ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH TÖ
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Cừ
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2012.
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Có thể tìm hiểu luận văn
tại Trung tâm thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung
tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
2.4.2.
PHÁP LÝ CỦA LY HÔN
1.1.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.
Khái niệm ly hôn
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về ly hôn
Quyền yêu cầu ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ,
chồng (quyền dân sự)
Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000
Hậu quả pháp lý của ly hôn
Hậu quả pháp lý của ly hôn dưới góc độ pháp luật
Ảnh hưởng của việc ly hôn đối với gia đình và xã hội
Chương 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÕA
16
30
30
43
47
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
60
LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
7
11
14
ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH
2.1.
Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Một số nguyên nhân khách quan
Một số nguyên nhân chủ quan
Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
giải quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội
Hậu quả pháp lý của ly hôn
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP
47
3.1.
3.1.1.
99
100
102
106
108
109
111
115
115
117
119
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau.
Trong đó, gia đình được coi là sản phẩm của xã hội gắn liền với quá trình phát
sinh, phát triển của xã hội, ở bất kỳ chế độ xã hội nào thì gia đình đều thực
hiện những chức năng xã hội cơ bản của nó với vai trò là tế bào của xã hội.
Sớm nhìn thấy vai trò nền tảng của gia đình và mối liên hệ hữu cơ giữa
gia đình và xã hội, sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã chỉ rõ: Quan tâm đến
gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì
gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Điều đó nói lên rằng phát
triển xã hội cùng với việc xây dựng xã hội mới phải quan tâm thường xuyên
đến việc củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ). Tuy nhiên, trong
những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự
bùng nổ của thời đại công nghệ thông tin và cùng với sự du nhập của nhiều
luồng văn hóa, tư tưởng, lối sống phương Tây đã làm thay đổi rất nhiều quan
điểm, lối sống và lý tưởng ở mỗi người, đặc biệt là trong quan hệ gia đình
- Nhóm các luận văn, luận án:
Tại Tòa án nhân dân (TAND) quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
trong những năm qua cũng đã áp dụng Luật HN&GĐ giải quyết nhiều vụ
việc ly hôn. Nhìn chung các vụ việc được TAND quận Hai Bà Trưng giải
quyết theo quy định của pháp luật đạt hiệu quả cao với phương châm "đạt lý,
thấu tình" đảm bảo quyền lợi của các đương sự, nhất là quyền lợi của người
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này gồm có: "Chế độ
tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000"
(Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ Luật học, 2005); "Xác định chế độ tài sản
của vợ chồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nguyễn Hồng Hải, Luận
văn Thạc sĩ, 2002); "Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam"
(Vũ Thị hằng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2006); "Căn cứ pháp lý và thủ tục
giải quyết các vụ kiện ly hôn tại Tòa án Việt Nam" (Nguyễn Thị Túy Hoa,
Luận văn Thạc sĩ Luật học); "Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000" (Nguyễn Thị Lan, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, 2012)… Các công trình này có nghiên cứu liên quan đến
5
6
vấn đề chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn mà chưa nghiên cứu tổng thể về
vấn đề ly hôn nói chung.
- Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo:
Có một số công trình tiêu biểu như: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" (Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị
Hường, 2002, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); "Bình luận khoa học Luật
tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể. Ngoài ra
còn sử dụng các phương pháp của bộ môn khoa học khác như thống kê, so sánh.
5. Những đóng góp của luận văn
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao
chất lượng giải quyết các vụ việc ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội.
- Luận văn phân tích khái niệm, căn cứ ly hôn trong pháp Luật HN&GĐ
Việt Nam qua các thời kỳ và có sự so sánh để đưa ra những nhận định và
đánh giá về căn cứ ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn.
- Đánh giá thực trạng chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm
2000 trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội trong những năm qua.
- Đề xuất giải pháp phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất
lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 của TAND quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn.
6. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận
phục vụ yêu cầu thực tiễn của việc không ngừng nâng cao chất lượng áp
dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 trong hoạt động xét xử nói chung
và trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng nói
riêng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Kết quả nghiên cứu của
luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh tư pháp nói
riêng. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng nghề
nghiệp của người Thẩm phán, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với
các Thẩm phán dân sự tại TAND quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
cho phép họ ly hôn. Điều này không những đem lại lợi ích cho cả vợ chồng
mà còn bảo vệ được lợi ích của Nhà nước và xã hội.
9
10
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn.
