Hợp đồng vay tài sản qua thực tiễn giải quyết tranh chấp tại TAND quận Hai Bà Trưng – thành phố Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
QUA THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác. NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thị Hồng Hạnh DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS
: Bộ luật Dân sự
HN&GĐ
: Hôn nhân và gia đình
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa


Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ
ĐẦU………………………….………………………………………
1
Chƣơng 1: Khái niệm chung về hợp đồng vay tài sản và sơ lƣợc một số
nét về Quận Hai Bà Trƣng – thành phố Hà Nội…………………….

8
1.1. Khái niệm chung về hợp đồng vay tài sản……………
8
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng vay tài sản………………………
8
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng vay tài sản………………………….
11
1.1.3. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản………
14
1.2. Chủ thể, hình thức, đối tƣợng, thời hạn, lãi suất trong hợp
đồng vay tài sản…………………………………………

16
1.2.1. Chủ thể của hợp đồng vay tài sản…………………
16
1.2.2. Hình thức của hợp đồng vay tài sản……………………….
20
1.2.3. Đối tƣợng của hợp đồng vay tài sản……………………….
22
1.2.4. Thời hạn của hợp đồng vay tài sản………………………
24

2.3.2. Về đối tƣợng ………………………………………………
43
2.3.3. Về hình thức………………………………………….…….
48
2.3.4. Về lãi suất………………………………………………….
52
2.3.5. Về hợp đồng vay có các biện pháp bảo đảm……………….
57
2.3.6. Xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với hợp
đồng vay tài sản………………………………………….

61
2.3.7. Sự biến tƣớng của hợp đồng vay tài sản. ………………….
62
2.4. Một số hạn chế trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng
vay tài sản của TAND quận Hai Bà Trƣng và nguyên nhân… 64
2.4.1. Một số hạn chế trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp
đồng vay tài sản của TAND quận Hai Bà Trƣng…………

64
2.4.2. Nguyên nhân………………………………………
65
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về
hợp đồng vay tài sản…………………………

68
3.1. Về đối tƣợng…………………………………………………

sự diễn ra phổ biến trong đời sống xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,
Nhà nƣớc cho phép các cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau đƣợc tự do, sản xuất, kinh doanh theo quy định pháp luật và không bị
hạn chế về vốn, quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, việc huy
động vốn trong kinh doanh đã trở nên hết sức sôi động. Việc vay vốn diễn ra
giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức và đặc biệt là giữa cá
nhân, tổ chức với các tổ chức tín dụng, Ngân hàng đang là một loại án diễn ra
phổ biến hiện nay trong tổng số các vụ án dân sự mà Tòa án thụ lý, giải
quyết. Những tranh chấp về lãi suất, phƣơng thức thanh toán diễn ra theo sự
tăng lên về số lƣợng và giá trị của các hợp đồng vay ngày càng lớn. Hiện nay,
việc giải quyết các tranh chấp về dân sự của Tòa án đã góp phần quan trọng
trong việc giải quyết đƣợc những mâu thuẫn trong các quan hệ dân sự. Hầu
hết các bản án, quyết định của Tòa án đƣợc ban hành đúng pháp luật, thấu
2

tình, đạt lý và có tính giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân.
Điều này đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, bảo vệ lợi ích Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
và các tổ chức.
Là một trong những Tòa án lớn, có số lƣợng án nhiều nhất trong hệ
thống Tòa án thủ đô, số lƣợng vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản ở
TAND quận Hai Bà Trƣng trong những năm qua có xu hƣớng ngày càng
tăng. Mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũng khác nhau nên
việc giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn, trong nhận thức vận dụng
pháp luật cũng nhƣ những khó khăn từ khách quan mang lại. Tuy nhiên, quá
trình giải quyết TAND quận Hai Bà Trƣng đã đạt đƣợc những kết quả nhất
định, góp phần vào việc giải quyết số lƣợng án và nâng cao tỷ lệ giải quyết
của đơn vị và của toàn ngành. Thông qua việc giải quyết vụ án đã góp phần
giải quyết các mâu thuẫn trong quan hệ dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đƣơng sự, giữ gìn kỷ cƣơng pháp luật, ổn định chính trị, trật tự an

