt thực chất nó không bảo vệ được lợi ích của người phụ nữ. Trong Bộ
luật Napoleong (Pháp) quy định người chồng có quyền ngoại tình miễn là
người đó không dẫn tình nhân về nhà mình.
Trong chế độ XHCN, quyền tự do ly hôn mới thực sự được coi trọng
để bổ sung cho những thiếu sót của tự do kết hôn và được hiểu theo đúng bản
chất của nó, đó chính là quyền chính đáng và bình đẳng giữa vợ và chồng.
Quyền tự do kết hôn và quyền tự do ly hôn được pháp luật nước ta
thừa nhận có ý nghĩa đảm bảo cho cuộc hôn nhân là hoàn toàn được xây dựng
dựa trên sự tự nguyện của hai bên. Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát
triển của nền khoa học, sự bùng nổ thông tin, sự biến động của cơ chế thị
trường, chính sách mở cửa, phát triển kinh doanh đa ngành nghề… Cuộc sống
trong mỗi gia đình có nhiều thay đổi, có những gia đình cuộc sống trở lên
giàu có, sung túc hơn, hạnh phúc hơn nhưng bên cạnh đó còn có những gia
đình lâm vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc trong cuộc sống. Với quyền tự do
ly hôn cũng có những mặt tích cực giúp cho những cặp vợ chồng thoát khỏi
cuộc sống hiện tại này, rút ra những kinh nghiệm từ những chuyện xảy ra và
nếu có cơ hội một trong hai người hoặc cả hai người có thể làm lại từ đầu.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, quyền tự do ly hôn cũng có mặt trái
của nó, đã có nhiều cặp vợ chồng đã quá lạm dụng quyền tự do ly hôn nhưng

22
chưa đến mức phải ly hôn nhưng họ vẫn đưa đơn ra tòa, yêu cầu xin được ly
hôn nhưng khi được Tòa án hòa giải đoàn tụ họ lại rút đơn xin ly hôn về hoặc
có những trường hợp vì lòng tự ái, vì cái tôi quá lớn của cả hai bên trong khi

nhẹ việc kết hôn nhằm bảo vệ nền đạo đức xã hội, để đảm bảo tính toàn vẹn
của gia đình, pháp luật quy định những tình tiết, điều kiện trong đó cho phép
xác nhận hôn nhân tan vỡ. Quyết định duy trì hay chấm dứt quan hệ hôn nhân
không thể chỉ dựa vào ý chỉ chủ quan của vợ chồng. Quan hệ hôn nhân không
những liên quan đến lợi ích riêng tư của vợ chồng, của gia đình cá thể mà nó còn
ảnh hưởng đến lợi ích chung của Nhà nước và toàn xã hội. Vì vậy, việc giải
quyết ly hôn không thể thiếu sự kiểm soát của Nhà nước thông qua pháp luật.
Mỗi quốc gia có quan điểm về vấn đề ly hôn khác nhau, do vậy cũng
có những quy định khác nhau về căn cứ ly hôn.
Pháp luật của nhiều nước quy định giải quyết ly hôn dựa vào yếu tố
lỗi của vợ, chồng. Nhà nước tư sản coi hôn nhân như hợp đồng dân sự nên
việc chấm dứt hôn nhân cũng như chấm dứt hợp đồng và dựa vào lỗi của các
bên. Ví dụ, theo quy định trong BLDS Pháp, BLDS Nhật Bản, BLDS và
Thương mại Thái Lan… thường quy định giải quyết ly hôn do một bên vợ
hoặc chồng ngoại tình, phải thi hành án phạt tù hoặc có những hành vi đối xử
với nhau đến mức không thể chung sống được.
Hệ thống pháp luật ở nước ta trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và
ở Miền Nam nước ta trước ngày thống nhất đất nước cũng quy định giải quyết
ly hôn dựa vào lỗi của vợ, chồng khi một bên vợ hoặc chồng ngoại tình, một
bên bị can án phạt giam…
Nhà nước XHCN, giải quyết ly hôn là dựa vào thực chất của quan hệ
vợ chồng để từ đó đánh giá một cách khách quan thực trạng quan hệ hôn
nhân. Nhà nước XHCN Việt Nam quy định căn cứ ly hôn mang tính khoa
học, phản ánh thực chất mối quan hệ vợ chồng đã bị phá vỡ không thể tồn tại

24
được nữa. Việc Tòa án giải quyết cho ly hôn chính là công nhận một thực tế
trong mối quan hệ vợ chồng là không thể cải thiện được.
Mặc dù có quy định khác nhau nhưng pháp luật của mỗi nhà nước
trong từng thời kỳ quy định về căn cứ ly hôn đều thể hiện ý chí của Nhà nước

cho cả vợ và chồng: Một bên ngoại tình, một bên bị can án phạt giam, một
bên mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa khỏi, một bên bỏ nhà đi quá hai
năm không có duyên cớ chính đáng, vợ chồng tính tình không phù hợp hoặc
đối xử với nhau đến nỗi không thể chung sống được.
Điểm tiến bộ của quy định trên là tự do ly hôn đã được thừa nhận, xóa
bỏ sự phân biệt không bình đẳng về các duyên cớ ly hôn riêng cho vợ, chồng
trong các Bộ luật cũ. Đồng thời, quy định các duyên cớ ly hôn chung cho cả
hai vợ chồng, nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong
thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Xuất phát từ tình hình kinh tế -
xã hội, trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và hôn nhân một vợ một chồng, việc
quy định căn cứ cho ly hôn do ngoại tình là hoàn toàn phù hợp. Vợ chồng có
nghĩa vụ chung thủy, chăm lo vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, khi
một trong hai bên vợ, chồng có quan hệ ngoại tình sẽ làm rạn nứt tình cảm vợ
chồng, cuộc sống không có hạnh phúc, ảnh hưởng tới sự bền vững gia đình.
Pháp luật quy định ngoại tình là một trong những duyên cớ để vợ hoặc chồng
ly hôn là sự kế thừa tiến bộ trong hệ thống pháp luật trước đó và phần nào
chịu ảnh hưởng của pháp luật phương Tây.
Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống và giúp đỡ lẫn nhau về thể chất và
tinh thần, việc quy định vợ hoặc chồng được phép ly hôn trong trường hợp
một bên can án phạt giam và một bên bỏ nhà đi quá hai năm mà không có lý
do chính đáng là hợp lý. Khi một bên vợ hoặc chồng bị can án phạt giam có
nghĩa là hai vợ chồng sẽ không thể chung sống với nhau trong một khoảng
thời gian mà một bên chịu án phạt giam, điều này sẽ làm cho bên vợ hoặc
chồng chịu thiệt thòi hoặc có thể phải gánh chịu nhiều áp lực. Cũng tương tự

Trích đoạn HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA LY HÔN VÀ GIA ĐÌNH NÓI CHUNG VÀ LY HÔN NÓI RIÊNG THỰC TRẠNG LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ LY HÔN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status