1.2.1. Quyền yêu cầu ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ, chồng
(quyền dân sự)
hôn; 2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất
tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn".
Khi nói đến tự do hôn nhân tức là nói đến hai mặt: Tự do kết hôn và tự
do ly hôn nhưng thực ra kết hôn là mặt chủ yếu, còn ly hôn chỉ là mặt trái
không phổ biến. Tuy vậy, ly hôn vẫn là một mặt không thể thiếu được của hôn
nhân tự do, Nhà nước chủ trương hôn nhân tự do cũng như đã công nhận quyền
ly hôn chính đáng của vợ chồng, việc ly hôn chỉ được pháp luật công nhân khi
đáp ứng một điều kiện luật định, Điều đó không ngoài mục đích để xây dựng và
củng cố gia đình hạnh phúc, trong đó vợ chồng yêu thương nhau, kính trọng
nhau, giúp đỡ nhau cùng lao động sản xuất và nuôi dạy con cái. Tự do kết
hôn chính là đảm bảo cho hai bên nam nữ yêu nhau có quyền xây dựng gia
đình hạnh phúc trên cơ sở tình yêu chân chính. Nhưng vì nguyên nhân nào
đó mà giữa vợ chồng không thể điều hòa được, nẩy sinh những mâu thuẫn
và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa
vụ thương yêu kính trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy
giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau… sẽ đương nhiên chấm dứt. Một số
quyền nhân thân khác mà vợ chồng với tư cách là công dân thì không ảnh
hưởng, không thay đổi dù vợ chồng ly hôn (như họ tên, nghề nghiệp…).
1.3.1.2. Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Trước hết, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ do vợ chồng tự
thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được, vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án
giải quyết. Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn:
Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định: "1. Tòa án xem xét yêu
cầu ly hôn, nhưng xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly
Đối với tài sản riêng của mỗi bên: Trước hết theo nguyên tắc được quy
định tại Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 thì việc chia tài sản khi ly hôn do
các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải
quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó (khoản 1
Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000). Nếu vợ chồng không thỏa thuận được với
nhau thì sẽ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
11
12
1.2.2.2. Nội dung căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Đối với tài sản chung của vợ chồng: Theo quy định tại Điều 95 Luật
HN&GĐ năm 2000 thì việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn do
Ly hôn sẽ giúp một trong hai bên hoặc cả hai bên vợ chồng thoát khỏi
sự trói buộc của chính bản thân, thoát ra khỏi mối quan hệ giả dối, hình thức
mà trong đó cá nhân mỗi thành viên đang phải sống và "chịu đựng" lẫn
nhau, không niềm vui, không hạnh phúc thậm chí còn bị bóp méo những tư
tưởng về cuộc sống gia đình, mất dần đi những niềm tin, niềm say mê, yêu
thích cuộc sống, niềm hy vọng vào một tương lai tươi đẹp đang chờ phía trước.
1.3.2.2. Ảnh hưởng tiêu cực của ly hôn
Họ đã làm tiêu hao đáng kể công quỹ của nhà nước.
Nhưng nghiêm trọng hơn là họ đã và đang gieo rắc căn bệnh tâm lý cho con
cái mình đó là bệnh trầm uất, bệnh nghi kỵ, mất niềm tin vào cuộc sống lứa đôi…
Ly hôn không chỉ ảnh hưởng đến vợ, chồng và các thành viên khác
trong gia đình.
Với những phân tích như trên, rõ ràng ly hôn là một vấn đề hết sức phức
tạp đòi hỏi khi tiếp cận phải chú ý ở nhiều phương diện mới mong có cái
nhìn toàn diện hiểu được bản chất của ly hôn.
Chương 2
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI NHỮNG NĂM QUA
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000
Ngoài ra, để bảo vệ quyền và lợi ích của con đặc biệt là con chưa
thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,
không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, pháp luật
quy định sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc,
giáo dục, nuôi dưỡng.