Luật học, của Bùi Kim Hiếu, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, năm 2007; “Hợp
đồng vay tài sản theo qui định của pháp luật dân sự Việt Nam”, Luận văn
thạc sỹ Luật học, của Nguyễn Hƣơng Lan, Khoa luật Trƣờng Đại học Quốc
gia Hà Nội, năm 2012; Với đề tài này, tác giả đã nghiên cứu các quy định của
pháp luật dân sự về hợp đồng vay tài sản, trong đó đi sâu nghiên cứu vấn đề
lý luận và nội dung các quy định pháp luật, qua đó chỉ ra các bất cập và đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật. Hay nhƣ, một số giáo trình, sách
khoa học nhƣ "Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Luật Dân sự",
của TS. Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; "Giáo
trình Luật Dân sự", Tập 2, của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an
nhân dân, 2006. Ngoài ra, phải kể đến một số bài báo trên các tạp chí chuyên
4

nghành nhƣ bài viết “Một số vấn đề bảo lãnh trong hợp đồng vay tài sản”,
của Dƣơng Quốc Thành, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2004; "Cần sửa đổi,
bổ sung một số điều về hợp đồng vay tài sản", của Nguyễn Minh Oanh, Tạp
chí Luật học, số 11/2003;"Một số vướng mắc trong việc giải quyết tranh
chấp về hợp đồng vay tài sản liên quan đến trả lãi và lãi suất", của Trần Văn
Biên, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, số 11/2001; "Hậu quả pháp lý của hợp
đồng vay tài sản bị vô hiệu một phần", của Thanh Thủy, Tòa Dân sự Tòa án
nhân dân tối cao (21/12/2004); “Một số ý kiến góp ý cho các quy định của Dự
thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) về hợp đồng vay tài sản", của Trần Văn Biên -
Viện Nhà nƣớc và pháp luật, 26/12/2008; " Về chế định hợp đồng vay tài
sản", của Trần Văn Biên, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9/2004. “Có thỏa
thuận phạt nhiều lần về một vi phạm, thỏa thuận lãi chồng lãi trong hợp đồng
vay tài sản, hợp đồng tín dụng không?”, của Tƣởng Duy Lƣợng, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 24/2013 và số 1/2014; “Vướng mắc trong việc giải quyết yêu
cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán trong hợp đồng dân sự và
thương mại ở Việt Nam”, Nguyễn Thanh Tùng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
21/2013; “Vướng mắc trong áp dụng pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét, nghiên cứu về hợp đồng vay
tài sản và việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản của TAND quận
Hai Bà Trƣng trong 05 năm gần đây, trong đó đi sâu phân tích nguyên nhân
của những tồn tại và đƣa ra giải pháp khắc phục.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm
sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định hợp đồng vay tài sản,
đƣa ra những kiến nghị có tính ứng dụng cao trong hoạt động xét xử của Tòa
án, góp phần nâng cao chất lƣợng xét xử liên quan đến tranh chấp hợp đồng
6

vay tài sản trên địa bàn quận Hai Bà Trƣng nói riêng và cả nƣớc nói chung.
Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện đƣợc mục đích trên luận văn có
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý của chế định hợp đồng vay tài
sản theo quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam.
+ Nghiên cứu tranh chấp thực tế đã phát sinh qua thực tiễn giải quyết
của TAND quận Hai Bà Trƣng để làm rõ những điểm còn bất cập của pháp
luật Việt Nam trong việc điều chỉnh hợp đồng vay tài sản hiện nay.
+ Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp
luật hợp đồng vay tài sản.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận: Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về Nhà nƣớc và pháp luật, trong đó có vấn đề giải quyết tranh chấp
về hợp đồng vay tài sản.
Phương pháp nghiên cứu: Để có đƣợc kết quả trình bày trong luận
văn, tác giả đã sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng và phƣơng pháp duy
vật lịch sử; phƣơng pháp lịch sử và logic; phƣơng pháp kết hợp lý luận và
thực tiễn; phƣơng pháp phân tích, thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát.