2.1. Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của quận Hai Bà
Trưng thành phố Hà Nội tác động đến quan hệ hôn nhân và gia đình nói
chung và ly hôn nói riêng
quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết tương đối lớn và ngày càng có chiều
hướng gia tăng với các nguyên nhân mà các đương sự đưa ra ngày càng đa
dạng hơn. Có thể thấy được điều này qua số liệu sau:
Bảng 2.1: Thống kê các vụ việc về ly hôn được TAND
quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết từ năm 2008 đến năm 2011
Năm
Số vụ án thụ lý (vụ)
2008
516
2009
556
2010
614
2011
738
Nguồn: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Báo cáo tổng kết ngành
Tòa án từ năm 2008 đến năm 2011, Hà Nội
15
2.2.2. Tình hình ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội được nghiên cứu trên một số phương diện
2.2.2.1. Về chủ thể
2.2.2.2. Về độ tuổi ly hôn
Bảng 2.3: Thống kê độ tuổi ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
Nguồn: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Báo cáo tổng kết ngành
Tòa án từ năm 2008 đến năm 2011, Hà Nội
2.2.2.3. Về thành phần xã hội
Trong các báo cáo thống kê số liệu của TAND quận Hai Bà Trưng cũng
cho thấy trong tình hình ly hôn về thành phần xã hội, việc ly hôn diễn ra ở
mọi đối tượng, thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội như: Cán bộ, công
chức, viên chức, công nhân, hưu trí, buôn bán dịch vụ, nội trợ… Qua một
cuộc điều tra xã hội nhỏ và cuộc phỏng vấn tự do tại 3 phường Bạch Mai,
Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm, kết quả như sau:
Bảng 2.4: Số lượng người được phỏng vấn tự do của tác giả luận văn
thực hiện tại 3 phường Bạch Mai, Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm
quận Hai Bà trưng
Nghề nghiệp
Phường
Bạch Mai
Cán bộ, viên chức
Công nhân
Buôn bán - dịch vụ
Nội trợ
Hưu trí
Tổng số
7
4
5
2
3
19
3
1
8
2
0
7
25
12
83
2.3. Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.3.1. Một số nguyên nhân khách quan
2.3.1.1. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quận Hai Bà Trưng làm một trong số những quận nội thành của Hà Nội
có địa bàn rộng, dân cư tập trung đông đúc lại là quận đang trong quá trình
đô thị hóa nhanh, năng động và đa dạng.
Có thể nói, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo đó là sự
phát triển của công nghệ thông tin cũng như nhiều vấn đề khác, đã làm việc
tìm hiểu, yêu đương và kết hôn có thể thực hiện một cách dễ dàng, nhưng
chính do việc không tìm hiểu kỹ thông tin về người bạn đời đã làm cho
nhiều người rơi vào tình cảnh khóc dở mếu dở, tình trạng kết hôn chưa bao
lâu đã ly hôn luôn diễn ra.
2.3.1.2. Tác động của cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường cũng làm thay đổi quan niệm về HN&GĐ. Họ có
những suy nghĩ thoáng hơn về kết hôn cũng như ly hôn khi cuộc sống hôn
nhân không còn hạnh phúc. Do không còn tình cảm với nhau nữa nên giữa
vợ hoặc chồng lại có chiều hướng đem chồng (vợ) của mình để so sánh chê
tình trạng ly hôn diễn ra ngày càng nhiều còn xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác, đó có thể là do sự khác biệt về tôn giáo, nguồn gốc gia đình, về
lối sống hay một số gia đình vẫn còn mang tư tưởng phong kiến, tập quán lạc
hậu, mâu thuẫn giữa mẹ chồng, nàng dâu, hay giữa anh, chị, em chồng với
chị em dâu, hay giữa những chị em dâu với nhau, thậm chí do điều kiện hoàn
cảnh của chiến tranh, lịch sử để lại… cũng là một trong những nguyên nhân
làm phát sinh tình trạng ly hôn hiện nay trên địa bàn Quận.
2.3.2. Một số nguyên nhân chủ quan
Theo báo cáo tổng kết của TAND quận Hai Bà Trưng năm 2010 -2011
thì ly hôn trên địa bàn quận tập trung trên các nguyên nhân chủ quan sau:
mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập, ngược đãi; ngoại tình; bệnh tật, không có
con; do nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc; mâu thuẫn kinh tế…
Như vậy, các hình thức biểu hiện của mâu thuẫn trong gia đình rất đa dạng,
phức tạp, từ nặng đến nhẹ, từ thái độ khó chịu, im lặng, giận dỗi đến phản ứng ra
mặt, sử dụng bạo lực tinh thần, lời nói mắng chửi, cãi nhau đến bạo lực thân thể,
đánh đập nhau. Các hình thức này biểu hiện cũng tùy thuộc vào trình độ học
vấn, tầng lớp xã hội, môi trường sinh sống của những người có liên quan.
18
2.3.2.1. Bạo lực gia đình
Vấn đề bạo lực gia đình cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao về một trong
những nguyên nhân dẫn đến ly hôn ở quận Hai Bà Trưng. Qua số liệu tổng
kết năm 2010 và năm 2011 cho thấy nguyên nhân dẫn đến ly hôn về lý do bị
đánh đập, ngược đãi của năm 2010 là 42 vụ, còn năm 2011 là 54 vụ án. Bạo
lực gia đình ở đây được đề cập đến có thể là bạo lực về vật chất hay bạo lực
về tinh thần. Trên thực tế thì bạo lực tinh thần được biểu hiện ở những hành
vi như thóa mạ, sỉ nhục hay bỏ rơi nạn nhân, không một chút quan tâm đoái
hoài đến họ, cấm đoán cách ly không cho gặp con cái… Bạo lực được hiểu
một bên vợ hoặc chồng bị xứ lý trách nhiệm hình sự thì cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến cuộc sống của gia đình bởi khi bị xử lý hình sự thì những
người thân của họ cũng phải gánh chịu con mắt không thiện cảm của mọi
người xung quanh, muốn rũ bỏ cái tiếng là gia đình có người bị pháp luật
trừng trị, không muốn con cái mình chịu tiếng là có cha (mẹ) là người bị
tù… Tất cả những lý do đó khiến họ nhanh chóng đi đến kết cục ly hôn, nhanh
chóng quên đi tình nghĩa vợ chồng chỉ vì tính ích kỷ, vị kỷ của cá nhân.
2.3.2.6. Bệnh tật, không có con
Tệ nạn xã hội là hiện tượng bao gồm những hành vi sai lệch với chuẩn
mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối
với đời sống xã hội, có nhiều loại tệ nạn nhưng rượu chè, cờ bạc, nghiện hút
là các tệ nạn xã hội mà phần lớn các gia đình có chồng hoặc vợ rơi vào tình
Bên cạnh các nguyên nhân kể trên, thì việc một bên bị bệnh, không có
con hoặc do hai vợ chồng không có khả năng có con cũng là một trong
những lý do được đương sự trình bày để xin ly hôn. Trong xã hội hiện đại
ngày nay thì tình trạng vô sinh của phụ nữ và đàn ông ngày càng gia tăng
điều đó dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Điều đó cho thấy hạnh phúc
của các gia đình sẽ được gắn chặt nhiều hơn đó chính là đứa trẻ, là sợi dây
gắn kết tình cảm vợ chồng, duy trì hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, trên thực
tế cũng có rất nhiều cặp vợ chồng vì lý do sức khỏe của bên một bên, họ mắc
phải một số bệnh nan y hay bệnh tâm thần thì bên kia cũng vẫn làm đơn xin
ly hôn để sớm ổn định cuộc sống mới vì họ cho rằng mục đích cuộc hôn
nhân giữa hai bên không đạt được.
19
20
hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng.
Khi vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý đơn
và tiến hành thủ tục hòa giải, mục đích là để vợ chồng rút đơn yêu cầu ly hôn và
đoàn tụ với nhau. Trường hợp sau khi hòa giải các bên đương sự rút đơn thì
TAND quận Hai Bà Trưng sẽ áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ
luật Tố tụng dân sự và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp sau
khi hòa giải các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn thì TAND quận
Hai Bà Trưng sẽ áp dụng Điều 186, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự và ra
quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự.
- Ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu
Theo quy định tại Điều 91 Luật HN&GĐ năm 2000: "Khi một bên vợ
hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án
xem xét, giải quyết ly hôn". Về trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên
vợ hoặc chồng, Nghị quyết số 02/2000/HĐTP hướng dẫn tại điểm b, mục 10
như sau: Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Tòa án phải tiến
hành hòa giải. Nếu hòa giải đoàn tụ không thành mà người yêu cầu ly hôn
rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân
sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Trong trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Tòa án lập biên bản
hòa giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án
ly hôn theo thủ tục chung.
2.4.2. Hậu quả pháp lý của ly hôn
Trong quá trình thụ lý và giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai
Bà Trưng luôn xác định rõ quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ
chồng. Dù ly hôn do một bên yêu cầu hay thuận tình ly hôn thì khi giải quyết ly
hôn TAND quận Hai Bà Trưng vẫn phải đảm bảo đúng đường lối vừa tôn trọng
quyền ly hôn của vợ chồng, vừa đảm bảo giải quyết các vụ án ly hôn một
cách chính xác, không mắc sai lầm trong quyết định cho phép vợ chồng ly hôn.