nét về Quận Hai Bà Trƣng – thành phố Hà Nội.
Chƣơng 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản của
TAND quận Hai Bà Trƣng
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định pháp
luật về hợp đồng vay tài sản 8

CHƢƠNG 1:
KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ SƠ LƢỢC
MỘT SỐ NÉT VỀ QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng vay tài sản.
Dƣới góc độ xã hội, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, từ “vay”
đƣợc hiểu là “ nhận tiền hay vật gì của ngƣời khác để chi dùng trƣớc với điều
kiện sẽ trả tƣơng đƣơng hoặc có thêm phần lãi”[17]. Nhƣ vậy, dƣới góc độ là
quan hệ xã hội, quan hệ vay tài sản phải có ít nhất hai chủ thể tham gia, đƣợc
xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, đối tƣợng của quan hệ là tiền hoặc
vật bất kỳ. Qua tiến trình phát triển của xã hội đã chứng minh sự vận động và
phát triển của quan hệ vay tài sản luôn chịu sự tác động và chi phối bởi các
hình thái kinh tế - xã hội.
Ở hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ và hình thái kinh tế - xã hội
phong kiến, quan hệ vay tài sản tồn tại dƣới hình thức cho vay nặng lãi. Đây
là thời kỳ nền kinh tế kém phát triển, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên
nhiên, tác động tới sự phân chia giai cấp. Các chủ thể tham gia quan hệ chủ
yếu hai tầng lớp giai cấp thống trị - ngƣời cho vay và giai cấp bị trị - ngƣời
vay. Dƣới thời này, quan hệ tài sản không còn đƣợc xác lập trên cơ sở sự thỏa
thuận. Ngƣời vay bị phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí và các điều kiện của

cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định.
C.Mác đã nói: “Tự nó, hàng hóa không thể đi đến thị trƣờng và trao đổi
với nhau đƣợc. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những ngƣời
giữ chúng phải đối xử với nhau nhƣ những ngƣời mà ý chí nằm trong các vật
đó”

[1]. Chính vì quan hệ vay tài sản đƣợc hình thành từ những hành vi có ý
10

chí của các chủ thể, cho nên yếu tố thỏa thuận thông qua việc bày tỏ và thống
nhất ý chí giữa các bên là nền tảng đầu tiên hình thành nên một quan hệ hợp
đồng dân sự. Vì vậy để hiểu đƣợc bản chất của hợp đồng vay tài sản cần
nghiên cứu khái niệm hợp đồng vay tài sản ở phƣơng diện chủ quan.
Hợp đồng vay tài sản trƣớc hết là một giao dịch dân sự, vì vậy khi giao
kết bất cứ một hợp đồng dân sự nào, các bên đều phải tuân thủ nguyên tắc cơ
bản của quan hệ dân sự, đó là nguyên tắc “tự nguyện cam kết, thỏa thuận"
(Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005) và tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của
một giao dịch dân sự nói chung đƣợc quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005.
Xuất phát từ nguyên tắc này mà khái niệm hợp đồng vay tài sản đƣợc hình
thành trên cơ sở của “sự thỏa thuận”. Thỏa thuận ở đây là sự thỏa thuận giữa
các chủ thể trong hợp đồng, đó là bên vay và bên cho vay. Hợp đồng có đƣợc
xác lập hay không là do sự thỏa thuận giữa các bên, tức phải có sự thống nhất
ý chí giữa các bên trong việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và
nghĩa vụ nhất định. Bởi vì ý chí là khả năng tự xác định mục đích cho hành
động và hƣớng hoạt động của mình tới việc đạt đƣợc mục đích đó. Tuy nhiên,
sự thỏa thuận phải nằm trong hành lang quy định của pháp luật và chuẩn mực
xã hội. Nội dung của sự thỏa thuận không đƣợc trái pháp luật và đạo đức xã
hội. Ngoài ra, sự thỏa thuận còn phải đƣợc hình thành trên cơ sở của sự tự
nguyện. Nếu một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, ép buộc khi giao kết hợp
đồng thì hợp đồng đó sẽ không đƣợc Nhà nƣớc công nhận và bảo hộ, giao