3.1.2. Khó khăn
Hậu quả mà ly hôn để lại trước hết là sự khủng hoảng tinh thần của các
thành viên trong gia đình. Trong lòng họ những vết thương hầu như không
bao giờ lành sẹo. Ly hôn gây ra sự đảo lộn trong cuộc sống. Sự xáo trộn
trong sinh hoạt sẽ nẩy sinh trong tâm hồn họ những phản ứng tiêu cực dẫn
tới việc chống đối lại cuộc sống hiện tại.
3.3. Một số giải pháp hạn chế ly hôn
3.3.1. Giải pháp trong lĩnh vực pháp luật
Thứ nhất, cần cụ thể hóa hơn nữa các quy định của pháp luật.
Thứ hai, hoàn chỉnh hệ thống chính sách pháp luật nhất là Luật HN&GĐ
để có thể vận dụng một cách có hiệu quả trong đời sống, hạn chế bớt những
hậu quả mà ly hôn đem lại là điều hết sức quan trọng, đặc biệt là chính sách
trợ giúp những gia đình sau ly hôn cũng là biện pháp ở tầm vĩ mô.
Thứ ba, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền pháp luật HN&GĐ
cũng như các ngành Luật khác khi ban hành đều có hiệu lực trên phạm vi
toàn quốc.
Thứ tư, cần đưa yếu tố lỗi là một trong những điều kiện để ly hôn mà
trước đó pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định.
Bên cạnh những thuận lợi thì việc giải quyết của TAND quận gặp không ít
khó khăn. Trên thực tế, mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp
luật HN&GĐ điều chỉnh vấn đề ly hôn nhưng do tác động của nhiều nguyên
nhân khác nhau nên các án kiện và ly hôn ngày càng gia tăng và phức tạp về
tính chất tranh chấp như chia tài sản, cấp dưỡng khi ly hôn, giải quyết vấn đề
con cái...
Thứ năm, thực hiện công tác đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên
môn cho đội ngũ Thẩm phán thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn
của Thẩm phán trong việc xét xử.
3.3.3. Giải pháp từ mỗi cá nhân
Gia đình là một trong những phạm trù của xã hội mà ở đó các thành
viên là hạt nhân cơ bản trong việc tạo lập cuộc sống gia đình, gia đình tốt thì
xã hội mới tốt. Thực tế mọi sự cố gắng của cộng đồng, của gia đình bạn bè
cũng không thể có kết quả như chính những người trong cuộc không tự cố
gắng cứu vãn cuộc hôn nhân của mình. Hạnh phúc của mỗi gia đình không
tự nở hoa kết trái nếu tình yêu không được vun xới từng ngày cũng như đời
sống vợ chồng không phải là một màn kịch để chúng ta khi không thích vai
chính này có thể thay bằng một vai chính khác.
3.3.4. Giải pháp kinh tế
Vợ chồng có mâu thuẫn về kinh tế không chỉ xảy ra ở những gia đình
túng thiếu mà ngay cả những gia đình có điều kiện kinh tế khá giả cũng xảy
ra đó là sự va chạm về cách làm ăn của vợ chồng. Vì vậy trong giai đoạn
phát triển kinh tế hiện nay việc giải quyết công ăn việc làm tạo điều kiện cho
nam nữ thanh niên vay vốn tự phát triển sản xuất kinh doanh là một trong
những yêu cầu cấp bách của xã hội và đồng thời cũng là một giải pháp chiến
lược làm cho gia đình và cộng đồng ổn định phát triển bền vững.
KẾT LUẬN
Hiện nay, khi mà tình trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
thành phố Hà Nội đang có chiều hướng gia tăng với nhiều nguyên nhân khác
nhau đã và đang là vấn đề nhức nhối quan tâm không chỉ trên địa bàn quận
mà là vấn đề quan tâm của thành phố Hà Nội và toàn xã hội.
trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch cũng có sự tác động
mạnh mẽ đến chế độ gia đình- đó cũng là sự lý giải tại sao hiện nay tỷ lệ ly
hôn tại quận Hai Bà Trưng lại chiếm tỷ lệ cao như vậy.
Ly hôn tập trung ở nhiều chủ thể, nhiều lứa tuổi, nhiều thành phần xã
hội và với nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó bao gồm cả nguyên nhân
khách quan, chủ quan và để lại hậu quả tiêu cực cho xã hội là không nhỏ.
khu vực quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
25
26