trong hợp đồng vay tài sản phải đƣợc bắt đầu từ khi hợp đồng có hiệu lực.
Theo Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Hợp đồng đƣợc giao kết
hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trƣờng hợp có thỏa thuận khác
hoặc pháp luật có quy định khác" [5]. Nhƣ vậy từ thời điểm hợp đồng giao
kết đã phát sinh hiệu lực của hợp đồng vay tài sản, và từ thời điểm này nếu
12

bên cho vay không thực hiện nghĩa vụ giao tiền hoặc vật cùng loại thì bên
vay có quyền kiện dƣới góc độ là vi phạm nghĩa vụ đƣợc cam kết trong hợp
đồng vay tài sản. Do vậy, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ƣng thuận.
Thứ hai, hợp đồng vay tài sản là một hợp đồng đơn vụ.
Dựa vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng
mà hợp đồng đƣợc chia thành hai loại là hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn
vụ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: "Hợp
đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau"[5].
Nghĩa là trong quan hệ này mỗi bên đều có quyền và đồng thời có nghĩa vụ
đối với bên còn lại. Còn theo quy định tại khoản 2 Điều 406 Bộ luật Dân sự
năm 2005 thì: "Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa
vụ"[5]. Tức là trong quan hệ này một bên chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ
và một bên có nghĩa vụ mà không có quyền.
Trong quan hệ này, một bên chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ, còn
bên có nghĩa vụ mà không có quyền. Có ý kiến cho rằng, nếu dựa vào mối
quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của bên cho vay và bên vay thì hợp đồng vay
là hợp đồng song vụ, quyền của bên vay tƣơng ứng với nghĩa vụ của bên cho
vay và ngƣợc lại, hoặc có thể là đơn vụ khi một bên trong hợp đồng chỉ có
nghĩa vụ mà không có quyền với bên kia. Có những hợp đồng mà thực chất
hai bên đều phải thực hiện cho nhau một lợi ích vật chất nhƣng vẫn đƣợc coi
là hợp đồng đơn vụ. Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng nhƣ thế [18].
Xét về nguyên tắc, hợp đồng vay tài sản là đơn vụ đối với những
trƣờng hợp vay không lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay hoàn

Khi hết hạn, bên mƣợn, bên thuê phải trả đúng tài sản đã mƣợn, thuê cho bên
cho mƣợn, bên cho thuê tài sản. Còn trong hợp đồng vay tài sản, "bên vay trở
thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó" (Điều 472 Bộ
14

luật Dân sự năm 2005) [5]. Bên vay có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản vay. Hết thời hạn vay, bên vay chỉ cần trả cho bên cho vay tài sản
cùng loại theo đúng số lƣợng, chất lƣợng, mà không phải trả lại đúng tài sản
đã vay.
Nhƣ vậy, hợp đồng vay tài sản là một dạng của hợp đồng dân sự, nó
mang đầy đủ những đặc điểm của hợp đồng dân sự nói chung và còn có
những đặc điểm riêng, đó là tính ƣng thuận, tính đơn vụ, tính đền bù hoặc
không đền bù và là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản. Đây
là những đặc điểm riêng biệt giúp ta phân biệt hợp đồng vay tài sản với
những hợp đồng dân sự khác.
1.1.3. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản
Cũng nhƣ hợp đồng dân sự, hợp đồng vay tài sản muốn có hiệu lực
pháp luật thì phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
dân sự. Căn cứ vào quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và
các quy định có liên quan, có thể xác định một hợp đồng vay tài sản có hiệu
lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng vay tài sản phải có năng lực giao kết.
Năng lực chủ thể của hợp đồng vay tài sản phải thỏa mãn đầy đủ về độ
tuổi và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật. Hành vi giao kết hợp đồng
sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên, do vậy để hợp đồng có
hiệu lực pháp lý và có khả năng thực hiện, ngƣời giao kết hợp đồng phải có khả
năng nhận thức hành vi giao kết hợp đồng cũng nhƣ hậu quả của việc giao kết
hợp đồng. Đối với cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền.
Thứ hai, phải có sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa bên vay và bên
cho vay.

bản đối với những hợp đồng có giá trị tài sản tƣơng đối lớn.
16

1.2. CHỦ THỂ, HÌNH THỨC, ĐỐI TƢỢNG, THỜI HẠN, LÃI SUẤT
TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
1.2.1. Chủ thể của hợp đồng vay tài sản
Chủ thể trong hợp đồng vay tài sản là những cá nhân, tổ chức có đầy
đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật. Chủ
thể trong quan hệ hợp đồng vay tài sản bao gồm:
Cá nhân
Đây là chủ thể nguyên sinh, đầu tiên và phổ biến nhất của các quan hệ
dân sự nói chung và quan hệ vay tài sản nói riêng, các chủ thể khác khi tham
gia vào quan hệ dân sự cũng đều phải thông qua hành vi của con ngƣời cụ
thể. Vì vậy, để tham gia vào quan hệ vay tài sản, cá nhân phải có tƣ cách chủ
thể, tức là năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định pháp luật.
Theo quy định tại Điều 14 Bộ luật dân sự 2005:
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của
cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.
2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự nhƣ nhau.
3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi ngƣời
đó sinh ra và chấm dứt khi ngƣời đó chết [5].
Nhƣ vậy, năng lực pháp luật của mọi cá nhân là nhƣ nhau, không bị
hạn chế bởi bất cứ lý do gì, mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật.
Tuy nhiên, để cá nhân có tƣ cách đầy đủ tham gia giao kết dân sự nói
chung thì cá nhân phải thỏa mãn điều kiện về năng lực hành vi dân sự quy
định tại Điều 17 Bộ luật Dân sự 2005. Điều 17 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy
định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng
hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự” [5]. Nhƣ vậy,
năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân là không giống nhau, mỗi cá nhân
có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi khác nhau. Pháp luật quy định


cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền. Đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân có
thể là một thành viên bất kỳ của pháp nhân hay một cá nhân bất kỳ có đầy đủ
năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định cuả pháp
luật, trên cơ sở một văn bản ủy quyền. Việc ủy quyền chỉ có giá trị pháp lý
khi ngƣời đƣợc uỷ quyền thực hiện đúng nội dung công việc ủy quyền và
trong thời hạn đƣợc ủy quyền.
Hiện nay, loại hình pháp nhân phổ biến tham gia vào các quan hệ vay
tài sản là các tổ chức kinh tế, trong đó phải kể đến là các tổ chức tín dụng.
Theo quy định tại Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín
dụng bao gồm Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng
tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” [7], trong đó Ngân hàng là tổ chức
tín dụng phổ biến và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động tín dụng.
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả
các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục
tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thƣơng mại, ngân
hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” [7]. Là một trong những đại diện tiêu
biểu cho pháp nhân trong quan hệ hợp đồng nói chung và hợp đồng vay tài
sản nói riêng, hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết
nền kinh tế của đất nƣớc. Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng vay tài sản,
Ngân hàng với tƣ cách là trung tâm kinh doanh tiền tệ vừa là ngƣời đi vay và
cũng vừa là ngƣời cho vay. Ngân hàng có quyền cho các tổ chức, các nhân
vay để hoạt động sản xuất, kinh doanh với lãi suất nhất định, đồng thời cũng
đƣợc phép huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân dƣới hình thức gửi
tiết kiệm có lãi suất theo Nhà nƣớc quy định để kinh doanh. Việc cho ngân
hàng vay và vay của ngân hàng có những điểm khác biệt cơ bản nhƣ:
Về trách nhiệm thanh toán nợ, cho ngân hàng vay thì chủ thể cho vay
có quyền đòi bất cứ lúc nào không cần phải hết thời hạn cho vay, còn vay của

Trích đoạn Hình thức của hợp đồng vay tài sản Nhận xét chung Nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status